TIỂU LUẬN lý LUẬN về dân CHỦ và NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY dân CHỦ xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 38

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1

Trang

2
Những vấn đề cơ bản về lí luận dân chủ và dân chủ xã
hội chủ nghĩa

4

1.1

Quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin về dân chủ

4

1.2

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

13

1.3

Sự phát triển lí luận dân chủ của Đảng cộng sản Việt Nam

18

hành dân chủ cho đội ngũ cán bộ và nhân dân
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

24


MỞ ĐẦU
Lịch sử xã hội loài người vận động và phát triển chính là sự thay thế nhau
giữa các hình thành kinh tế xã hội. Chủ nghĩa cộng sản không chỉ là hình thái
kinh tế xã hội cao nhất mà còn là mơ ước, mục đích phấn đấu của xã hội loài
người. Cách mạng tháng Mười Nga thành công mở ra thời đại mới trong lịch sử
loài người – Thời đại quá đội đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa công sản trên
toàn thế giới. Đó là kết quả đấu tranh không ngừng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động ngay từ khi giai cấp công nhân được hình thành, và chỉ cỏ
thể thực hiện được với với vai trò sứ mệnh của giai cấp công nhân mà đội tiên
phong là Đảng cộng sản. Cho đến ngày nay cuộc đấu tranh ấy vẫn tiếp tục và
không ngừng phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mới.
Mở đầu lịch sử xã hội loài người là lịch sử của quá trình đấu tranh cho
hạnh phúc và tương lai của con người. Từ thuở xa xưa của nền văn minh cổ đại
đến đêm trường trung cổ, con người luôn luôn khát vọng vươn tới tự do, bình
đẳng và luôn luôn đấu tranh không mệt mỏi cho một xã hội tương lai có nhiều
hạnh phúc hơn cho con người. Tất cả những khát vọng và hiện thực cuộc sống
tốt đẹp cho con người, vì con người và do con người, đó chính là dân chủ. Chỉ có
cách thức đêm lại tự do, dân chủ ngày một hoàn thiện hơn cho con người, cho xã
hội mới tạo ra động lực của cách mạng. Dân chủ gắn liền với lợi ích của các giai
tầng xã hội và là lợi ích trực tiếp của giai cấp thống trị xã hội.
Nước ta là nước dân chủ, đó là bản chất của chế độ xã hội ta đang xây
dựng. Nhưng số phận dân tộc và công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chưa



nhà nước”. Điều quan trọng trong những tư tưởng ban đầu của C. Mác và Ph.
Ăngghen về dân chủ đó là việc xác định chế độ dân chủ là thiết chế chính trị của
xã hội được tổ chức để bảo đảm quyền lực thuộc về ai – Đó là tính đặc thù của
chế độ dân chủ.
Sự phát triển lí luận dân chủ gắn liền với sự phát triển và phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân, những hoạt động thực tiễn và điều kiện kinh tế xã
hội thực tại. Vì vậy, khi nêu lên những quan điểm về con đường và biện pháp tiến
tới và thiết lập bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân C. Mác và Ph. Ăngghen đã
gắn liền với việc chỉ ra tiến trình cách mạng của giai cấp vô sản khi đấu tranh
cho dân chủ. Gắn liện với một cuộc cách mạng xã hội mới mà nó phải trải qua
hai bước. Trước tiên là giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp thống trị, giành
lấy dân chủ, sau đó dùng sức mạnh của Nhà nước để xây dựng nền dân chủ mới
mà trọng tâm là việc triệt tiêu các quan hệ sản xuất sinh ra áp bức, bóc lộc - mất
dân chủ.
Từ bài học kinh nghiệm Công xã Pari (1871), các ông cho rằng: Đặc điểm
nổi bật của Công xã là một đoàn thể công tác vừa có chức năng lập pháp, vừa có
chức năng hành pháp. Đó là một nhà nước do phổ thông đầu phiếu mà lập nên.
Cử tri là người có quyền cao nhất bãi miễn những thành viên của Công xã nếu
họ không còn xứng đáng là người đại biểu của công nhân và nhân dân lao động.
Công xã đã tạo ra cái nền tảng của những thiết chế thật sự dân chủ. Công xã là
chế độ mới của dân, tổ chức đời sống xã hội vì lợi ích của nhân dân.
Chính vì vậy,dân chủ gắn liền với đấu tranh giai cấp, thực hiện chuyên
chính vô sản là một tất yếu lịch sử, đập tan bộ máy bóc lột của giai cấp thống trị,
từng bước đưa người dân lên địa vị làm chủ, tiến tới xây dựng xã hội bình đẳng để đi
đến một xã hội không có giai cấp – Xã hội cộng sản chủ nghĩa. Mỗi bước tiến của
cách mạng là một bước tiến về dân chủ, trình độ phát triển của chế độ dân chủ bao
giờ cũng chịu sự quy định và chế ước của trình độ phát triển kinh tế xã hội, nó đòi hỏi
trong quá trình xây dựng, chế độ dân chủ khi được xây dựng trên nền tảng đó cũng




