LUẬN án TIẾN sỹ học THUYẾT HÌNH THÁI KINH tế xã hội với VIỆC vận DỤNG CON ĐƯỜNG đi lên CNXH ở VIỆT NAM - Pdf 37

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CNTB

Chủ nghĩa tư bản

CNH, HĐH

công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CSHT

Cơ sở hạ tầng

ĐHXHCN

Định hướng xã hội chủ nghĩa

HTKT-XH

hình thái kinh tế - xã hội

KTTT

Kiến trúc thượng tầng

LLSX


không thể thực hiện được, rằng thực hiện CNXH trong kinh tế thị trường là "con đường
hầm" không có lối ra v.v... Do tính mới mẻ của nó, hướng đi này sẽ có những khó khăn,
thách thức và cũng chứa đựng những nguy cơ, trong đó nguy cơ chệch hướng XHCN nổi
lên hàng đầu. Rõ ràng vấn đề ĐHXHCN cần được xem xét và khẳng định rõ hơn trong
điều kiện mới. Vì vậy, ĐHXHCN trở thành vấn đề vừa có tính lý luận, vừa có tính thực
tiễn cấp bách cần được nghiên cứu, làm sáng tỏ.
ĐHXHCN ở Việt Nam được khẳng định dựa trên những cơ sở khoa học trong đó cơ sở
lý luận có tầm quan trọng đặc biệt là học thuyết Mác-Lênin về HTKT-XH. Tuy vậy từ
sau khi CNXH hiện thực ở một số nước tan rã, sụp đổ thì học thuyết Mác-Lênin nói
chung, HTKT-XH nói riêng đang bị xuyên tạc và công kích từ nhiều phía. Kẻ thù của
CNXH đang lớn tiếng cho rằng lý luận HTKT-XH đã lạc hậu lỗi thời, cần được thay thế.
Các phần tử cơ hội dưới mọi màu sắc, tìm mọi cách phủ nhận học thuyết. Có những
người trong cán bộ, Đảng viên cũng tỏ ra nghi ngờ, kém tin tưởng ở sức sống của học
thuyết, do dự trong việc vận dụng học thuyết vào thực tiễn... Vì vậy việc khẳng định
những giá trị khoa học đích thực của học thuyết, từ đó mà có phương hướng vận dụng
đúng đắn sáng tạo vào trong thực tiễn xây dựng CNXH là vấn đề đang được đặt ra.
Trong thực xây dựng CNXH ở Việt Nam những năm trước đây, việc vận dụng học
thuyết HTKT-XH cũng còn những sai lầm, hạn chế. Những sai lầm, hạn chế đó là do
nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về nhận thức. Do trình độ nhận thức về học

2


thuyết còn hạn chế, thậm chí còn lệch lạc ở một số vấn đề cụ thể, mặt khác do sự vận
dụng còn mang tính giáo điều, thiếu sáng tạo, chưa phản ánh đầy đủ hoàn cảnh lịch sử cụ
thể của đất nước mà đã dẫn đến những sai lầm trong thực tiễn xây dựng CNXH, ảnh
hưởng tiêu cực tới tiến trình phát triển của đất nước. Muốn đưa đất nước tiến lên CNXH
phải đổi mới nhận thức, phải vận dụng sáng tạo học thuyết vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam và đặc điểm mới của thời đại.
Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi chọn đề tài "Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội

Giáo sư, tiến sĩ Lê Hữu nghĩa "Về nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (Tạp chí Sinh hoạt lý luận số 11999) đã đưa ra những quan điểm trong nhận thức về định hướng và giữ vững ĐHXHCN
của Đảng ta.

