LUẬN án TIẾN sĩ học THUYẾT HÌNH THÁI KINH tế xã hội với vấn đề ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 38

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
NXHC

Chủ nghĩa xã hội

CNTB

Chủ nghĩa tư bản

CNH, HĐH

công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CSHT

Cơ sở hạ tầng

ĐHXHCN

Định hướng xã hội chủ nghĩa

HTKT-XH

hình thái kinh tế - xã hội

KTTT

Kiến trúc thượng tầng

LLSX


(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994) đã khái quát các giai đoạn tiến hành cách mạng
XHCN ở nước ta.
- Giáo sư Trần Xuân Trường: "Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam một số vấn đề
lý luận cấp bách" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996) có đề cập đến một vấn đề của lý
luận hình thành và sự vận dụng nó trong tình hình mới.


- Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Đức Bách, tiến sĩ Lê Văn Yên, Nhị Lê: "Một số vấn đề về
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" (Nxb Lao động, Hà Nội 1998) đã xem xét
những đặc thù của con đường XHCN ở Việt Nam và một số nội dung của con đường đó.
- Giáo sư, tiến sĩ khoa học Nguyễn Duy Quý (chủ biên) "Những vấn đề về chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998) đã nêu trên cơ sở khái quát quan
điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen. V.I Lênin và Hồ Chí Minh về CNXH làm sáng tỏ quan
điểm đổi mới sự nghiệp xậy dựng CNXH ở Việt Nam của Đảng ta.
- Giáo sư Hồ Văn Thông: "Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin
trong thời đại ngày nay" (Tạp chí Cộng sản số 4-1994) đã nêu lên sực ần thiết phải bổ
sung, phát triển nhận thức về một số vấn đề của lý luận đó.
- Phó giáo sư, tiến sĩ Tô Huy Rứa "Con đường và điều kiện đảm bảo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta" (Tạp chí Cộng sản số 6-1996) đã nêu lên một số điều kiện nhằm
đảm bảo ĐHXHCN.
- Giáo sư Nguyễn Ngọc Long "Triết học Mác-Lênin với việc nhận thức xã hội chủ
nghĩa trong thế giới ngày nay" (Tạp chí Cộng sản số23-1998) đã đưa ra quan điểm khẳng
định giá trị của chủ nghĩa Mác nói chung, lý luận hình thái nói riêng và vận dụng nó vào
nhận thức xu thế xã hội hiện nay.
Giáo sư, tiến sĩ Lê Hữu nghĩa "Về nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (Tạp chí Sinh hoạt lý luận số 11999) đã đưa ra những quan điểm trong nhận thức về định hướng và giữ vững ĐHXHCN
của Đảng ta.


- Giáo sư, tiến sĩ Phạm Ngọc Quang "Định hướng và giữ vững định hướng xã hội chủ

ĐHXHCN ở nước ta đang đặt ra những vấn đề mới cần được tiếp tục lý giải và khẳng
định.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3.1 Mục đích: Dưới góc độ lý luận HTKT-XH, luận án góp phần làm sáng tỏ thực chất
vấn đề ĐHXHCN và giữ vững định hướng đó trong điều kiện phát triển kinh tế nhiều
thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường ở Việt Nam.
3.2 Nhiệm vụ:
1) Trên cơ sở khẳng định giá trị vền vững của lý luận HTKT-XH để luận giải tính đúng
đắn của sự lựa chọn mục tiêu tiến lên CNXH của Việt Nam.
2) Xem xét làm sáng tỏ thuật ngữ "định hướng xã hội chủ nghĩa" và chỉ ra một số vấn
đề từ thực tiễn vận dụng học thuyết HTKT-XH đặt ra đối với quá trình thực hiện
ĐHXHCN ở Việt Nam.


