HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC
THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Toàn bộ những thành tựu của công cuộc đổi mới cũng như những vấn đề
nảy sinh đều có quan hệ trực tiếp đến hoạt động quản lý của Nhà nước. Bởi
lẽ, trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng lãnh đạo thông qua Nhà
nước, nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội cũng chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một bộ phận cốt yếu của hệ thống chính trị xã
hội chủ nghĩa, thể hiện tập trung nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đất
nước phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa hay chệch hướng xã hội
chủ nghĩa ở mức độ nào đó thì sau sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
hoạt động quản lý của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ý
nghĩa quyết định trực tiếp. Do đó, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong
hoạt động quản lý của Nhà nước ta là nhân tố cơ bản, có ý nghĩa quyết định
trực tiếp để đảm bảo cho đất nước ta phát triển đúng định hướng xã hội chủ
nghĩa. Bởi vậy, định hướng xã hội chủ nghĩa trong hoạt động quản lý của Nhà
nước đòi hỏi phải nắm bắt được những vấn đề sống động trong thực tế quản
lý của Nhà nước về: chính trị, kinh, tế, xã hội, văn hoá…đồng thời còn phải
tiếp tục có những nhận thức mới, đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội, về định
hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh thế giới nhiều biến động đầu thế kỷ
XXI.
NỘI DUNG
Quản lý xã hội theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của bộ máy
Nhà nước bao gồm: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý
1
Nhà nước là hoạt động quản lý của bộ máy hành pháp. Dù ở phạm vi nào thì
hoạt động quản lý Nhà nước cũng mang tính chất chính trị và gắn với quyền
lực Nhà nước trên cả ba phương diện: lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng
thời nó cũng có tính chất nghiệp vụ - kỹ thuật tổ chức và quản lý hành chính.
hướng hoạt động trọng tâm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nhưng như thế không có nghĩa là Nhà nước là một thể chế chính trị tối
cao của xã hội. Một đặc diểm nổi bật và cơ bản của quá trình phát triển theo
định hướng xã hội chủ nghĩa là làm cho Nhà nước vốn là thể chế chính trị tối
cao của xã hội thành một thể chế hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội. Cơ chế
Đảng lãnh đạo Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là thể chế xã hội then
chốt để Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Sự thống nhất ba
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo nguyên tắc tập chung dân chủ
trong hoạt động tổ chức của Nhà nước và cơ bản là chế độ sở hữu công cộng
tư liệu sản xuất chủ yếu bảo đảm để Đảng có thể lãnh đạo một cách thống
nhất hệ thống quyền lực Nhà nước, từ việc hoạch định đường lối, chính sách,
xây dựng luật pháp cho đến điều phối và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các
mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại. Cũng
trên cơ sở đó, nhân dân mà chủ yếu là công nhân, nông dân và trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng có thể tham gia vào các công việc Nhà nước bằng các hình
thức dân chủ, đại diện hay trực tiếp, bằng các hình thức quản lý hành chính
Nhà nước hay các hình thức quản lý xã hội thông thường. Nhân dân thực hiện
quyền làm chủ bằng những hoạt động kiểm tra, giám sát và nhân dân cũng hỗ
trợ cho hoạt động quản lý của Nhà nước.