5


- Giáo sư, tiến sĩ Phạm Ngọc Quang "Định hướng và giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa - một số vấn đề lý luận (Tạp chí Sinh hoạt lý luận số 1-1999) đã đưa ra quan điểm
trong nhận thức về định hướng và giữ vững ĐHXHCN ở nước ta.
- Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Tĩnh Gia: "Cách tiếp cận lịch sử bằng các nền văn minh"
(Tạp chí Cộng sản số 1-2000) đã trên cơ sở chỉ rõ các hạn chế của cách tiếp cận bằng các
nền văn minh để khẳng định giá trị của học thuyết HTKT-XH.
- Phó giáo sư, tiến sĩ Vũ Văn Viên: "Sự chuyển đổi mô hình kinh tế ở nước ta hiện nay
và quan niệm của Mác về con đường CNXH".
- Tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa: "Học thuyết Mác về Hình thái kinh tế - xã hội - cơ sở lý
luận của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa".
v.v..
Ngoài các sách và bài viết, trong thời gian gần đây cũng có một số luận án tiến sĩ tập
trung nghiên cứu các đề tài gần gũi với vấn đề như:
- Nguyễn Văn Oánh: "Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: nội dung cơ bản và
những điều kiện chủ yếu để thực hiện" (Luận án Phó tiến sĩ Triết học chuyên ngành
CNCSKH, mã số 5.01.03, Hà Nội 1994). Tác giả đã phân tích nội dung và các điều kiện
chủ yếu để thực hiện ĐHXHCN ở nước ta.
- Trương Hữu Hoàn: "Quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
và vấn đề nhận thức, vận dụng quy luật này ở một số nước xã hội chủ nghĩa" (Luận án
phó tiến sĩ triết học chuyên ngành CNDVBC và CNDVLS mã số 5.01.02, Hà Nội 1995).
Tác giả đã có khía cạnh đề cập đến sự vận dụng quy luật nói trên trong thời kỳ quá độ lên
CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Nam.


Luận án không đi vào xem xét một cách toàn diện các vấn đề của học thuyết HTKTXH, cũng không xem xét toàn diện các mặt của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.
Luận án trên hướng tiếp cận của học thuyết HTKT-XH để đi vào luận giải một số khía
cạnh của vấn đề ĐHXHCN và giữ vững ĐHXHCN hiện nay ở Việt Nam.
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về
HTKT-XH, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng CNXH để
giải quyết những vấn đề trong đề tài.
- Cơ sở thực tiễn: Dự vào thực tiễn xây dựng CNXH đã và đang diễn ra ở Việt Nam,
tham khảo bài học kinh nghiệm để đảm bảo mục tiêu CNXH ở một số nước khác trước
đây và hiện nay để luận chứng những vấn đề trong đề tài. Đồng thời đó cũng là những cơ
sở thực tiễn quan trọng để luận án đưa ra những giải pháp nhằm giữ vững ĐHXHCN
trong điều kiện mới hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án vận dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử để luận giải các nội dung đặt ra, trong đó chú trọng sử dụng phương pháp lôgíc lịch sử, phân tích - tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tế vv...
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

8


- Luận án góp phần làm rõ hơn vấn đề ĐHXHCN và tính đúng đắn của sự lựa chọn
ĐHXHCN ở nước ta hiện nay.
- Luận án góp phần vào việc tìm ra các nguyên tắc và giải pháp lớn nhằm giữ vững
mục tiêu XHCN trong điều kiện mới của Việt Nam.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Với những đóng góp trên, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng
dạy, nghiên cứu về học thuyết HTKT-XH và sự vận dụng học thuyết đó trong xây dựng
CNXH ở các trường Đại học, trường Chính trị và những người quan tâm.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương 6 tiết và phần danh mục tài liệu
tham khảo

đường nghiên cứu lịch sử nhưng Hêghen không thể đi đến những quy luật lịch sử đích
thực. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi theo con đường khác hẳn, đó là con đường dựa trên
một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu xã
hội.
Xuất phát từ tiền đề đầu tiên của lịch sử là những con người cụ thể, "đó là những cá
nhân hiện thực, là hoạt động của họ, và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những
điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra"

