LUẬN văn THẠC sĩ ý THỨC PHÁP LUẬT với VIỆC xây DỰNG nền dân CHỦ xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm
tới việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), thực hiện dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ VIII
chỉ rõ:
Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm
thực hiện tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của
nhân dân. Bài học lớn là dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật,
kỷ cương. Khắc phục những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của
nhân dân, đồng thời chống khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá
khích, dứt khoát bác bỏ mọi mưu toan lợi dụng "dân chủ", "nhân
quyền" nhằm gây rối về chính trị, chống phá chế độ, hoặc can thiệp
vào nội bộ nước ta [16, tr. 71-72].
Mục tiêu trên đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Song thực tế những năm qua chúng ta thấy rằng:
Quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát
huy đầy đủ trong xã hội. Không ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ
hình thức, có nơi rất nghiêm trọng. Bệnh quan liêu, tư tưởng phong
kiến, gia trưởng còn nặng. Đồng thời cũng xuất hiện khuynh hướng
dân chủ cực đoan, dân chủ không đi liền với thực hiện kỷ luật và
pháp luật. Cơ chế và pháp luật bảo đảm thực hiện dân chủ chưa
được cụ thể hoá đầy đủ [15, tr . 41-42].
Ở nước ta trong suốt thời gian dài, không ít hiện tượng mất dân chủ,
dân chủ hình thức... Tình trạng này có nguyên nhân từ ý thức pháp luật thấp
kém, pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa trở thành cái không thể


2


văn thạc sĩ, sách, các bài viết trên các tạp chí, các báo... Chẳng hạn, một số
công trình sau đây:
1. Đề tài cấp bộ, cấp Nhà nước:
- Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật,
chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07, đề tài KX-07-17
(1995), Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật thuộc Trung tâm KHXH và
Nhân văn quốc gia
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công
cuộc đổi mới, Đề tài khoa học cấp bộ năm 1995 của Bộ Tư pháp.
2. Luận án tiến sĩ:
- Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ hành chính Nhà nước
ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, tác giả Lê Đình Khiên, năm
1996.
- Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt
Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Đào Duy Tấn, năm 2000.
- Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng
bằng sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án
tiến sĩ luật học, tác giả Hồ Việt Hiệp, năm 2000.
- Lôgíc khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật
ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân, năm 2001.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền dân chủ ở Việt
Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, tác giả Đỗ Trung Hiếu, năm 2002.
3. Sách, báo, tạp chí:
- Xã hội và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.
- Văn hoá pháp lý quá trình dân chủ hoá, Tạp chí Nghiên cứu lý luận,
số 4/1991, của tác giả Trần Ngọc Đường.


4

5

Trên cơ sở làm rõ vai trò của ý thức pháp luật, thực trạng của nó trong
quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện nước ta hiện nay:
b) Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện những
nhiệm vụ sau:
- Làm rõ vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng nền dân chủ
nói chung và xây dựng nền dân chủ XHCN nói riêng.
- Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến ý thức pháp luật và chỉ ra những
mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức pháp luật đáp
ứng yêu cầu xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong các phần có liên quan đến đề tài.
- Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác-xít, luận văn sử dụng các
phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, hệ thống - cấu trúc, điều tra khảo sát, thống kê - so sánh… trong nghiên cứu và trình bày.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình xây
dựng nền dân chủ nói chung và nền dân chủ XHCN nói riêng.
- Chỉ ra những mâu thuẫn đã và đang nảy sinh trong quá trình xây
dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ
và nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa thực tiễn và khả năng ứng dụng của đề tài


6

cầu này trong xã hội có giai cấp được các giai cấp thống trị nhận thức và hình
thành ý thức pháp luật của giai cấp mình.
Do đó đời sống pháp luật là một hiện thực khách quan, một bộ phận
của tồn tại xã hội, còn ý thức pháp luật là cái phản ảnh đời sống pháp luật đó.
Ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp, theo nghĩa thông thường là ý
thức chấp hành những quy định pháp luật của con người. Vì thế khi đánh giá
ý thức pháp luật của một tập thể, cá nhân nào đó người ta thường so sánh giữa
hành vi chấp hành của những đối tượng đó với yêu cầu của những quy định


