ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
NGUYỄN THỊ HUYỀN
TÍNH ĐẶC THÙ TRONG XÂY DỰNG
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
NGUYỄN THỊ HUYỀN
TÍNH ĐẶC THÙ TRONG XÂY DỰNG
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 03 08
xã hội khoa học đã giúp tôi trưởng thành hơn trong suy nghĩ cũng như trong
nghiên cứu khoa học.
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn.
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Huyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 8
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu .................................................... 8
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 9
7. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn ...................................................... 9
8. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 9
NỘI DUNG..................................................................................................... 10
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA .................................................................. 10
1.1. Bản chất và hình thức nhà nƣớc- cái phổ biến và cái đặc thù ........... 10
1.1.1. Cái phổ biến và cái đặc thù .................................................................. 10
1.1.2. Bản chất nhà nước với tư cách là cái phổ biến .................................... 13
1.1.3. Hình thức nhà nước với tư cách là cái đặc thù ..................................... 15
1.1.4. Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước .......................................... 16
1.2. Nhà nƣớc pháp quyền với việc thực hiện dân chủ .............................. 18
1.2.1. Nhà nước pháp quyền là một hình thức thực hiện dân chủ .................. 18
1.2.2. Nền dân chủ tư sản và nhà nước pháp quyền tư sản ............................ 27
1.3. Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa............................................... 30
Nhà nước pháp quyền- là phương thức tổ chức quyền lực tốt nhất đảm
bảo quyền con người. Hiện nay trên thế giới, xây dựng nhà nước pháp quyền
không còn là vấn đề lý luận mà đã trở thành hiện thực. Hơn hai thế kỷ qua, các
quốc gia phát triển đã và đang hoàn thiện việc xây dựng nhà nước pháp quyền,
thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, giảm thiểu biên chế trong bộ máy nhà
nước, tiết kiệm ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, thực
hiện nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
Xét trên bình diện quốc tế, học thuyết nhà nước pháp quyền từ lý luận
vận dụng vào thực tiễn như thế nào đến nay vẫn còn là một vấn đề cần bàn
luận. Kinh nghiệm cho thấy, việc vận dụng lý luận xây dựng nhà nước pháp
quyền ở các quốc gia trên thế giới không theo một khuôn mẫu xác định, tùy
thuộc vào điều kiện kinh tế, chế độ chính trị, truyền thống lịch sử và bản sắc
văn hóa mà mỗi quốc gia xây dựng một mô hình nhà nước pháp quyền riêng.
Ở Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam xác định phải từng bước đổi
mới và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo hướng
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Bởi vì, đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- một nước đang
phát triển, còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và xã
hội còn thấp như hiện nay- thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền càng có ý
nghĩa quyết định.
Mặc dù xây dựng nhà nước pháp quyền là một tất yếu khách quan trên
con đường tạo lập một xã hội, trong đó: dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh. Nhưng tính tất yếu đó chỉ được thực hiện thông
qua hoạt động có ý thức của con người. Điều đó có nghĩa là, mức độ thành
công của công cuộc xây dựng này phụ thuộc đáng kể vào năng lực hành vi
nhận thức, hành vi sáng tạo, tích cực của chủ thể, mà trước hết là năng lực
1
KX.05 (giai đoạn 1996-2000): Hệ thống chính trị trong thời kì quá độ lên
CNXH ở Việt Nam.
2. Đào Trí Úc chủ biên, Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đề tài KHXH 05-05 thuộc chương
trình KHXH-05 (giai đoạn 2001-2005); sau được bổ sung, phát triển và ấn
hành dưới dạng một cuốn sách chuyên khảo nhan đề:“Xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, đã nêu lên nhiều vấn đề bao quát về
nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam như: Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng phương Tây,
phương Đông. Các tiền đề tư tưởng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Xây dựng nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ. Dân chủ và nhu
cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Những yêu cầu cơ bản đặt ra về sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước
pháp quyền.
3. Đề tài cấp nhà nước KX 04.01 “Cơ sở lý luận và thực tiễn về Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” do GS.VS.
Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm. Nhóm nghiên cứu đề tài đã khái quát lịch
sử hình thành và phát triển của học thuyết nhà nước pháp quyền từ thời cổ đại
đến hiện đại, từ phương Tây đến phương Đông; phân tích quan điểm của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và nhà nước pháp
quyền; nêu những khái niệm, những đặc trưng cơ bản và chức năng của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; lý giải các yếu tố
quy định và chi phối quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam; trình bày những phương hướng, giải pháp chủ yếu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo các tác giả, nan
giải trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là việc khắc phục “thái độ hư vô, coi thường pháp luật” của người dân
Việt Nam hiện nay. Vì đây là hiện tượng khá phổ biến, nó “có thể diễn ra trên
nước với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của
4
Trần Ngọc Liêu (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2009) là một trong những tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề đổi
mới tư duy lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền.
Theo Trần Ngọc Liêu, “từ chỗ còn mơ hồ trong nhận thức về khái niệm nhà
nước pháp quyền, Đảng ta đã đi đến thừa nhận nhà nước pháp quyền là một
phương thức tổ chức và hoạt động của một nhà nước chứa đựng những giá trị
có tính phổ biến, có thể vận dụng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam” [38, 49]. Không những thế, “Đảng ta ngày càng nhận thức rõ hơn
những vấn đề có tính đặc thù trong xây dựng nhà nước pháp quyền. Tính đặc
thù này do đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong lịch sử và quá
trình phát triển hiện nay quy định” [38, 49].
6. Một số học giả Việt Nam đã đi sâu vào vấn đề thực tiễn, nêu lên
những thuận lợi và khó khăn hiện tại và có thể có trong tương lai trong quá
trình xây dựng nhà nước pháp quyền. Thể hiện cụ thể trong các công trình
tiêu biểu sau: 1) Phạm Gia Đức, Lê Hải Triều, Nguyễn Văn Thảo, Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, (Nxb. Quân
đội nhân dân, 2003). 2) Nguyễn Văn Niên, Xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, (Nxb. Chính trị Quốc gia,
1996). 3) Đào Trí Úc, Phạm Hữu Nghị Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, (Nxb. Từ điển Bách khoa, 2009).
Những công trình kể trên đã nêu lên nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mà
Việt Nam cần phải giải quyết trên từng bước đường xây dựng nhà nước pháp
quyền. Trong đó, tập trung nhất là làm gì và làm thế nào để thiết lập nền dân
chủ đúng theo nghĩa của nó. Theo các tác giả, dân chủ hoàn toàn đối lập với
nghề nghiệp của đội ngũ cầm cân, nảy mực. Xây dựng và hoàn thiện chính
quyền địa phương đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Ngoài những công trình khoa học tiêu biểu kể trên, trong các tạp chí
Triết học, Nhà nước và pháp luật, Nghiên cứu lập pháp, Nghiên cứu pháp
luật, Dân chủ và pháp luật, Luật học, Tạp chí Cộng sản, Thông tin khoa học
6
xã hội, Lý luận chính trị, Lý luận chính trị và truyền thông,… đã đăng tải
nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, trong đó tập trung phân tích tính tất
yếu, cơ sở lý luận, điều kiện thực tiễn, đồng thời đề xuất phương hướng, giải
pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy còn
những cách lý giải khác nhau, song nhìn chung các bài viết trên các tạp chí đã
nêu đều nhất trí cho rằng, nhà nước pháp quyền không chỉ là điều kiện cần
thiết cho một phương thức quản trị hiện đại, mà còn là phương tiện hữu hiệu
để có thể giao lưu, hội nhập quốc tế trong một thế giới mà mọi vấn đề lớn nhỏ
đang trở thành vấn đề chung.