10


[39, tr. 28-29], C.Mác đã khám phá ra một chân lý hiển nhiên là con người có nhiều hoạt
động nhưng hoạt động đầu tiên phải là hoạt động để duy trì sự sống của con người. Nghĩa
là con người trước hết phải lao động sản xuất để tạo ra thức ăn, nhà ở, nước uống, quần
áo v.v... trước khi có những hoạt động khác. Do đó có thể khẳng định: hành động lịch sử
đầu tiên của con người là hành động sản xuất của cải vật chất. Chính trong quá trình sản
xuất vật chất buộc những con người, dù có nguyện vọng khác nhau, phải tham gia vào
các mối quan hệ với nhau mà trước hết là quan hệ với nhau trong sản xuất vật chất. Và
đến lượt nó, sự vận động của nền sản xuất vật chất lại quy định diện mạo và sự vận động
của các quan hệ xã hội. Với quan điểm đó, học thuyết HTKT-XH đã đi đến kết luận sản
xuất vật chất là nền tảng của đời sống xã hội, là cơ sở của tính thống nhất, tính chỉnh thể
của xã hội. Nghiên cứu lịch sử trước hết phải xuất phát từ cơ sở thực tại đó.
Cơ sở thực tại đó là do con người tham gia vào và tạo ra. Tuy nhiên, con người tham
gia vào quá trình sản xuất vật chất và đồng thời là vào các quan hệ xã hội, không phải với
tư cách là những cá nhân trừu tượng mà với tư cách là những cá nhân hiện thực đã đạt
đến một trình độ nhất định của LLSX. Các mối quan hệ xã hội, trước hết là QHSX, cũng
do con người tạo ra, nhưng không phải tạo ra một cách tùy tiện mà là trên một trình độ
nhất định của LLSX. Đến lượt mình, các quan hệ xã hội lại quy định nhu cầu của con
người và sự vận động của nền sản xuất. Với lập luận đó, lý luận HTKT-XH đã chỉ rõ
nhân tố cốt lõi, quyết định trong nền sản xuất vật chất của xã hội là PTSX với hai mặt gắn


12


Từ nghiên cứu về PTSX, C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục xem xét tới các mặt khác của
xã hội. Các ông chỉ rõ bất kỳ xã hội cụ thể nào cũng có những QHSX hợp thành cơ sở
kinh tế của xã hội đó và tương ứng với nó là một KTTT xã hội phù hợp. KTTT là một
khái niệm có nội dung rộng lớn bao quát các tư tưởng xã hội, các thể chế xã hội các mối
quan hệ qua lại giữa chúng. KTTT bao giờ cũng được hình thành trên một cơ sở hiện
thực, đó là CSHT của xã hội. Xem xét quan hệ giữa CSHT và KTTT, học thuyết HTKTXH đã chỉ ra rằng: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã
hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng nên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và
chính trị, và tương ứng với cơ sở thực tại đó thì có những hình thái ý thức xã hội nhất
định" [42, tr.15].
Như vậy theo quan niệm HTKT-XH thì giữa CSHT và KTTT có mối quan hệ biện
chứng với nhau, trong CSHT bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên cần phải nói
thêm rằng luận điểm về vai trò quyết định của cơ sở kinh tế, mà sau này C.Mác và
Ph.Ăngghen đã lưu ý, phải được hiểu là "xét cho đến cùng" chứ không phải là tuyệt đối
hóa vai trò của kinh tế mà không thấy vai trò to lớn của các nhân tố trong KTTT. Các
nhân tố trong KTTT có tính độc lập tương đối và luôn luôn có sự tác động trở lại tới sự
vận động của cơ sở kinh tế.
Việc xem xét xã hội như một chỉnh thể đã cho phép C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng
nên một học thuyết HTKT-XH hoàn chỉnh. Vấn đề HTKT-XH lần đầu tiên được các ông
đặt ra và xem xét trong "Hệ tư tưởng Đức". Các ông quan niệm HTKT-XH là xã hội "ở
vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, một xã hội có tính độc đáo riêng biệt" [41,
tr.553]. Và ở trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển
rõ hơn tư tưởng đó. Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1883,