8

trong văn bản pháp luật để đánh giá ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay
kém của họ. Quan niệm này đồng nhất ý thức pháp luật với một hình thức
biểu hiện cụ thể của nó, như vậy sẽ quá hẹp, thiếu toàn diện, chưa thể hiện rõ
được bản chất, vai trò năng động, sáng tạo của ý thức pháp luật.
Trong lý luận khoa học, ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng.
Tuy nhiên do mục đích và phương diện nghiên cứu khác nhau mà cho đến nay
cũng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật.
Quan niệm thứ nhất cho rằng: "Ý thức pháp luật là một hình thái ý
thức xã hội, biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật" [9, tr. 147].
Đây là quan niệm mang tính khái quát cao, nhưng lại quá chung chưa phản
ánh kết cấu nội dung của ý thức pháp luật.
Quan niệm thứ hai: Thường nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của ý
thức pháp luật. Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của ý thức pháp
luật như "ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật
và tâm lý pháp luật. Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những
hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình cảm pháp luật, cùng với sự tôn trọng
và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật" [63, tr. 235]. Xét về mặt bản
chất giai cấp, có quan niệm cho rằng: "Ý thức pháp luật XHCN là tổng hòa

hệ của còn người đối với các quy tắc được chấp nhận trong xã hội nhất định.
Ý thức pháp luật chịu sự tác động trực tiếp của ý thức chính trị bởi vì bản chất
pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền được thể hiện thành "luật lệ" mà
mỗi chế độ xã hội có giai cấp, chỉ có một hệ thống pháp luật duy nhất thể hiện
ý chí của giai cấp cầm quyền.
Ý thức đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa các cá nhân và những
quan điểm theo đó con người đánh giá chính "cái tôi" của mình, nghĩa vụ
công bằng mang tính nội tâm và tự nguyện. Còn ý thức pháp luật nghĩa vụ và
công bằng dân chủ được Nhà nước quy định, do đó mang tính cưỡng chế.
Nếu ý thức chính trị có tác động chi phối ý thức pháp luật nhất là hệ tư
tưởng chính trị thì ngược lại ý thức pháp luật là sự phản ánh những yêu cầu


11

chính trị dưới góc độ pháp luật. Bên cạnh đó, ý thức pháp luật và ý thức đạo
đức đều cùng hướng vào việc điều chỉnh hành vi con người, nên chúng chịu
ảnh hưởng và hỗ trợ nhau rất lớn. Như vậy ý thức pháp luật, ý thức chính trị
và ý thức đạo đức có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, mặc dù
khác nhau nhưng chúng cùng phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã hội,
nhất là sự quy định của chế độ kinh tế.
1.1.1.2. Kết cấu của ý thức pháp luật
Quá trình phân tích, làm rõ được kết cấu của ý thức pháp luật là tiền
đề quan trọng giúp chúng ta tìm ra những phương thức phù hợp tác động để
nâng cao ý thức pháp luật.
Kết cấu của ý thức pháp luật là cách thức tổ chức bên trong của ý thức
pháp luật, trong đó, giữa các nhân tố cấu thành của ý thức pháp luật vừa thống
nhất với nhau vừa tác động ảnh hưởng lẫn nhau và với các hiện tượng khác
trong đời sống xã hội.
Ý thức pháp luật là hiện tượng xã hội phức tạp, theo các lát cắt khác

nét. Ngược lại, nó sẽ trở thành hệ tư tưởng pháp luật lạc hậu, thậm chí phản
động. Song, dù có tiến bộ hay lạc hậu thì trong quá trình tồn tại và phát triển,
các hệ tư tưởng này luôn có ý thức chuyển hóa mạnh mẽ thành ý thức pháp
luật của toàn xã hội.
Ở nước ta hiện nay tư tưởng pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin và
Hồ Chí Minh được cụ thể hóa trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước ta. Một trong những đặc điểm cơ bản nhất của sự hình thành ý thức pháp
luật ở Việt Nam là quá trình tự giác dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây chính là nhân tố quyết định của bản chất giai cấp công nhân và tính nhân
dân của ý thức pháp luật. Muốn nâng cao được ý thức pháp luật chúng ta cần
dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, bản chất của pháp luật
làm cho các quan điểm đó trở thành hệ tư tưởng pháp luật chi phối đời sống


13

pháp luật toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó Nhà nước phải kịp
thời thể chế hóa đường lối chính trị của Đảng thành pháp luật để đưa đường
lối của Đảng đến toàn xã hội.
Để đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực,
trước hết pháp luật phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời
là công cụ hữu hiệu đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân
dân thực sự tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, giám sát các cơ quan
nhà nước trong việc thực thi pháp luật. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ ra
rằng những tư tưởng trên có vai trò hết sức to lớn trong công tác xây dựng
pháp luật, xây dựng nền pháp quyền XHCN cũng như công tác phổ biến giáo
dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật XHCN.
Hai là: Tâm lý pháp luật.