mọi người; nó chỉ là dân chủ đối với quần chúng lao động và bị áp bức; dân chủ
vô sản là chế độ dân chủ vì lợi ích của đa số; dân chủ xã hội chủ nghĩa càng hoàn
thiện bao nhiêu, càng nhanh tới ngày tiêu vong bấy nhiêu. Dân chủ vô sản loại bỏ
quyền dân chủ của các giai cấp có những âm mưu, hành động chống lại cuộc cách
mạng và vai trò lãnh đạo xã hội của giai cấp vô sản.
V.I. Lênin cũng cho rằng, dân chủ vô sản không loại trừ đấu tranh giai cấp.
Điều khác biệt ở đây chỉ là chỗ trong chế độ dân chủ đó, đấu tranh giai cấp trở
nên rộng rãi, công khai, có ý thức. Khi suy nghĩ về những nhân tố chế định đối
với tình trạng dân chủ. V.I. Lênin làm rõ vai trò của nhân tố kinh tế đối với tính
chất, trạng thái và trình độ của dân chủ. V.I. Lênin kịch liệt phê phán những kẻ
cơ hội hữu khuynh muốn có một nền dân chủ cao về chất so với dân chủ đạt
được trong chủ nghĩa tư bản mà lại không đụng chạm tới quyền sở hữu tư nhân
với tư liệu sản xuất. Với tất cả những ý nghĩa đã trình bày trước đây, V.I. Lênin đi
đến một tư tưởng khái quát: dân chủ vô sản là thứ dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư
sản.
Sự khác nhau cơ bản giữa dân chủ vô sản và dân chủ tư sản được V.I.
Lênin chỉ rõ đó là tính chất dân chủ của nhà nước. Chuyên chính vô sản là một
kiểu nhà nước mới, khác hẳn với các nhà nước trước đó. Đó là “nhà nước dân
chủ kiểu mới (dân chủ đối với những người vô sản và nói chung những người
không có của) và chuyên chính kiểu mới (chống giai cấp tư sản).
Có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin dựa trên bản chất xã hội xã hội chủ
nghĩa, là chế độ được xác lập dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,
khẳng định dân chủ dưới chủ nghĩa xã hội gấp triệu lần chế độ dân chủ tư sản vì
đó là dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân trong xã hội. Tuy nhiên, do chủ nghĩa
xã hội hiện thực đang trong quá trình tìm tòi sáng tạo và vận động đi lên. Do đó
những dự báo khoa học của các nhà kinh điển đang từng bước được cụ thể hoá
cho phù hợp với sự vận động biện chứng của lịch sử trên con đường phát triển
tất yếu của nó. Hồ Chí Minh, với sự mẫn cảm sâu sắc về chính trị đồng thời là đại

chủ xã hội chủ nghĩa, coi bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền làm
chủ trên thực tế, về mọi mặt của nhân dân; xác định các nội dung dân chủ trên