3
Quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam của dân, do dân và vì dân thông
qua sự đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân ngày nay không tách rời mà hướng vào việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Trong Nhà nước pháp quyền không chỉ nhân dân mà
cảc bộ máy Nhà nước, bộ máy Đảng, các tổ chức xã hội cũng đều phải tuân
thủ hiến pháp, pháp luật, nếu ngược lại, thì quyền dân chủ của nhân dân bị vi
phạm, Đảng khó có thể thực hiện được sự lãnh đạo của mình và Nhà nước
cũng khó có thể thực hiện được chức năng quản lý của mình. Không ai, không
tổ chức nào đứng ngoài pháp luật, hoặc đứng trên pháp luật. Đó là một mặt
của vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong hiến pháp năm 1992 đã quy định, phải tăng cường pháp chế để
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này đòi hỏi phải xây
dựng và hoàn chỉnh cả ba mặt: nội dung hình thức và cơ cấu của hệ thống
pháp luật. Đồng thời phải tổ chức thực hiện đúng đắn, nghiêm chỉnh các quy
phạm pháp luật của các tổ chức và công dân trong toàn xã hội. Toàn bộ quá
trình xây dựng pháp luật và pháp chế không đi chệch ý chí của nhân dân lao
động, trong đó cơ bản là ý chí của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức. Ý chí đó thể hiện tập trung và sáng rõ nhất trong cương lĩnh,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Như vậy, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân do dân và
vì dân phải chịu chế ước về chính trị, cụ thể là dân chủ chính trị của giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, của tất cả những người lao
động và sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quyền làm chủ
của nhân dân lao động và sự lãnh đạo của Đảng tất nhiên gắn liền với nghĩa
vụ tuân thủ và thực hiện hiến pháp, pháp luật. Dân chủ chính trị và sự lãnh
5
đạo chính trị của Đảng đảm bảo môi trường và định hướng trị cho Nhà nước
pháp quyền, nhất là trong giai đoạn khởi đầu xây dựng nền pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Nội dung chính trị của định hướng xã hội chủ nghĩa chính là thực hiện
và bảo đảo quyền lực chính trị, trong đó cơ bản là quyền lực Nhà nước, quyền
lực này là sự thể hiện tập trung và cơ bản quyền lãnh đạo của Đảng và quyền
làm chủ của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Sự chế ước về
mặt chính trị của định hướng xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động quản lý của
Nhà nước là nhằm khẳng định và đảm bảo quyền lược chính trị của Đảng, của
giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động.
Xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa
Nội dung cơ bản và trước tiên của định hướng xã hội chủ nghĩa là quyền
lực Nhà nước nói riêng và quyền lực chính trị nói chung phải thuộc về nhân
dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng đó chỉ
Tính chất xã hội chủ nghĩa trong quan hệ sản xuất mới phải được thể
hiện ở vai trò chủ đạo của sở hữu công cộng hay sở hữu xã hội, trong đó cơ
bản là sở hữu Nhà nước; ở tổ chức quản lý vĩ mô của nền kinh tế bởi Nhà
nước xã hội chủ nghĩa và sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của đa số
người lao động vào quá trình tổ chức, quản lý sản xuất kinh tế, nhất là ở cơ
sở; ở quan hệ phân phối theo lao động và phúc lợi xã hội, đóng vai trò chủ
đạo trong xã hội, nhân dân lao động ngày càng được làm chủ nhiều hơn về
kinh tế.
Hiện nay, khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân và khu vực
kinh tế nước ngoài sẽ còn đóng vai trò lớn trong tương quan các thành phần
7
kinh tế. Giá trị đóng góp vào GDP của các khu vực này sẽ lớn hơn và cùng
với việc thu hút được việc làm trong xã hội, chúng sẽ gây áp lực lớn vào đời
sống chính trị, xã hội…của đất nước. Do đó, quá trình xây dựng quan hệ sản
xuất mới xã hội chủ nghĩa sẽ ngày càng khó khăn hơn, phức tạp hơn.
Trong tình hình như vậy, yêu cầu chính trị đối với quản lý Nhà nước là
ngay từ đầu và trong suốt giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với
việc tăng cường đầu tư của khu vực tư nhân, khu vực kinh tế nước ngoài, Nhà
nước phải phát triển mạnh mẽ kinh tế cổ phần ở ngay trong khu vực này đồng
thời thúc đẩy sự phát triển của kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác và kinh tế tư
bản Nhà nước. Quản lý Nhà nước đối với các hình thức khác nhau của quan
hệ sở hữu, đối với các hình thức đa dạng của tổ chức, quản lý và phân phối, rõ
ràng là không đơn giản. Hơn thế nữa, cần phải giữ vững định hướng chính trị,
đẩy mạnh các hình thức kinh tế cổ phần và chuyển hoá chúng sang con đường
xã hội chủ nghĩa trên cả ba phương diện: sở hữu, quản lý, phân phối. Yêu cầu
này không chỉ dừng lại ở việc khẳng định quyền lực chính trị, mà chủ yếu ở
việc xác lập các tính chất và nội dung xã hội chủ nghĩa trong quan hệ sản xuất
cũng như lực lượng sản xuất của xã hội, v. v
Về quan hệ giữa các giai tầng xã hội
Trong điều kiện phân hóa, phân tầng xã hội do tác động của kinh tế thị
nghĩa, đầu độc đến tinh thần và tình cảm của con người Việt Nam ta. Những
hoạt động lợi dụng tự do tín ngưỡng- tôn giáo của một số phần tử phản động.