3) Nêu lên những nguyên tắc và giải pháp cơ bản quán triệt học thuyết HTKT-XH để
thực hiện ĐHXHCN trong điều kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị
trường ở Việt Nam
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án không đi vào xem xét một cách toàn diện các vấn đề của học thuyết HTKTXH, cũng không xem xét toàn diện các mặt của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.
Luận án trên hướng tiếp cận của học thuyết HTKT-XH để đi vào luận giải một số khía
cạnh của vấn đề ĐHXHCN và giữ vững ĐHXHCN hiện nay ở Việt Nam.
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về
HTKT-XH, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng CNXH để
giải quyết những vấn đề trong đề tài.
- Cơ sở thực tiễn: Dự vào thực tiễn xây dựng CNXH đã và đang diễn ra ở Việt Nam,
tham khảo bài học kinh nghiệm để đảm bảo mục tiêu CNXH ở một số nước khác trước
đây và hiện nay để luận chứng những vấn đề trong đề tài. Đồng thời đó cũng là những cơ
sở thực tiễn quan trọng để luận án đưa ra những giải pháp nhằm giữ vững ĐHXHCN
trong điều kiện mới hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận án

bản và phổ biến của xã hội loài người. Sự xuất hiện học thuyết không phải là ngẫu nhiên
hay là sản phẩm thuần túy chủ quan của C.Mác, như một số người nào đó nhận định, mà
là kết quả hợp quy luật của một quá trình nhận thức dựa trên sự khái quát thực tiễn hoạt
động cách mạng, sự kế thừa mang tính phê phán các nguồn tri thức nhân loại và một khả
năng tư duy thiên tài của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Xuất phát từ quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận cho rằng xã hội không phải là tổ
hợp ngẫu nhiên của các mặt, các yếu tố riêng biệt, không phải là tổng số máy móc của
các nhân riêng rẽ mà là một chỉnh thể của các quan hệ xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
khám phá ra các quy luật của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, từ quan điểm xuất phát đến
chỗ vạch ra được các quy luật phát triển xã hội không đơn giản. Nói một cách khác là để
làm được điều đó phải chọn lựa được con đường nghiên cứu đúng đắn, khác về chất với
tất cả các quan điểm trước đó. Trước C.Mác và Ph.Ăngghen, Hê ghen cũng có quan
điểm xuất phát tương tự nhưng ông lại luận giải sự thống nhất, tính chỉnh thể của xã hội
dựa trên một bản nguyên tinh thần. Do vậy, tuy có những đóng góp vào việc mở ra con
đường nghiên cứu lịch sử nhưng Hêghen không thể đi đến những quy luật lịch sử đích
thực. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi theo con đường khác hẳn, đó là con đường dựa trên
một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu xã
hội.
Xuất phát từ tiền đề đầu tiên của lịch sử là những con người cụ thể, "đó là những cá
nhân hiện thực, là hoạt động của họ, và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những
điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra"


[39, tr. 28-29], C.Mác đã khám phá ra một chân lý hiển nhiên là con người có nhiều hoạt
động nhưng hoạt động đầu tiên phải là hoạt động để duy trì sự sống của con người. Nghĩa
là con người trước hết phải lao động sản xuất để tạo ra thức ăn, nhà ở, nước uống, quần
áo v.v... trước khi có những hoạt động khác. Do đó có thể khẳng định: hành động lịch sử
đầu tiên của con người là hành động sản xuất của cải vật chất. Chính trong quá trình sản
xuất vật chất buộc những con người, dù có nguyện vọng khác nhau, phải tham gia vào
các mối quan hệ với nhau mà trước hết là quan hệ với nhau trong sản xuất vật chất. Và

LLSX với QHSX vẫn là nguyên nhân sâu xa quyết định sự thay thế PTSX và sự phát
triển xã hội. Tuy nhiên, trong các xã hội đó, việc giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và
QHSX bao giờ cũng được giải quyết thông qua mâu thuẫn giai cấp, qua đấu tranh giai
cấp mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã hội. Các ông viết:
Như chúng ta đã thấy, mâu thuẫn ấy giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp đã
xảy ra nhiều lần trong lịch sử từ trước đến nay, song vẫn không làm biến đổi cơ sở cơ bản
của nó, thì lần nào cũng đều phải nổ ra thành một cuộc cách mạng, đồng thời lại mang
những hình thức phụ khác như: sự tổng hợp của những xung đột, những sự va chạm giữa
các giai cấp khác nhau, sự mâu thuẫn về ý thức, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị
v.v... [39, tr.107].