13



cách tiếp cận về xã hội hoàn toàn mới. Sự ra đời của học thuyết đã đưa lại một thế giới
quan và phương pháp luận mới, mang bản chất khoa học và cách mạng trong nhận thức
và cải tạo xã hội.
Với nội dung như vậy, học thuyết "hình thái' có một giá trị khoa học và cách mạng sâu
sắc. Giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết gắn liền với nhau, không thể tách
bạch. Trong tính khoa học đã bao hàm tính cách mạng và ngược lại. Giá trị khoa học và
cách mạng của học thuyết bao hàm nhiều vấn đề, song có thể nhận thức giá trị của nó ở
những điểm chính.
Một là: Học thuyết đã đưa lại một cách tiếp cận khoa học và cách mạng trong nhận
thức về xã hội.
Trước khi học thuyết HTKT-XH xuất hiện, tất cả các quan điểm giải thích về lịch sử
đều lúng túng trước tính phức tạp của đời sống xã hội là vì vậy đã đi vào cắt nghĩa lịch sử
hoặc từ những nguyên nhân tinh thần ý thức, hoặc từ một vài yếu tố riêng lẻ nào đó. Do
đó tất cả các quan điểm nghiên cứu về xã hội trước đó, hoặc rơi vào lập trường duy tâm
chủ nghĩa, hoặc rơi vào quan điểm duy vật siêu hình, trong đó lập trường duy tâm chủ
nghĩa thống trị. Với sự xuất hiện của học thuyết "hình thái", lần đầu tiên đã đưa lại một
cách giải thích lịch sử duy vật khoa học, đã đẩy chủ nghĩa duy tâm ra khỏi "cái hầm trú
ẩn" cuối cùng của nó, đã đem lại một cuộc cách mạng trong nhận thức về lĩnh vực xã hội.
Học thuyết đã đưa ra một cách nhìn khoa học về nguyên nhân, động lực của sự phát triển
lịch sử, về sự phân loại các chế độ xã hội và sự phân kỳ lịch sử nói chung.
15


Phương pháp duy vật khoa học của học thuyết được biểu hiện ngay ở việc xác định căn
cứ xuất phát đầu tiên để nghiên cứu lịch sử. Nếu như các quan điểm trước đó xuất phát từ
những tiền đề tinh thần, từ những cá nhân trừu tượng phi hiện thức thì C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khẳng định tư tưởng về xã hội của mình dựa trên một tiền đề vững chắc:
"Nó xuất phát từ những tiền đề hiện thực và không phút nào xa rời những tiền đề ấy" [39,
tr.38]. Đó là con người hiện thực, đang sống, đang hoạt động trong thực tiễn.
Xuất phát từ tiền đề hiện thực đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét vai trò của nền sản

các chiều tác động trong từng quan hệ, không được tuyệt đối hóa một quan hệ nào đó,
hoặc tuyệt đối hóa một chiều riêng biệt của một quan hệ nào đó. Mọi sự tuyệt đối hóa
một nhân tố riêng lẻ, một mối quan hệ đến mức không thấy hết vai trò của các nhân tố,
quan hệ khác đều có thể dẫn đến những nhận thức sai lầm về xã hội.
Với những phát hiện này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển chủ nghĩa duy vật và
phép biện chứng, vốn là tinh hoa của tư tưởng nhân loại, lên một trình độ mới, khác về
chất trong nhận thức xã hội. Có thể nói rằng chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã là người đầu
tiên đưa ra một phương pháp tiếp cận hoàn toàn mới, có tính cách mạng về xã hội, vượt
lên mọi tư tưởng đương thời. Phương pháp mới đó đòi hỏi phải nhận thức xã hội trên lập
trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng - Tức là xem xét xã hội phải xuất phát những cơ
sở vật chất hiện thực của nó. Trên cơ sở đó mà đánh giá đúng vị trí, vai trò của các nhân
tố, liên hệ đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ngày nay có những quan điểm phản
đối C.Mác, phủ nhận lý luận HTKT-XH, nhưng thực ra vẫn không vượt ra ngoài khuôn