Tệ nạn xã hội và tội phạm xã hội gia tăng nhiều như ma tuý, mại dâm, buôn
bán phụ nữ và trẻ em…
9
Do nhiều nguyên nhân, ở một số tỉnh thành phố đã phát sinh “điểm
nóng” và nhiều vụ kiện tụng đông người. Những vấn đề trên, phản ánh mức
độ phức tạp của các quan hệ xã hội giữa các giai tầng xã hội cùng với quá
trình phát triển của kinh tế thị trường. Hiện nay, quá trình cổ phần hoá, phát
triển của kinh tế trang trại và phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở mức độ
khác nhau đã và đang dẫn đến quá trình tập trung và tích tụ tư liệu sản xuất.
Về mặt kinh tế, đó là quá trình tập trung và tích tụ sản xuất đồng thời qua đó
thúc đẩy phân công và hợp tác lao động. Song, về mặt xã hội không tránh
khỏi tình trạng tăng số lượng người làm công, làm thuê ở đô thị và nông thôn.
Xu hướng tích tụ, tập trung ruộng đất vào những hộ làm ăn giỏi, đồng
thời số hộ không có đất hoặc ít đất chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp
hoặc làm công, làm thuê, kể cả làm thuê trong nông nghiệp đang là một thực
tế tại nhiều địa phương trong nước.
Do đó, trong quá trình điều hòa quan hệ xã hội giữa các giai tầng xã
hội, công tác quản lý Nhà nước cần phải thực hiện được nhiệm vụ chính trị
- xã hội rất quan trọng là: củng cố khối liên minh công - nông - trí thức,
trên cơ sở đó củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân, để đảm bảo
nền tảng xã hội - giai cấp vững chắc của sự phát triển đất nước đúng định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Về sự tham gia của nhân dân lao động vào các công việc của Nhà nước
Trong quá trình đổi mới, nhân dân có nhiều điều kiện tham gia vào các
công việc Nhà nước bằng các hình thức dân chủ đại diện trong bầu cử, ứng
cử. Hoạt động của các cơ quan dân cử và các tổ chức chính trị - xã hội đã lôi
cuốn sự tích cực của đông đảo của nhân dân. Bước đầu nhân dân thực hiện
quyền dân chủ trực tiếp ở cơ sở như trực tiếp bầu trưởng thôn, trực tiếp tham
quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Để nhân dân lao động, trước hết là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân
và tầng lớp trí thức tham gia ngày càng tích cực hơn vào việc bảo vệ, giữ
vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng Nhà nước thực sự của
dân, do dân và vì dân đòi hỏi quản lý Nhà nước phải đảm bảo và phát huy
được quyền làm chủ của quảng đại nhân dân.
12
Đổi mới quản lý Nhà nước
Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VII) năm 1995 xác định ba yêu cầu đối
với quản lý Nhà nước là: “Phục vụ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; Phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bài trừ
quan liêu, tham nhũng; nâng cao chất lượng năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản
lý của Nhà nước”
1
.
Nội dung của định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ đặt ra yêu cầu
chính trị, mà cả các yêu cầu kinh tế, pháp quyền…đối với quản lý Nhà nước.
Nhưng dù mức độ thế nào thì bản chất của quản lý Nhà nước trước sau vẫn là
phục vụ chính trị; bảo đảm định hướng chính trị của quá trình phát triển theo
con đường xã hội chủ nghĩa. Nếu làm sai lệch sẽ làm lu mơ bản chất đó, sẽ
tạo ra nguy cơ “chệch hướng” trong quản lý Nhà nước, ở đây đòi hỏi sự lãnh
đạo của Đảng, sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội và xây
dựng một Nhà nước mạnh của dân, do dân và vì dân. Quản lý Nhà nước còn
có sự đòi hỏi phải nắm vững nghệ thuật chính trị và khoa học chính trị; đó là
phải xây dựng được văn hoá chính trị tương ứng với yêu cầu ngày càng cao
của quá trình xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Những yêu cầu mới của quản lý Nhà nước, xuất hiện từ yêu cầu của
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ những yếu kém, thiếu sót trong
công tác quản lý Nhà nước đồng thời chúng cũng nảy sinh trong bối cảnh mới
của tình hình trong nước và quốc tế. Từ Đại hội VIII (1996) Đảng ta đã khẳng
Từ pháp luật, cơ chế, chính sách đến tổ chức và hoạt động Nhà nước
đều quán triệt hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, tức là chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của đảng, của
giai cấp công nhân, nhằm xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và
bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc trong quá trình hội nhập với thế giới dưới
tác động của toàn cầu hóa.