Từ nghiên cứu về PTSX, C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục xem xét tới các mặt khác của
xã hội. Các ông chỉ rõ bất kỳ xã hội cụ thể nào cũng có những QHSX hợp thành cơ sở
kinh tế của xã hội đó và tương ứng với nó là một KTTT xã hội phù hợp. KTTT là một
khái niệm có nội dung rộng lớn bao quát các tư tưởng xã hội, các thể chế xã hội các mối
quan hệ qua lại giữa chúng. KTTT bao giờ cũng được hình thành trên một cơ sở hiện
thực, đó là CSHT của xã hội. Xem xét quan hệ giữa CSHT và KTTT, học thuyết HTKTXH đã chỉ ra rằng: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã
hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng nên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và
chính trị, và tương ứng với cơ sở thực tại đó thì có những hình thái ý thức xã hội nhất
định" [42, tr.15].
Như vậy theo quan niệm HTKT-XH thì giữa CSHT và KTTT có mối quan hệ biện
chứng với nhau, trong CSHT bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên cần phải nói
thêm rằng luận điểm về vai trò quyết định của cơ sở kinh tế, mà sau này C.Mác và
Ph.Ăngghen đã lưu ý, phải được hiểu là "xét cho đến cùng" chứ không phải là tuyệt đối
hóa vai trò của kinh tế mà không thấy vai trò to lớn của các nhân tố trong KTTT. Các
nhân tố trong KTTT có tính độc lập tương đối và luôn luôn có sự tác động trở lại tới sự
vận động của cơ sở kinh tế.
Việc xem xét xã hội như một chỉnh thể đã cho phép C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng
nên một học thuyết HTKT-XH hoàn chỉnh. Vấn đề HTKT-XH lần đầu tiên được các ông


đã tạo ra xu thế phát triển liên tục của xã hội từ hình thái thấp lên hình thái cao hơn theo
cả hai khuynh hướng, trình tự hoặc rút ngắn, tùy từng điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia.
Như vậy có thể thấy học thuyết HTKT-XH là một học thuyết hoàn chỉnh, đưa lại một
cách tiếp cận về xã hội hoàn toàn mới. Sự ra đời của học thuyết đã đưa lại một thế giới
quan và phương pháp luận mới, mang bản chất khoa học và cách mạng trong nhận thức
và cải tạo xã hội.
Với nội dung như vậy, học thuyết "hình thái' có một giá trị khoa học và cách mạng sâu
sắc. Giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết gắn liền với nhau, không thể tách
bạch. Trong tính khoa học đã bao hàm tính cách mạng và ngược lại. Giá trị khoa học và
cách mạng của học thuyết bao hàm nhiều vấn đề, song có thể nhận thức giá trị của nó ở
những điểm chính.
Một là: Học thuyết đã đưa lại một cách tiếp cận khoa học và cách mạng trong nhận
thức về xã hội.
Trước khi học thuyết HTKT-XH xuất hiện, tất cả các quan điểm giải thích về lịch sử
đều lúng túng trước tính phức tạp của đời sống xã hội là vì vậy đã đi vào cắt nghĩa lịch sử
hoặc từ những nguyên nhân tinh thần ý thức, hoặc từ một vài yếu tố riêng lẻ nào đó. Do
đó tất cả các quan điểm nghiên cứu về xã hội trước đó, hoặc rơi vào lập trường duy tâm
chủ nghĩa, hoặc rơi vào quan điểm duy vật siêu hình, trong đó lập trường duy tâm chủ
nghĩa thống trị. Với sự xuất hiện của học thuyết "hình thái", lần đầu tiên đã đưa lại một
cách giải thích lịch sử duy vật khoa học, đã đẩy chủ nghĩa duy tâm ra khỏi "cái hầm trú
ẩn" cuối cùng của nó, đã đem lại một cuộc cách mạng trong nhận thức về lĩnh vực xã hội.
Học thuyết đã đưa ra một cách nhìn khoa học về nguyên nhân, động lực của sự phát triển
lịch sử, về sự phân loại các chế độ xã hội và sự phân kỳ lịch sử nói chung.


