Quan điểm của đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay - Pdf 45

MỤC LỤC
TÊN

TRANG

1. Lời mở đầu

2

2. Chủ trương của Đảng về xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

3

3. Quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

6

4. Thực trạng của Đảng về xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

9

5. Kết luận

14

LỜI MỞ ĐẦU
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội lần VI của Đảng

Phần Nội Dung
I. Chủ trương của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay :
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước đột phá
trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng
trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói
riêng.
Khi chủ nghĩa xã hội bước vào cải tổ, cải cách, đổi mới, một số nhà lý
luận, chính trị gia xã hội chủ nghĩa đã đề xuất xây dựng mô hình nhà nước
pháp quyền. Đề xuất này đã làm nảy sinh những ý kiến chỉ trích, phản ứng
từ không ít người. Khi đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản,
một số người đã cho rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền là từ bỏ chủ
nghĩa xã hội. Cũng có người đặt vấn đề, khi đề cập tới nhà nước kiểu mới,
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin không hề nói tới nhà nước
pháp quyền và do vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền trong chủ nghĩa xã
hội là không theo quan điểm của các nhà kinh điển, v.v.. Sự xuất hiện những
ý kiến như vậy trong giai đoạn đầu cải tổ, cải cách, đổi mới ở các nước xã
hội chủ nghĩa cũng là điều dễ hiểu.
Một mặt, vấn đề nhà nước pháp quyền tuy không phải là mới, nhưng
phải nói rằng, trước đây, ở các nước xã hội chủ nghĩa, vấn đề này chưa được
quan tâm nghiên cứu một cách đúng mức. Sự chuẩn bị về mặt lý luận để xây


dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới chỉ là bước đầu, chưa có sự
chín muồi cần thiết, những ý kiến đề xuất mô hình nhà nước pháp quyền vẫn
chỉ trên sách báo. Mặt khác, đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị đòi hỏi
cũng phải có thời gian. Bởi lẽ, đây là lĩnh vực không chỉ mang tính “nhạy
cảm cao”, mà còn là lĩnh vực mà sự thay đổi không phải “một sớm một
chiều”. Đó là chưa nói đến tư duy giáo điều còn ảnh hưởng không nhỏ đối

dân, Hồ Chí Minh khẳng định, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Người
viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của
nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ”. Tư tưởng


nhà nước pháp quyền của Người còn thể hiện trong quyết tâm xây dựng nhà
nước hợp hiến, hợp pháp ngay trong tình thế cách mạng đang “nghìn cân
treo sợi tóc”. Chỉ một ngày sau khi đọc “Tuyên ngôn độc lập”, trong phiên
họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ
lâm thời xác lập nền tảng dân chủ và pháp quyền cho chế độ nhà nước cách
mạng, đó là tổ chức Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp dân chủ.
Tuy nhiên, có thể nói, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, như chiến
tranh, nội chiến, quan niệm về chủ nghĩa xã hội một cách giản đơn và có
phần cực đoan khi đối lập một cách trừu tượng nhà nước tư sản với nhà nước
xã hội chủ nghĩa, đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản, coi
mô hình nhà nước pháp quyền là mang tính tư sản…, nên ở nhiều nước xã
hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta, việc nghiên cứu và vận dụng một cách có
ý thức (chủ động, tự giác) mô hình nhà nước pháp quyền có nhiều hạn chế,
nếu không muốn nói là có thời kỳ bị lãng quên. Đó là một trong những
nguyên nhân khiến dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa trở thành “có vấn
đề”. Dân chủ mang nặng tính hình thức; tình trạng độc đoán, chuyên quyền,
quan liêu có xu hướng phát triển đã làm suy yếu nhà nước. Tổ chức bộ máy
cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Nhà nước quản lý, điều hành
xã hội chủ yếu bằng mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, bằng đạo lý, trong khi
pháp luật thì bị coi nhẹ.
Chính vì vậy,vấn đề dân chủ đã được đặt ra một cách bức bách ở các nước
xã hội chủ nghĩa nói chung, ở nước ta nói riêng. Trong quá trình đổi mới tư
duy về chính trị, về chủ nghĩa xã hội, nhận thức về nhà nước pháp quyền
của Đảng ta ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng và cụ thể hơn; quyết tâm chính
trị là xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nhà nước pháp

cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp
chế”. Trong Văn kiện Đại hội X, khi tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi
mới, Đảng ta không những tiếp tục khẳng định chủ trương xây dựng Nhà
nước pháp quyền, mà còn ghi nhận điều chúng ta “có Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản” là một đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta
đang xây dựng.

II. Quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay
Đảng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là
một trong những điều kiện và môi trường tiên quyết của một quốc gia tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và một xã hội phát triển tiên tiến.
Nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là khẳng định cội nguồn
quyền lực nhà nước là ở nhân dân. Để bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân chứ không phải nhân dân là
của nhà nước, Nhà nước pháp quyền đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ
chức và hoạt động của nhà nước, nhà nước chỉ được làm những điều pháp
luật cho phép, còn nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không
cấm, pháp luật bảo đảm cho sự phát triển tự do tối đa của nhân dân. Vai trò
của pháp luật trong việc xây dựng và duy trì một xã hội trật tự ổn định, trong


đó không chỉ mỗi công dân, mỗi cá nhân, mà bản thân nhà nước và những
người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật đã được khẳng
định. Hai mặt dân chủ và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền gắn bó hữu
cơ, làm tiền đề tồn tại cho nhau và tạo nên bản chất của Nhà nước pháp
quyền trong lịch sử nhân loại. C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin đánh giá
cao giá trị nhân văn của học thuyết Nhà nước pháp quyền mà cách mạng tư
sản đã cống hiến cho nhân loại. Ở nước ta để bảo đảm phát huy sức mạnh

(kể cả tổ chức đảng), hoạt động phải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp
luật, chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình.


Vì vậy, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có quan hệ
khăng khít với xây dựng xã hội công dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, là cách thức cơ bản để phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, huy động nội lực của toàn thể nhân dân, của tất
cả các thành phần kinh tế vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà
nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xã
hội công dân là bộ ba hợp thành không thể tách rời, là điều kiện và tiền đề
cho nhau, là bảo đảm và kết quả của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ 2 - Hiến pháp và pháp luật nước ta ghi nhận quyền của công dân
tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề
chung của cả nước và địa phương, kiến nghị, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu
của mình với các cơ quan nhà nước. Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí, quyền khiếu nại, tố cáo, v.v.. Các quyền và sự tự do đó trong
nhiều trường hợp là điều kiện để nhân dân kiểm tra hoạt động của Nhà nước,
nhưng trước hết đó là một trong những phương thức quan trọng để thực hiện
dân chủ. Vì vậy, cần chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền
con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đổi mới cơ chế, xác định
trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, công chức trong việc giải
quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân.Quyền lực nhà nước ở nước ta
là quyền lực nhà nước thống nhất. Sự thống nhất đó là ở mục tiêu chung
phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc. Xét theo cơ chế tổ
chức thì quyền lực nhà nước tối cao, tức là những chức năng và thẩm quyền
cao nhất thuộc về những cơ quan đại diện cho nhân dân.
Ở nước ta, đó là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội có