Các công trình tổng quan trên đã cung cấp cho tôi những tư liệu có giá
trị và cách tiếp cận khoa học, gợi mở cho tôi những cách nhìn mới khi thực
hiện đề tài này. Song, nhìn chung trong số các công trình tiêu biểu đã kể trên,
chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống những nét đặc thù
về phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội Việt Nam trong việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền giai đoạn hiện nay, đồng thời cũng chưa nêu lên
một cách hệ thống những giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam phù hợp với những phương diện đặc thù đó. Xuất phát từ
yêu cầu góp phần đáp ứng tính cấp thiết của đề tài, tiếp thu có chọn lọc thành
quả nghiên cứu các công trình trên, luận văn được trình bày theo hướng:
Trình bày lý luận chung về nhà nước pháp quyền, Nhà nước xã hội chủ nghĩa,
- Cơ sở lí luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luận văn cũng kế thừa các thành tựu nghiên cứu vấn đề này của các học giả
Việt Nam và thế giới trong thời gian gần đây.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; phương pháp hệ
thống, thống kê; phương pháp phân tích tổng hợp; tuân thủ các nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; thống nhất giữa logic và lịch sử…
8
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần phân tích sâu sắc hơn tính đặc thù trong quá trình xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nêu một số kiến nghị, đề xuất cụ thể trong quá trình xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những điều kiện đặc thù.
7. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
về nhà nước pháp quyền. Ở chừng mực nhất định luận văn có thể đưa lại
những gợi ý gián tiếp trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của chúng ta.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 2 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa
Chương II: Những biểu hiện đặc thù và giải pháp cơ bản trong xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
mặt ở mọi sự vật được gọi là cái chung nhất hay cái phổ biến.
10
Cái đơn nhất, cái đặc thù và cái phổ biến chỉ là một mặt, một bộ phận
của cái riêng cho nên chúng chỉ tồn tại trong cái riêng, tồn tại thông qua cái
riêng. Trong mỗi cái riêng đều chứa đựng những cái đơn nhất, riêng có của
nó; chứa đựng cái đặc thù, có mặt ở một số đối tượng giống nhau nào đó; và
chứa đựng những cái phổ biến của cả một lớp đối tượng rộng lớn hoặc của tất
cả các đối tượng. Tùy thuộc vào từng phạm vi xem xét, từng quan hệ cụ thể
để xác định đâu là cái đặc thù, đâu là cái phổ biến. Cái phổ biến trong phạm vi
này, trong quan hệ cụ thể này có thể chỉ là cái đặc thù ở một phạm vi khác,
trong một quan hệ khác.
Trong mỗi cái riêng đều chứa đựng cái chung, cái phổ biến. Quá trình
vận động, phát triển của cái riêng bao giờ cũng chịu sự chi phối bởi những
quy luật chung, quy luật phổ biến. Tuy nhiên, cái riêng không gia nhập vào
cái chung. Mỗi cái riêng còn chứa đựng cái đặc thù, đơn nhất. Quá trình phát
triển của mỗi cái riêng còn chịu sự tác động bởi những quy luật đặc thù, riêng
có của nó do nó còn chịu ảnh hưởng bởi những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của
mình. Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, con người cần biết vận
dụng cái chung, cái phổ biến vào từng trường hợp cụ thể nhưng đồng thời
phải biết cá biệt hóa chúng, tránh thái độ trừu tượng, chung chung hay dập
khuôn, máy móc, giáo điều. Cái là đúng đắn, phù hợp với giai đoạn cụ thể
này, ở thời điểm cụ thể này có thể không còn đúng đắn, phù hợp với một giai
đoạn khác, ở một thời điểm khác và ngược lại. Cho nên không được phép áp
đặt một cách tùy tiện, chủ quan cái của sự vật hiện tượng này cho một sự vật,
hiện tượng khác.
Vạch rõ mối liên hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến
và cái đặc thù, Lênin viết: “Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái
thể, cấu trúc nhà nước, chế độ chính trị.
12
1.1.2. Bản chất nhà nước với tư cách là cái phổ biến
Nhà nước là một phạm trù lịch sử. Nhà nước không đồng nghĩa với xã
hội, không phải xã hội loài người hình thành là đã có nhà nước. Lịch sử xã hội
đã có một thời kỳ chưa có nhà nước- thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy; chỉ
đến khi xã hội phân chia thành giai cấp nhà nước mới ra đời.
Chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia thành những giai cấp đối khángchủ nô và nô lệ. Mâu thuẫn giữa các giai cấp, cuộc đấu tranh giữa giai cấp đó
không ngừng diễn ra và ngày càng quyết liệt không thể điều hòa được. Điều
đó dẫn đến nguy cơ các giai cấp chẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu
diệt luôn cả xã hội, tạo ra một tình trạng loạn lạc hỗn độn. Xã hội lúc này đòi
hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các
giai cấp ấy, hoặc cùng lắm là để làm cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong
lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp và để thảm họa đó không
diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời và đó chính là nhà nước.
Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ, tiếp đó là
nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản đều xuất hiện từ mâu thuẫn đối kháng
giai cấp vốn có của mỗi xã hội đó. Như vậy, nhà nước là sản phẩm và biểu
hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Ở đâu có mâu
thuẫn giai cấp không thể điều hòa thì ở đó nhà nước xuất hiện. Nhà nước ra
đời tựa hồ đứng ngoài xã hội, làm cho xã hội tồn tại trong vòng trật tự nhất
định nhưng trên thực tế, chỉ giai cấp có thế lực nhất- giai cấp thống trị về kinh
tế mới có đủ điều kiện lập ra và sử dụng bộ máy nhà nước. Nhờ có nhà nước,
giai cấp này cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị, và do đó có
thêm những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp khác. Vì thế, về
bản chất Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để
trấn áp một giai cấp khác, là bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp
luôn tính đến hiệu quả hoạt động của nhà nước.
Tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước là hai mặt đối lập của cùng
một chủ thể. Chúng thống nhất trong sự đấu tranh lẫn nhau. Bản chất giai cấp
của Nhà nước giữ vai trò định hướng, chi phối chức năng xã hội. Đến lượt nó,
14
chức năng xã hội là điều kiện, là cơ sở xã hội để thực hiện chức năng thống trị
giai cấp. Tuy nhiên mức độ thể hiện tính giai cấp và tính xã hội là khác nhau
trong tổ chức và hoạt động của nhà nước, tùy thuộc vào nhiều yếu tố, như lịch
sử truyền thống, quan điểm chính trị của nhà cầm quyền, mối tương quan giai
cấp trong xã hội , bối cảnh quốc tế...
1.1.3. Hình thức nhà nước với tư cách là cái đặc thù
Hình thức của Nhà nước là cách thức tổ chức và phương pháp thực hiện
quyền lực nhà nước. Hình thức của Nhà nước được xác định thông qua chính
thể, cấu trúc và chế độ chính trị. Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở
những điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau, ở những quốc gia dân tộc có
truyền thống văn hóa, lịch sử khác nhau,... sẽ xuất hiện những hình thức nhà
nước khác nhau.
Thực tiễn lịch sử nhân loại có các loại hình thức nhà nước như:
- Hình thức chính thể: dựa vào cách tổ chức và trình tự thành lập các cơ
quan Nhà nước, có các hình thức Nhà nước quân chủ hay cộng hòa
+ Nhà nước quân chủ: Nhà nước quân chủ tuyệt đối; Nhà nước quân chủ
hạn chế.
+ Nhà nước cộng hòa: Nhà nước cộng hòa đại nghị; Nhà nước cộng hòa
tổng thống; Nhà nước cộng hòa lưỡng tính (bán tổng thống).
- Hình thức cấu trúc:
+ Nhà nước đơn nhất
+ Nhà nước liên bang
tính tối cao của pháp luật được chính thức thừa nhận; những cơ quan quyền
lực của nhà nước do dân bầu cử mà ra. Dân chủ được thực hiện thông qua hai
hình thức cơ bản: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Dân chủ còn được hiểu là một giá trị xã hội. Các cuộc đấu tranh giành
dân chủ đều dẫn đến khả năng giải phóng con người, nâng cao vị trí con
người trong lịch sử, hình thành và phát triển ở con người ý thức và năng lực
làm chủ xã hội. Dân chủ với ý nghĩa đó được xác định như một lý tưởng nhân
đạo, một giá trị nhân văn.