Phương pháp duy vật khoa học của học thuyết được biểu hiện ngay ở việc xác định căn
cứ xuất phát đầu tiên để nghiên cứu lịch sử. Nếu như các quan điểm trước đó xuất phát từ
những tiền đề tinh thần, từ những cá nhân trừu tượng phi hiện thức thì C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khẳng định tư tưởng về xã hội của mình dựa trên một tiền đề vững chắc:

đòi hỏi phải nhận thức được các quan hệ cơ bản của xã hội, đánh giá đúng đắn vai trò của
các chiều tác động trong từng quan hệ, không được tuyệt đối hóa một quan hệ nào đó,
hoặc tuyệt đối hóa một chiều riêng biệt của một quan hệ nào đó. Mọi sự tuyệt đối hóa
một nhân tố riêng lẻ, một mối quan hệ đến mức không thấy hết vai trò của các nhân tố,
quan hệ khác đều có thể dẫn đến những nhận thức sai lầm về xã hội.
Với những phát hiện này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển chủ nghĩa duy vật và
phép biện chứng, vốn là tinh hoa của tư tưởng nhân loại, lên một trình độ mới, khác về
chất trong nhận thức xã hội. Có thể nói rằng chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã là người đầu
tiên đưa ra một phương pháp tiếp cận hoàn toàn mới, có tính cách mạng về xã hội, vượt
lên mọi tư tưởng đương thời. Phương pháp mới đó đòi hỏi phải nhận thức xã hội trên lập
trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng - Tức là xem xét xã hội phải xuất phát những cơ
sở vật chất hiện thực của nó. Trên cơ sở đó mà đánh giá đúng vị trí, vai trò của các nhân
tố, liên hệ đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ngày nay có những quan điểm phản
đối C.Mác, phủ nhận lý luận HTKT-XH, nhưng thực ra vẫn không vượt ra ngoài khuôn


khổ tiếp cận mà C.Mác đã vạch ra. Chẳng hạn tác giả của phương pháp tiếp cận bằng các
nền văn minh phê phán học thuyết HTKT-XH là phương pháp tiếp cận hạn hẹp, phiến
diện vì nó " dựa trên định đề cơ bản coi sản xuất vật chất là nền tảng của đời sống xã
hội", nó không còn phù hợp với nhận thức thời đại hiện nay; rằng đó là thứ lý luận theo
chủ thuyết "trọng vật chất" "thô thiển", "ngạo mạn và tự đắc" [78, tr.121]; rằng lý luận
đó đã không nhìn thấy mối liên hệ nhiều vẻ, đặc biệt là "mối liên hệ ngược" của các nhân
tố xã hội v.v... [78, tr. 147]. Chúng ta thừa nhận, do sự vận động của thực tiễn, có một số
vấn đề cụ thể của học thuyết cần được phát triển, chẳng hạn về vị trí và vai trò của khoa
học - công nghệ đối với sự phát triển của sản xuất nói riêng, xã hội nói chung; chẳng hạn
hiểu về LLSX hiện nay cần thấy vị trí ngày càng chủ yếu của lao động trí tuệ là do vậy
phải nhấn mạnh chiều sâu trong sự phát triển của nó; chẳng hạn hiểu về chế độ sở hữu
cần thấy vị trí của sở hữu trí tuệ v.v... Tuy nhiên với tính cách là phương pháp tiếp cận,
học thuyết vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cách tiếp cận khoa học nhất trong thời đại hiện
nay. Thực ra chính những quan điểm phê phán học thuyết lại chỉ xuất phát từ một nhân tố