các lĩnh vực đời sống xã hội, mối quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính, dân chủ
và tập trung, dân chủ với pháp luật, kỷ luật, kỷ cương xã hội.
Đại hội VIII, chủ trương “xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương
châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính
sách lớn của Đảng, Nhà nước”. Nêu lên các hình thức dân chủ: “thông qua đại
diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình
thức nhân dân tự quản, bằng các qui ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với pháp
luật của Nhà nước”
Trong nhiệm kỳ Đại hội IX, Đảng coi thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là
điều kiện, yêu cầu cơ bản để xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân.
Tiếp tục hoàn thiện hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện và coi đó là
phương hướng cơ bản để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Năm 1998, Bộ
Chính trị đã ra Chỉ thị 30 – CT-TW về thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở xã,
phường, thị trấn và năm 2007 Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về dân chủ ở cơ
sở. Đại hội IX cũng nhấn mạnh: phát huy dân chủ phải đi liền với thực hiện kỷ
cương, pháp luật và bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng.
Đại hội X, coi phát huy dân chủ gắn với xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, là một phương hướng quan trọng để phát huy Đại đoàn kết; coi thực
hiện “phản biện xã hội” của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thẻ nhân dân để phát
huy dân chủ, triển khai Qui chấ dân chủ ở mọi cấp để nhân dân tham gia rộng
rãi vào xây dựng hệ thống chính trị. Đi đôi với vấn đề trên, Đại hội X tiếp tục
khẳng định “dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công
cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa
Đảng, Nhà nước và nhân dân”. Mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân.
Đặt ra mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, bổ sung “dân chủ” vào hệ giá trị

của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, một nhà nước thống nhất về lãnh thổ,
có nền văn hoá thống nhất trong đa dạng của 54 đất dân tộc anh em, Đảng đóng
vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của


nhân dân lao động và của dân tộc, rõ ràng dân chủ trong Đảng và dân chủ hoá
xã hội hiện nay mang những nội dung hoàn toàn mới và toàn diện hơn, đòi hỏi
Đảng ta phải nghiên cứu tìm tòi, kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; về Đảng cầm quyền; về dân chủ hoá, về Nhà nước
của dân, do dân, vì dân để hình thành văn hoá chính trị về dân chủ trong Đảng
và trong xã hội nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN mang đặc thù Việt
Nam nhưng phù hợp với tiến bộ phát triển của nhân loại.

2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay.
2.1. Nhất quán quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo các nguyên tắc cơ bản
của Nhà nước pháp quyền.
Nói đến nhà nước pháp quyền: thì pháp luật giữ địa vị tối thượng trong
quản lý nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức, cá nhân bình đẳng trước pháp luật,
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng đường lối, quan điểm, nghị quyết,
nhưng đồng thời phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; bình đẳng trong
quan hệ pháp luật, Đảng không làm thay việc Nhà nước. Đề cao tinh thần pháp
luật trong hoạt động của xã hội, mọi công dân có quyền làm mọi việc mà pháp
luật không cấm.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tồn tại là để từng bước đem những
giá trị tốt nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được thẩm thấu vào trong mọi


hoạt động và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời nhà nước xã hội chủ