Thực trạng của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Khẳng định xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Nhà
nước pháp quyền là một bước đột phá trong tư duy và thực tiễn xây
dựng Nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta. Đó là cơ sở chính trị cho
việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu về nhà nước pháp quyền, đổi mới một
cách căn bản, có hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước
ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là ngày một,
ngày hai chúng ta có thể xác lập ngay được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Trong lý luận và cả trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở
nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết.
Đó là:
1) Vấn đề thiết kế mô hình cụ thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Mô hình nhà nước pháp quyền đã được nhân loại thử nghiệm, chọn lọc
qua nhiều thế kỷ và đang trở thành hình thức phổ biến trong thế giới đương
đại. Tuy nhiên, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam không có nghĩa là
“bê nguyên” những hình thức ấy. Ở mỗi quốc gia, nhà nước pháp quyền
cũng có những nét độc đáo riêng, tuỳ thuộc vào các đặc điểm, truyền thống
dân tộc cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá. Hơn nữa,
Nhà nước pháp quyền mà nhân dân ta đang xây dựng là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đó, về bản chất, là đối lập với nhà nước
pháp quyền tư sản. Do vậy, về nội dung pháp luật, về bản chất của pháp luật
chắc chắn cũng khác với nhà nước pháp quyền tư sản. Còn về hình thức có
thể có những nét tương đồng mà qua nghiên cứu, chọn lọc, cải biến, chúng
ta có thể kế thừa mặt này, mặt kia của mô hình này hay mô hình khác. Tuy


nhiên, đây cũng không phải là điều đơn giản, thậm chí còn là khá phức tạp
và rất nhạy cảm về chính trị. Chẳng hạn, việc có vận dụng hay không vận

với các cơ quan nhà nước khác, v.v.. Xét về mặt lý thuyết, Quốc hội ta là
quốc hội quốc dân, đại biểu cho cử tri, cho nhân dân cả nước. Chức năng đại
diện của Quốc hội ta vẫn thiên về đại biểu cho các địa phương, đại diện cho
cử tri ở đơn vị bầu cử, chứ chưa hẳn là cử tri cả nước. Điều này có liên quan
đến tổ chức bầu cử (bầu cử gắn với địa phương, và do vậy, cách giải quyết
như thế nào vẫn là vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu) Quốc hội mang tính
nghiệp dư hay tính chuyên nghiệp hoá? Xung quanh vấn đề này hiện vẫn
còn có những ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, nếu Quốc hội hoạt động


thường xuyên, mang tính chuyên nghiệp hoá thì các đại biểu mất đi mối liên
hệ trực tiếp với cử tri, với cơ sở. Dĩ nhiên, Quốc hội hoạt động thường
xuyên, mang tính chuyên nghiệp hoá sẽ xuất hiện những trở ngại đó, nhưng
không phải không có cách giải quyết, khắc phục. Và lại, theo kinh nghiệm
của nhiều nước cũng như yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, chỉ có Quốc
hội hoạt động thường xuyên mới hoàn thành được chức năng lập pháp, mới
có đủ khả năng thay đổi, bổ sung luật, đạo luật theo kịp với yêu cầu của cuộc
sống, đó là điều cần suy nghĩ. Chuyên nghiệp hoá Quốc hội cũng là hướng
cần thiết. Đó là chưa nói đến chuyện họ phải là những người lập pháp thành
thạo, có chuyên môn sâu, hay ít nhất cũng phải có năng lực thẩm định, phản
biện, chất vấn. Vấn đề tỷ lệ đại biểu chuyên trách đã được đặt ra trong
những khoá gần đây (hiện nay tỷ lệ đó vào khoảng 30%). Đó là hướng đi
đúng, nhưng đủ chưa. Ở đây, còn phải tính đến tỷ lệ đại biểu được tái cử và
không được tái cử.
Như vậy, chỉ xoay quanh việc cải cách Quốc hội theo hướng xây dựng
Nhà nước pháp quyền cũng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề còn phải tiếp tục
nghiên cứu, thử nghiệm, thực hiện. Chính vì vậy mà cho đến nay, Đại hội X
của Đảng vẫn khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt
động của Quốc hội”.
2) Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước.