Nhà nước được xây dựng trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
14
Do lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là thống
nhất nên bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước đồng thời cũng thể hiện ở
sự gắn bó chặt chẽ với tính nhân dân, tính dân tộc. Tính nhân dân của Nhà
nước ta thể hiện ở chỗ: chính quyền Nhà nước và quyền lực nói chung đều
thuộc về nhân lao động, Nhà nước phải đại biểu cho lợi ích, cho ý chí của
nhân dân lao động. Nhà nước chịu sự kiểm soát của nhân dân, hoạt động
công khai và nhân dân dễ dàng gần gũi với các hoạt động của Nhà nước.
Tính dân tộc của Nhà nước ta thể hiện ở chỗ: trong tổ chức và hoạt động,
Nhà nước kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc tốt đẹp
của dân tộc và con người Việt Nam. Nhà nước có chính sách dân tộc đúng
đắn, chăm lo lợi ích mọi mặt cho sự phát triển của các dân tộc trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, giữ vững quan
điểm của Đảng về độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong quan hệ đối ngoại,
thực hiện chiến lược là bạn với nhân dân tất cả các nước mà hạt nhân là thực
hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Hai là, xây dựng Nhà nước là Nhà nước dân chủ “bao nhiêu lợi ích đều
vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là
trách nhiệm của dân…Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
3
Quan điểm này thể hiện ở những điểm sau:
Chủ thể của Nhà nước là nhân dân lao động. Nhà nước được xây dựng
lợi ích, tự do của người khác và của cộng đồng trong khuôn khổ pháp luật.
Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thì các quan hệ dân chủ không
chỉ có trong chế độ Nhà nước, mà còn có trong đời sống xã hội của con
người, trong các quan hệ xã hội, trong gia đình, trong các tổ chức và đoàn thể
xã hội. Dân chủ là phương thức tồn tại và vận hành của xã hội hiện đại, trong
đó dân chủ chính trị - tức chế độ Nhà nước theo C.Mác: “…chỉ là nội dung
đặc thù của nhân dân, chỉ là hình thức tồn tại đặc biệt của nhân dân thôi”.
5
Bản chất dân chủ của xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa, phải được thấm
sâu trong tất cả các lĩnh vực quan hệ giữa người với người, để từng bước
5
C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1 tr.351.
16
hướng tới một xã hội, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện
cho sự phát triển tự do của tất cả các thành viên xã hội. Dân chủ là phương
thức tồn tại tốt nhất để giải quyết các vấn đề xã hội theo nguyên tắc: thiểu số
phục tùng đa số, đồng thời vẫn thừa nhận quyền của thiểu số.
Ba là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước pháp quyền không phải là sản phẩm riêng của nền dân chủ tư
sản. Dưới chủ nghĩa xã hội quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. do đó, để
đảm bảo hoạt động của Nhà nước không vượt khỏi thẩm quyền nhân dân giao
phó cần phải xây dựng bộ máy Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật. Ngay quyền lực của nhân dân cũng không chỉ dừng ở những quan điểm,
ý chí và lợi ích chung mà phải được thể chế hoá bằng pháp luật trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội ( như: chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phòng…), để đảm bảo quyền đi đôi với nghĩa vụ, ý thức dân chủ và phong
trào tự do - dân chủ diễn ra phù hợp với khung pháp chế chung của xã hội.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để đảm bảo pháp chế
hóa sự thống nhất quyền lực, đồng thời bảo đảm đảm sự phân công, phối hợp
theo chức năng giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
đường lối, chính sách cho đến lãnh đạo việc thực thi pháp luật, bảo đảm
quyền dân chủ của nhân dân…cần được thể chế hoá để lãnh đạo Nhà nước
pháp quyền có hiệu lực và hiệu quả.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thì bản thân Đảng
phải tăng cường đổi mới, chỉnh đốn Đảng để Đảng trong sạch vững mạnh,
ngang tầm yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Đảng phải
vững thì mới xây dựng được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân; và nhân dân mới được đảm bảo các quyền dân chủ cũng
18
như phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. “Tiếp tục đẩy
mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo
đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng
lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giải quyết đúng
mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với
nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước
theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương. Nhà
nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi
người dân. Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể
để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên
tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát
giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp.Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn
thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế
và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.”.
66