17


khổ tiếp cận mà C.Mác đã vạch ra. Chẳng hạn tác giả của phương pháp tiếp cận bằng các
nền văn minh phê phán học thuyết HTKT-XH là phương pháp tiếp cận hạn hẹp, phiến
diện vì nó " dựa trên định đề cơ bản coi sản xuất vật chất là nền tảng của đời sống xã
hội", nó không còn phù hợp với nhận thức thời đại hiện nay; rằng đó là thứ lý luận theo
chủ thuyết "trọng vật chất" "thô thiển", "ngạo mạn và tự đắc" [78, tr.121]; rằng lý luận
đó đã không nhìn thấy mối liên hệ nhiều vẻ, đặc biệt là "mối liên hệ ngược" của các nhân
tố xã hội v.v... [78, tr. 147]. Chúng ta thừa nhận, do sự vận động của thực tiễn, có một số
vấn đề cụ thể của học thuyết cần được phát triển, chẳng hạn về vị trí và vai trò của khoa
học - công nghệ đối với sự phát triển của sản xuất nói riêng, xã hội nói chung; chẳng hạn
hiểu về LLSX hiện nay cần thấy vị trí ngày càng chủ yếu của lao động trí tuệ là do vậy
phải nhấn mạnh chiều sâu trong sự phát triển của nó; chẳng hạn hiểu về chế độ sở hữu
cần thấy vị trí của sở hữu trí tuệ v.v... Tuy nhiên với tính cách là phương pháp tiếp cận,
học thuyết vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cách tiếp cận khoa học nhất trong thời đại hiện

trước để lại, do đó mỗi thế hệ, một mặt tiếp tục phương thức hoạt động được truyền lại,
nhưng trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặt khác lại biến đổi những hoàn
cảnh cũ bằng một hoạt động đã hoàn toàn thay đổi [39, tr. 65].
Rõ ràng nếu không có con người và hoạt động thực tiễn của con thì không có xã hội,
không có lịch sử. Con người là một nhân tố năng động, sáng tạo. Hoạt động thực tiễn của
con người là hoạt động có mục đích, có ý thức. Chính con người là nhân tố hàng đầu

19


trong LLSX, là chủ thể trong toàn bộ quá trình sản xuất và mọi hoạt động xã hội. Hoạt
động thực tiễn của con người trên tất cả các lĩnh vực, trải qua các thế hệ, các thời đại đã
tạo ra dòng chảy liên tục của lịch sử xã hội, tạo ra sự phát triển của lịch sử. Với những
khẳng định đó, học thuyết "Hình thái" đã chỉ rõ động lực vĩnh hằng của sự phát triển lịch
sử xã hội là hoạt động thực tiễn của con người. Điều đó cho thấy tính chất vô lý của các
luận điểm phê phán học thuyết cho rằng học thuyết chỉ thấy vai trò của yếu tố kinh tế mà
bỏ qua con người, không thấy vai trò của con người trong sự phát triển xã hội. Trái lại,
thông qua cách đánh giá đúng về hoạt động của nhân tố đó, học thuyết đã nhấn mạnh vai
trò to lớn của nhân tố con người, đề cao vị trí của con người đối với sự vận động của lịch
sử. Học thuyết đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao cả và một giá trị khoa học không thể
phủ nhận được.
Đồng thời và gắn bó khăng khít với hoạt động thực tiễn. Học thuyết "Hình thái" đã chỉ
ra vai trò chi phối có tính quyết định của các quy luật lịch sử khách quan. Sự phát triển
của xã hội không phải hiện tượng ngẫu nhiên, không phải do thượng đế quyết định,
không tuân theo ý chí chủ quan của một lực lượng xã hội nào đó mà luôn tuân theo các
quy luật khách quan. Trong đó, những quy luật có vai trò quan trọng nhất là quy luật về
sự phù hợp của QHSX với tính chất, trình độ của LLSX và quy luật về quan hệ giữa
CSHT với KTTT xã hội. Học thuyết đã chỉ rõ LLSX và QHSX vốn được hình thành
trong quá trình sản xuất của con người. Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng khách
quan và quan hệ đó đã tạo thành quy luật khách quan chi phối mọi quá trình sản xuất.