tắc tập trung dân chủ một cách thực sự, dân chủ trong quá trình hình thành
đường lối, chính sách, nghị quyết chỉ thị của Đảng. Dân chủ trong việc ban hành,
công bố, công khai đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của đảng. Dân chủ,
bình đẳng trong thực hiện nguyên tắc tổ chức và kỷ luật Đảng. Dân chủ trong
phát hiện nhân tố, phát hiện người hiền tài cũng như phát hiện, tố giác, đấu
tranh chống quan liêu tham nhũng trong đảng và ngoài xã hội. Dân chủ trong
phê bình, tự phê bình và có giải pháp bảo vệ người phê bình, đấu tranh chống
tiêu cực trong nội bộ Đảng.
Công khai tổ chức bộ máy, cán bộ, ngân sách hoạt động của Đảng và chế độ
chính sách đãi ngộ cho cán bộ của Đảng để nhân dân giám sát. Xây dựng và ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật về sự lãnh đạo, tổ chức và hoạt động của
Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước, xã hội và hệ thống chính trị. Trung
ương Đảng phải ban hành quy chế về hoạt động của Ban chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị, Ban bí thư, Ban thường vụ cấp ủy đảng, các đảng đoàn, chức
trách cá nhân của những người giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng quy định
rõ nội dung lãnh đạo, phạm vi lãnh đạo, quy trình làm việc hết sức cụ thể, rõ
ràng, minh bạch trong toàn Đảng. Nếu hiện nay chúng ta không làm được và
không làm tốt điều này thì cụm từ trực tiếp - toàn diện - tuyệt đối về sự lãnh đạo
của Đảng tiếp tục bị vận dụng thực hiện tuỳ tiện, làm vô hiệu hoá bộ máy Nhà
nước.
Trên cơ sở xác định lại nội dung, và phạm vi lãnh đạo của đảng, cần nghiên
cứu tinh giản bộ máy chuyên trách của Đảng và các tổ chức chính trị xã hội một
cách hợp lý. Chuyển các đơn vị sự nghiệp của các đoàn thể sang thực hiện cơ chế
tự chủ về tổ chức, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật và đặt dưới
sự kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Từ Đại hội lần thứ XI (năm 2011) đến nay, Đảng đã ban hành nhiều nghị
quyết, chủ trương và qui định, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), nhằm
“Thật sự phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt




dựng, đúng đắn của cán bộ, đảng viên; kịp thời xử lý nghiêm minh những cá
nhân vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.
Song song với để để có tính khách quan phải thông tin cập nhật đầy đủ và
minh bạch những vấn đề liên quan đến những hoạt động của tổ chức đảng và
chính quyền, nhất là những vấn đề liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, xã
hội của người dân, những vấn đề “nổi cộm” mà cán bộ, đảng viên và nhân dân
đang quan tâm, bức xúc, nghiêm cấm việc cung cấp thông tin không đầy đủ,
thông tin sai lệch… Cũng cần công khai, minh bạch, kể cả phát thanh, truyền
hình trực tiếp cho nhân dân biết tổ chức Đảng hoạt động như thế nào, tổ chức
Đảng bàn những vấn đề gì, trừ những vấn đề đã qui định rõ là bí mật quốc gia,
bí mật Đảng.
Mặt khác phải thực hiện nghiêm quy chế chất vấn trong Đảng và công
khai chất vấn đó cho dân biết trong những chừng mực nhất định. Đa số các đồng
chí có trách nhiệm trong Đảng cũng đồng thời là người giữ cương vị, trọng
trách trong bộ máy nhà nước. Do đó, trong các tổ chức Đảng và cấp ủy, các đồng
chí có trách nhiệm cũng phải chịu chất vấn của cấp ủy cũng như của đảng viên,
gắn với việc lấy phiếu tín nhiệm theo qui định.
Tiếp tục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên
đối với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là 8 nhiệm vụ xây dựng Đảng
trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”;
tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát không để tình trạng sinh hoạt, học
tập kém chất lượng, hình thức, phân tán tư tưởng, thiếu tập trung… Khắc phục
những biểu hiện kém tinh thần trách nhiệm trong công tác xây dựng Đảng như:
Ngại va chạm, không phát huy đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ trong đấu tranh tự
phê bình và phê bình, bàng quan vô cảm trước đúng - sai, tốt - xấu, không trăn
trở suy nghĩ để có ý kiến tham gia xây dựng Đảng, mà trực tiếp là xây dựng
Đảng nơi đảng viên công tác.