Rõ ràng nếu không có con người và hoạt động thực tiễn của con thì không có xã hội,
không có lịch sử. Con người là một nhân tố năng động, sáng tạo. Hoạt động thực tiễn của
con người là hoạt động có mục đích, có ý thức. Chính con người là nhân tố hàng đầu


trong LLSX, là chủ thể trong toàn bộ quá trình sản xuất và mọi hoạt động xã hội. Hoạt
động thực tiễn của con người trên tất cả các lĩnh vực, trải qua các thế hệ, các thời đại đã
tạo ra dòng chảy liên tục của lịch sử xã hội, tạo ra sự phát triển của lịch sử. Với những
khẳng định đó, học thuyết "Hình thái" đã chỉ rõ động lực vĩnh hằng của sự phát triển lịch
sử xã hội là hoạt động thực tiễn của con người. Điều đó cho thấy tính chất vô lý của các
luận điểm phê phán học thuyết cho rằng học thuyết chỉ thấy vai trò của yếu tố kinh tế mà
bỏ qua con người, không thấy vai trò của con người trong sự phát triển xã hội. Trái lại,
thông qua cách đánh giá đúng về hoạt động của nhân tố đó, học thuyết đã nhấn mạnh vai
trò to lớn của nhân tố con người, đề cao vị trí của con người đối với sự vận động của lịch
sử. Học thuyết đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao cả và một giá trị khoa học không thể
phủ nhận được.
Đồng thời và gắn bó khăng khít với hoạt động thực tiễn. Học thuyết "Hình thái" đã chỉ
ra vai trò chi phối có tính quyết định của các quy luật lịch sử khách quan. Sự phát triển
của xã hội không phải hiện tượng ngẫu nhiên, không phải do thượng đế quyết định,
không tuân theo ý chí chủ quan của một lực lượng xã hội nào đó mà luôn tuân theo các
quy luật khách quan. Trong đó, những quy luật có vai trò quan trọng nhất là quy luật về
sự phù hợp của QHSX với tính chất, trình độ của LLSX và quy luật về quan hệ giữa
CSHT với KTTT xã hội. Học thuyết đã chỉ rõ LLSX và QHSX vốn được hình thành
trong quá trình sản xuất của con người. Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng khách
quan và quan hệ đó đã tạo thành quy luật khách quan chi phối mọi quá trình sản xuất.
Chính quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX là một quy
luật khách quan cơ bản của mọi PTSX, mọi thời kỳ lịch sử. Quy luật đó là một động lực
quan trọng nhất chi phối sự phát triển của lịch sử xã hội. C.Mác chỉ rõ rằng, do sự vận



nhìn hoàn toàn mới. Từ vô số các quan hệ xã hội, học thuyết đã phân thành hai loại quan
hệ cơ bản là quan hệ vật chất và các quan hệ tinh thần tư tưởng. Trong các quan hệ vật
chất - những quan hệ hình thành một cách khách quan đối với ý thức con người - Học
thuyết đã làm nổi bật quan hệ vật chất đầu tiên, tất yếu đó là QHSX. QHSX tồn tại một
cách khách quan, không tùy thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ một giai cấp, cá nhân
nào:
Như vậy là ngay từ đầu đã có một hệ thống những mối liên hệ vật chất giữa người với
người, một hệ thống bị quy định bởi những nhu cầu và phương thức sản xuất và cũng lâu
đời như bản thân loài người - một hệ thống những mối liên hệ không ngừng mang những
hình thức mới... Ngay cả khi chưa có bất cứ một điều nhảm nhí nào về chính trị hoặc về
tôn giáo gắn bó thêm con người với nhau [39, tr.43].
QHSX tồn tại trong sự thống nhất của cả hai chức năng: chức năng kinh tế và chức
năng xã hội. Ở chức năng kinh tế, QHSX bao giời cũng tồn tại gắn liền với những LLSX
nhất định, là môi trường, điều kiện và là một trong những động lực cho LLSX phát triển.
Ở chức năng xã hội, QHSX là quan hệ nền tảng quy định các quan hệ chính trị và tinh
thần của xã hội, là cơ sở của các mối quan hệ xã hội. Ở những xã hội có giai cấp, QHSX
mà xét cho tới cùng là chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất quyết định chiếm hữu và chi