21


Ba là: học thuyết HTKT-XH đã chỉ ra tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ
xã hội và sự phân kỳ lịch sử.
Xã hội là một chơ thể hết sức phức tạp bao gồm các hiện tượng xã hội và các quan hệ
xã hội đan xen, chồng chéo lên nhau. Đó chính là lý do để hầu hết các quan điểm về xã
hội trước Mác không thể phát hiện ra tiêu chuẩn khách quan của sự phân kỳ lịch sử và
phân loại các chế độ xã hội. Sự ra đời của học thuyết HTKT-XH đã đem lại một cách
nhìn hoàn toàn mới. Từ vô số các quan hệ xã hội, học thuyết đã phân thành hai loại quan
hệ cơ bản là quan hệ vật chất và các quan hệ tinh thần tư tưởng. Trong các quan hệ vật
chất - những quan hệ hình thành một cách khách quan đối với ý thức con người - Học
thuyết đã làm nổi bật quan hệ vật chất đầu tiên, tất yếu đó là QHSX. QHSX tồn tại một
cách khách quan, không tùy thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ một giai cấp, cá nhân
nào:
Như vậy là ngay từ đầu đã có một hệ thống những mối liên hệ vật chất giữa người với
người, một hệ thống bị quy định bởi những nhu cầu và phương thức sản xuất và cũng lâu
đời như bản thân loài người - một hệ thống những mối liên hệ không ngừng mang những
hình thức mới... Ngay cả khi chưa có bất cứ một điều nhảm nhí nào về chính trị hoặc về
tôn giáo gắn bó thêm con người với nhau [39, tr.43].
QHSX tồn tại trong sự thống nhất của cả hai chức năng: chức năng kinh tế và chức
năng xã hội. Ở chức năng kinh tế, QHSX bao giời cũng tồn tại gắn liền với những LLSX
nhất định, là môi trường, điều kiện và là một trong những động lực cho LLSX phát triển.
Ở chức năng xã hội, QHSX là quan hệ nền tảng quy định các quan hệ chính trị và tinh
thần của xã hội, là cơ sở của các mối quan hệ xã hội. Ở những xã hội có giai cấp, QHSX
mà xét cho tới cùng là chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất quyết định chiếm hữu và chi

22



hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó;
vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là
xét cả mặt nhất thời của hình thái đó, vì phép biện chứng... về thực chất thì có tính chất
phê phán và cách mạng... [47, tr.35-36].
Xu thế đó là bắt nguồn từ sự vận động của các mâu thuẫn nội tại trong HTKT-XH,
trong đó mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX là quyết định nhất. Xuất phát từ sự giải quyết
mâu thuẫn đó mà các mặt của xã hội không ngừng phát triển, mà tạo ra xu thế cho sự ra
đời của hình thái mới cao hơn. Xu thế đó là khách quan, tất yếu, không một lực lượng xã
hội nào kìm hãm nổi.
Như vậy, khi nghiên cứu một HTKT-XH nhất định, học thuyết không chỉ có giá trị
trong xem xét cái hiện tồn mà còn chỉ ra xu thế chuyển hóa của nó lên một hình thái mới,
trật tự xã hội mới cao hơn. Hình thái cao hơn ra đời bao giờ cũng có tiền đề từ hình thái
đang tồn tại, là sự phủ định có kế thừa và phát triển những nhân tố hợp lý, tích cực của
cái đang tồn tại, tóm lại là kết quả vận động của những tiền đề hiện đang tồn tại.
Như vậy cũng có thể nói rằng, khi chứng minh tính tất yếu của một trật tự xã hội hiện
đang tồn tại, học thuyết "Hình thái" cũng chứng minh luôn tính tất yếu của sự diệt vong
của nó, chứng minh luôn tính tất yếu của một trật tự khác mà trật tự hiện tồn tại nhất định
phải đi tới. Học thuyết HTKT-XH nghiên cứu trật tự TBCN và chỉ ra rằng CNTB là một
chế độ xã hội tiến bộ của lịch sử. Sự xuất hiện của nó không phải từ hư không mà từ
những tiền đề do xã hội phong kiến tạo ra, đồng thời trật tự tư sản cũng không thể tồn tại
24


vĩnh hằng mà do những quy luật của chính nó, những mâu thuẫn nội tại của nó, những
tiền đề do xã hội phong kiến tạo ra, đồng thời trật tự tư sản cũng không thể tồn tại vĩnh
hằng mà do những quy luật của chính nó, những mâu thuẫn nội tại của nó, những tiền đề
mà nó bắt buộc phải tạo ra, nó sẽ bị thay thế bằng một trật tự xã hội cao hơn là chủ nghĩa
cộng sản. Những dự đoán của C.Mác về điều đó đang được lịch sử hiện đại chứng minh.
CNTB càng tìm cách phát triển LLSX thì lại càng thúc đẩy tính xã hội hóa về sở hữu,
quản lý, phân phối, càng thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa đời sống nhân loại. Đó chính là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status