Đảng giới thiệu những cán bộ đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực quán triệt,
cụ thể hoá nghị quyết của đảng vào giữ một số chức vụ do Quốc hội và hội đồng
nhân dân bầu để hiện thực hoá quan điểm đường lối của đảng trong các nghị
quyết và các quyết định của Quốc hội và hội đồng nhân dân.
Chúng ta khắc phục tình trạng khá phổ biến là coi Quốc hội cũng như hội
đồng nhân dân là cơ quan "làm thêm"; cơ quan "hợp thức hoá" ý chí của Đảng
và từ đó Đảng không quan tâm đúng mức việc kiện toàn bộ máy, không đầu tư
đúng mức công tác cán bộ và không thực sự quan tâm lãnh đạo hoạt động của
cơ quan quyền lực nhất. Mọi việc quan trọng của địa phương từ chiến lược đến
bộ phận, từ vĩ mô đến vi mô... đã có Đảng chỉ đạo thực hiện. Làm cho hội đồng
nhân dân ở nhiều nơi tồn tại như "cái bóng" của Đảng, hữu danh vô thực dẫn
đến hiệu lực và hiệu quả hoạt động thấp không như mong muốn mà các tầng
lớp nhân dân trao gửi. Làm đại biểu của nhân dân trong hoàn cảnh như vậy khó
mà hoàn thành sứ mạng đại biểu cho ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân
dân.
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân có
thể khẳng định rằng đổi mới sự lãnh đạo của đảng đối với cơ quan quyền lực
nhà nước là một trong những khâu đột phá của hệ thống chính trị nước ta.
Đảng phải thực sự tôn trọng và lãnh đạo Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp
thực hiện tốt chức năng quyết định và giám sát mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế
xã hội, bảo đảm quyền lực của nhân dân, phát huy thực sự và cao độ dân chủ
của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát đại
biểu dân cử và giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.
* Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống cơ quan hành chính nhà
nước.
Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chấp hành của Quốc hội và HĐND
các cấp. Ở nước ta, Chính phủ do Quốc hội bầu ra, ủy ban nhân dân do hội đồng
nhân dân bầu ra để quản lý đất nước, thực thi pháp luật. Sự lãnh đạo của đảng

bản quy phạm pháp luật trái với quy định của pháp luật. Trong vai trò lãnh đạo,
đảng phải bảo đảm trên thực tế đảng viên và cán bộ do tổ chức đảng quản lý


nếu vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo pháp luật chứ không chờ ý kiến của
Đảng đồng thời đảng phải xử lý kỷ luật nặng hơn đảng viên thường, không bao
che, nương nhẹ kỷ luật đảng đối với đảng viên vi phạm pháp luật.
* Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp.
Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng theo nguyên tắc bảo đảm trên
thực tế là không can thiệp vào quá trình hoạt động của các cơ quan tư pháp
trong việc điều tra, tố tụng, xét xử, thi hành án bảo đảm chỉ tuân thủ pháp luật.
Bởi vì đường lối nghị quyết của đảng thì phải công khai đề ra như thế nhưng
trong tổ chức thực hiện nếu dính đến cán bộ do đảng quản lý thì tổ chức đảng lại
can thiệp vào quá trình xử lý pháp luật. Đó là tình trạng mong mà không muốn
trong lãnh đạo công tác tư pháp.
Đảng cần quan tâm lãnh đạo cải cách hệ thống pháp luật, cải cách bộ máy
tư pháp làm cho hoạt động tư pháp nhanh nhạy có hiệu quả đáp ứng yêu cầu
thực tiễn, khắc phục tình trạng chồng chéo trong phối hợp, cản trở khó khăn
trong hoạt động tố tụng hoặc liên kết bao che, cố ý làm trái, tiêu cực trong điều
tra, xét xử, thi hành án. Nâng cao năng lực và kỷ cương thực thi nhiệm vụ cho
đội ngũ tư pháp. Tổ chức toà án hiến pháp để bảo vệ hiến pháp...
* Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội.
Các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò rất to lớn trong việc tập hợp các
tầng lớp nhân dân đi theo Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng,
bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận Việt Minh đã từng có vai trò như một kiểu nhà nước,
trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy toàn dân làm nên cách mạng tháng 8 (1945).
Các đoàn thể chính trị - xã hội là chỗ dựa chính trị vững chắc của Đảng trong
các thời kỳ cách mạng. Tuy nhiên, cho đến nay, bước vào thời kỳ xây dựng đất
nước theo tư tưởng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có nhận
thức mới về tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội

tưởng của đảng dù đúng đắn đến đâu nhưng không được đội ngũ cán bộ trong
hệ thống chính trị nhận thức, vận dụng và tổ chức thực hiện một cách đúng đắn,
hiệu quả. Đội ngũ cán bộ không được nâng cao về văn hoá chính trị, thái độ ứng


xử chính trị nặng chủ nghĩa cá nhân, tranh công đổ lỗi, vi phạm dân chủ... tuỳ
tiện trong việc tổ chức thực hiện luật pháp thì mục tiêu dân chủ và dân chủ hoá
xã hội theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền chỉ là những mong muốn mà
không bao giờ trở thành hiện thực.
Văn hoá chính trị được xây dựng và trở thành thái độ ứng xử chính trị,
thành hành vi chính trị của đội ngũ cán bộ trước hết là trong nội bộ Đảng và
tiếp đến là trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội sẽ góp phần quan trọng
khắc phục những tồn tại yếu kém trong quá trình sử dụng và thực thi quyền lực
chính trị của đảng cầm quyền và bộ máy nhà nước, là cơ sở nền tảng để xây
dựng chế độ dân chủ theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, phải do nhân dân tự tay mình thực hiện, đó
là nguyên lý và nội dung của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nền dân chủ đó vì
vậy, sẽ phụ thuộc vào nền tảng xã hội sâu, ý thức chính trị của nhân dân và khả
năng của nhân dân tham gia vào đời sống chính trị của đất nước. Các yếu tố bảo
đảm đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi mà trình độ văn hóa chính trị của
nhân dân đạt được ở những mức độ nhất định và ngày càng được nâng cao.
Thực tế là, chỉ khi nào người dân tự giác nhận thức được quyền và nghĩa vụ
của mình, tự giác tham gia công việc nhà nước, công việc xã hội, hoạt động với
tư cách là người chủ lúc đó mới có điều kiện thực hiện dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đưa ra một nguyên tắc hoạt động chính trị: "Phải đưa chính trị vào giữa
dân gian". Không có tri thức người dân sẽ không bảo vệ được lợi ích của mình,
sẽ hành động một cách tự phát và sẽ bị mất phương hướng trong đời sống chính
trị, lúc đó dân chủ chỉ còn là một thứ dân chủ hình thức.
Trong xã hội hiện đại ngày nay cần phát huy vai trò là cầu nối thông tin giữa
dân với Ðảng của truyền thông đại chúng để làm cơ sở cho các cuộc tranh luận,

đặc biệt là đổi mới phương thức lãnh đạo đối với nhà nước.
Dân chủ không phải là vấn đề mới, nhưng trong điều kiện mới nhận thức
đúng đắn bản chất, yêu cầu của dân chủ và thực thi dân chủ trong thể chế chính
trị - pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vấn đề đòi hỏi một quá trình nhận
thức thực tiễn, vượt qua mặc cảm chính trị truyền thống và cần có bản lĩnh
chính trị, thực thi dân chủ trên hết và trước hết trong Đảng, trong hệ thống
chính trị và phải có quyết sách, thể chế hoá tư tưởng nhà nước pháp quyền vào
đời sống thực tiễn thì mới có điều kiện để hình thành và phát triển dân chủ và
dân chủ hoá xã hội. Chúng ta tin tưởng rằng dân chủ và dân chủ hoá xã hội nhất
định sẽ trở thành động lực cơ bản bảo đảm xây dựng thành công nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta. Mỗi
người phải có trách nhiệm tham gia vào quá trình đó.
T ÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của
Đảng, Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp cơ sở, tháng 2/2015


3. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới
(khóa VI, VII, VIII, IX, X), Nxb CTQG, Hà Nội. 2010
4. C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, Tập 7, 8, 19. Nxb CTQG, H. 1995
5. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-cơ-va, 1981, tập 6, 11, 33, 27
6. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, 6, 7, 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
7. Học viện chính trị: giáo trình lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa, Nxb Quân
đội nhân dân, Hà nội. 2014
8. Tài liệu nghiên cứu: Một số vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam của dân, do dân, vì dân, Ban Tổ chức Trung ương Đảng, tháng 9-2004.
9. Trần Nhâm: Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia, H.
2010.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status