16
Dân chủ còn được xét với ý nghĩa là điều kiện để hình thành và phát
triển một nhân cách toàn diện của các chủ thể chính trị. Đó là sự hình thành
thái độ, tính tích cực chính trị, sự chủ động, nhu cầu và sự tự giác tham gia
vào các quá trình chính trị thực tiễn. Đó là tinh thần trách nhiệm của cá nhân
công dân trong cuộc đấu tranh nhằm loại bỏ những gì phản dân chủ đang tồn tại
trong đời sống cộng đồng. Do vậy, dân chủ không chỉ là phạm trù chính trị mà
còn là phạm trù đạo đức. Thực chất căn bản của nền dân chủ là đặt nhà cầm
quyền dưới sự kiểm soát của dân chúng. Không thể xây dựng được nền dân chủ
nếu người dân không có quyền hoặc không hiểu được quyền hạn của mình.
Trong lịch sử nhân loại chế dộ dân chủ được hình thành và phát triển
cùng với sự phát triển của xã hội. Nền dân chủ đầu tiên của nhân loại là nền
dân chủ Aten, kéo dài từ thế kỷ VII TCN đến cuối thế kỷ IV TCN. Nhà nước
Aten được đánh giá là nhà nước dân chủ nhất thời kỳ cổ đại, thậm chí đây còn
là hình thức dân chủ sơ khai nhất trong lịch sử từ khi có nhà nước và pháp
luật. Nhà nước Aten là nhà nước dân chủ chủ nô đầu tiên trong lịch sử nhân
loại, là nhà nước đầu tiên khai sinh ra hình thức dân chủ trực tiếp, khai sinh ra
hình thức chính thể Cộng hòa. Ở đó không chỉ quý tộc, tăng lữ mà thường dân
cũng được tham gia vào sinh hoạt chính trị của nhà nước khi thỏa mãn ba điều
thức của nhà nước được hình thành, phát triển và hoàn thiện dần trong lịch sử
xã hội.
1.2. Nhà nƣớc pháp quyền với việc thực hiện dân chủ
Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền với tính cách là những
giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. Do vậy nhà
nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước. Trong ý nghĩa này nhà
nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ,
cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ.
1.2.1. Nhà nước pháp quyền là một hình thức thực hiện dân chủ
1.2.1.1. Lược sử tư tưởng nhà nước pháp quyền
Con người trong suốt chiều dài lịch sử xã hội luôn mơ ước khát khao về
một cuộc sống tốt đẹp hơn. Và lịch sử tiến bộ xã hội chính là quá trình đấu
18
tranh không mệt mỏi để thực hiện ước mơ ấy. Tồn tại trong xã hội, con người
luôn khát vọng, ước mơ và lý tưởng về các giá trị xã hội cao quý (như công
bằng và bác ái, nhân đạo và tình thương, dân chủ và tự do, pháp luật và pháp
chế). Thực tế các tư tưởng về nhà nước pháp quyền có cội nguồn hình thành
và phát triển từ hàng nghìn năm qua trên những chặng đường tìm kiếm các
phương tiện và phương pháp để nhằm đạt đến giá trị xã hội cao quý ấy. Có
thể tóm lược quá trình này như sau:
Về phương diện ngôn ngữ, thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” biểu hiện
trong ngôn ngữ châu Âu khác nhau. Người Đức gọi nhà nước pháp quyền là
“Rechtstaat”, trong khi đó, người Pháp gọi nhà nước pháp quyền là “Etat de
droit”, người Anh lại dùng cụm từ “The rule of law” để chỉ nhà nước pháp
quyền. Tuy dùng những cụm từ khác nhau để chỉ thuật ngữ nhà nước pháp
quyền, song nội hàm của khái niệm này ở các nước châu Âu được hiểu khá
thống nhất đó là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.