phối quyền lực chính trị, và sau đó là các lĩnh vực tinh thần, tư tưởng của xã hội. QHSX
chính là cái "tạo thành cơ sở nền tảng cho tính chỉnh thể", "cho sự cố kết, thống nhất các
bộ phận, yếu tố cấu thành và các mối liên hệ xã hội" [69, tr.33]. Với ý nghĩa đó,
V.I.Lênin cho rằng Mác phát hiện ra QHSX là đã tìm ra một quan hệ cơ bản nhất của cơ
thể xã hội. Với chức năng và vị trí như vậy, QHSX, thống nhất với một trình độ LLSX
nhất định, trở thành tiêu chuẩn khách quan để xem xét sự tiến bộ của lịch sử, để phân biệt
tính chất xã hội của các thời kỳ lịch sử khác nhau, các chế độ xã hội khác nhau. Căn cứ
vào tiêu chuẩn khách quan đó mà xem xét tính lặp lại, tính quy luật lịch sử. Từ tiêu chuẩn
khách quan đó mà học thuyết "Hình thái" đã đưa ra sự phân kỳ lịch sử một cách khoa
học: lịch sử bao gồm các thời kỳ là xã hội cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, TBCN và cộng sản chủ nghĩa. Mỗi thời kỳ đó được biểu hiện tập trung trong một

cái đang tồn tại, tóm lại là kết quả vận động của những tiền đề hiện đang tồn tại.
Như vậy cũng có thể nói rằng, khi chứng minh tính tất yếu của một trật tự xã hội hiện
đang tồn tại, học thuyết "Hình thái" cũng chứng minh luôn tính tất yếu của sự diệt vong
của nó, chứng minh luôn tính tất yếu của một trật tự khác mà trật tự hiện tồn tại nhất định
phải đi tới. Học thuyết HTKT-XH nghiên cứu trật tự TBCN và chỉ ra rằng CNTB là một
chế độ xã hội tiến bộ của lịch sử. Sự xuất hiện của nó không phải từ hư không mà từ
những tiền đề do xã hội phong kiến tạo ra, đồng thời trật tự tư sản cũng không thể tồn tại


vĩnh hằng mà do những quy luật của chính nó, những mâu thuẫn nội tại của nó, những
tiền đề do xã hội phong kiến tạo ra, đồng thời trật tự tư sản cũng không thể tồn tại vĩnh
hằng mà do những quy luật của chính nó, những mâu thuẫn nội tại của nó, những tiền đề
mà nó bắt buộc phải tạo ra, nó sẽ bị thay thế bằng một trật tự xã hội cao hơn là chủ nghĩa
cộng sản. Những dự đoán của C.Mác về điều đó đang được lịch sử hiện đại chứng minh.
CNTB càng tìm cách phát triển LLSX thì lại càng thúc đẩy tính xã hội hóa về sở hữu,
quản lý, phân phối, càng thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa đời sống nhân loại. Đó chính là
những đặc trưng của một xã hội khác cao hơn hình thái TBCN. CNTB đang tiến dần đến
giới hạn cuối cùng của nó, đến sự diệt vong tất yếu của nó.
Rõ ràng hình học thuyết HTKT-XH đã thể hiện tính khoa học và cách mạng sâu sắc.
Giá trị khoa học và cách mạng thống nhất chặt chẽ với nhau ở chỗ "nó giải thích rõ
những quy luật đặc thù chi phối sự phát sinh, tồn tại, phát triển và diệt vong của một trật
tự xã hội nhất định và sự thay thế nó bằng một cơ thể khác cao hơn" [26, tr.12 ].Mặt khác, giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết còn được thể hiện ở chính chức
năng phương pháp luận của nó. Học thuyết không chỉ giải thích sự tiến lên của lịch sử mà
còn là phương pháp chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong xây dựng một xã hội cụ thể một
cách tự giác hơn. Học thuyết đòi hởi sự vận dụng nó không phải như một bản thiết kế có
sẵn mà phải với tinh thần linh hoạt, sáng tạo, gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể. Mọi
sự áp dụng giáo điều, rập khuôn, máy móc đều xa lạ với tính phương pháp, tính cách
mạng của học thuyết.
Do tính cách mạng và khoa học của nó, học thuyết HTKT-XH từ khi ra đời đến nay đã
nhiều lần phải đương đầu với sự chống đối, công kích của các trào lưu tư tưởng đối lập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status