trước đây, Quốc hội chủ yếu làm chức năng “hợp thức hoá” các văn kiện,
nghị quyết của Đảng thành quy phạm, mệnh lệnh của Nhà nước, thì hiện
nay, Đảng đã dành một không gian lớn hơn cho Quốc hội. Nhiều vấn đề,
Đảng không cho quyết định trước mà chỉ cho phương hướng để Quốc hội
giải quyết, có những vấn đề Bộ Chính trị cũng phải thay đổi khi Quốc hội có
quyết định khác. Quốc hội càng ngày càng có thực quyền hơn. Tuy nhiên,
đến Đại hội X, Đảng vẫn cho rằng, “việc đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng còn chậm, chưa đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị, đổi mới kinh tế”. Vì vậy, nhiệm vụ đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước vẫn được tiếp tục đặt ra. Nói về nhiệm
vụ đó, Văn kiện Đại hội X nhấn mạnh: “Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện
hệ thống văn bản quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng
lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp
và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước”.
3) Vấn đề tạo lập những điều kiện, cơ sở cho việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
nhưng những điều kiện cho việc xây dựng đó còn có những hạn chế nhất
định. Trước hết, đó là việc chuẩn bị về mặt lý luận. Phải nói rằng, trong
những năm đổi mới, chúng ta đã có những bước khởi động và tập trung
nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết từng vấn đề, từng khía cạnh cụ thể lý luận
Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiết kế mô hình cụ thể
chưa thực sự thật chín muồi, không ít vấn đề còn phải được nghiên cứu, trao
đổi, tranh luận trên các diễn đàn, các trang sách báo. Liên quan đến lý luận
nhà nước pháp quyền còn phải nói đến một số lý luận khác, như xã hội công
dân, kinh tế thị trường. Những vấn đề này, cũng có thể nói, chưa được
nghiên cứu đủ tầm cả về bề rộng lẫn chiều sâu; hơn nữa, vẫn còn có những
quan niệm chưa thống nhất, nhất là về xã hội công dân. Nhà nước pháp
quyền được xây dựng trên cơ sở xã hội công dân. Đến lượt mình, xã hội
công dân chỉ có thể được hoàn thiện và phát triển thuận lợi trên cơ sở nhà

mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội,.. Đổi mới hơn nữa quy trình xây
dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh”. Nói đến ý thức pháp luật
còn phải nói đến trình độ am hiểu pháp luật của nhân dân. Không am hiểu
luật, không thể có ý thức pháp luật cao.Nói đến trình độ dân trí còn phải nói
đến đòi hỏi dân chủ của nhân dân. Đòi hỏi dân chủ của nhân dân ta đã cao
chưa? Đây là một câu hỏi cần phải được đặt ra. Không có đòi hỏi dân chủ
cao từ phía nhân dân, từ cuộc sống không thể xây dựng chế độ dân chủ cao
được. Nhân dân ta phần lớn đang ở trong tình trạng bị động, tin tưởng, chờ
đợi từ phía Đảng và Nhà nước. Dân chủ phải là sự nghiệp của quần chúng,
phải là “tác phẩm” của bản thân quần chúng. Đảng chủ trương xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhằm mục đích xây dựng một chế độ
dân chủ cho nhân dân, một chế độ dân chủ triệt để, đầy đủ và thực sự cho
nhân dân.


Muốn vậy, phải tiếp tục nâng cao trình độ dân trí cho cán bộ, đảng viên
và quảng đại quần chúng nhân dân.Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình lâu dài. Với quyết tâm chính trị cao của
Đảng trong những năm qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa đã có những thành tựu nhất định, song trong quá trình xây dựng cũng
nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh nghiên
cứu, tìm kiếm, thử nghiệm. Do vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa đang là nhiệm vụ cấp bách đặt ra trước chúng ta./.

KẾT LUẬN
Tiếp tục xây dựng quan điểm của đảng về xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay chính là bảo đảm định hướng
xã hội chủ nghĩa của sự phát triển đất nước và bảo đảm thắng lợi của công
cuộc đổi mới. Nhìn từ vai trò, vị trí này, vấn đề đang bàn trở nên thật sự
sống còn và cao cả. Ðây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với toàn Ðảng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status