định trong tâm lý pháp luật. Nó được hình thành trong một thời gian dài và
trải qua thử thách, giúp cho con người hoạt động một cách tự tin và kiên định.
Vì vậy nó là yếu tố quan trọng trong việc hình thành ý thức pháp luật.
Trong mọi lĩnh vực cũng phải cân nhắc cẩn thận việc tiếp thu, kế thừa
truyền thống thói quen, bởi vì truyền thống thói quen có cả mặt tích cực và
mặt tiêu cực. Chẳng hạn, do điều kiện lịch sử, đất nước ta nhìn chung chưa có
thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, do vậy trong quá
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền chúng ta phải khắc phục hạn chế này.
Là một bộ phận của ý thức xã hội, luôn gắn liền với truyền thống tập
quán, thói quen của con người, tâm lý pháp luật, ít biến đổi, biến đổi chậm
chạp, do đó nó bền vững, bảo thủ hơn so với tư tưởng pháp luật. Cho nên
muốn xóa bỏ ý thức pháp luật lạc hậu, xây dựng ý thức pháp luật XHCN thì
cần phải có quá trình lâu dài, phức tạp.
Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng
với nhau. Tâm lý pháp luật ra đời một cách tự phát, nhưng chịu sự chi phối
của hệ tư tưởng pháp luật. Ngược lại, sự phát triển của hệ tư tưởng pháp luật


15

cũng chịu ảnh hưởng của tâm lý pháp luật. Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng
pháp luật là hai trình độ phản ánh đời sống pháp luật, nhưng có mối quan hệ
tác động lẫn nhau trong sự hình thành ý thức pháp luật.
1.1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong sự phát triển đời sống xã hội
Là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, ra đời và bị quy định bởi
tồn tại xã hội, ý thức pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
của đời sống xã hội nói chung, đời sống pháp luật nói riêng.
Xã hội là một thực thể vật chất và tinh thần. Tổng thể những quan niệm,
tư tưởng, lý luận, tình cảm, phong tục, truyền thống những cái hợp thành ý
thức xã hội tạo thành thực tại tinh thần của xã hội, là bộ phận hợp thành đời

Hiện nay pháp luật ở nước ta còn nhiều bất cập, nhiều lĩnh vực còn thiếu luật
hay luật đã ban hành nhưng không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Chẳng
hạn, trong lĩnh vực thương mại, Luật thương mại còn thiếu rất nhiều, luật của
chúng ta chưa đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển kinh tế trong điều kiện hội
nhập quốc tế. Mặc dù đã được bổ sung sửa đổi, song luật lại có hiện tượng
chắp vá, không thống nhất, do vậy khắc phục những bất hợp lý trên thì hệ tư
tưởng pháp luật phải đóng một vai trò quyết định trong sự điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Đảng ta rất quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật,
Đảng ta chỉ đạo rằng: "Ban hành một số luật mới và sửa đổi, bổ sung một số
luật và pháp lệnh hiện hành để tiếp tục thể chế hóa cương lĩnh, chiến lược và
các chủ trương, chính sách của Đảng, hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ,
cần thiết cho các hoạt động kinh tế" [16, tr. 100-101].
Như vậy muốn kinh tế phát triển, thúc đẩy đời sống xã hội đi lên thì
pháp luật phải là nhân tố quan trọng trong quá trình ổn định, điều chỉnh mọi
quan hệ xã hội. Điều đó chỉ được thực hiện khi có sự tác động tích cực của hệ
tư tưởng pháp luật, bởi vì nó giữ vai trò định hướng cho kinh tế và đời sống xã
hội.


17

Trên thực tế, có luật phù hợp cũng chưa hẳn là đời sống xã hội luôn
được ổn định phát triển, điều đó còn phụ thuộc vào tâm lý pháp luật. Trong
cùng một chế độ xã hội với cùng một hệ thống pháp luật nhưng vẫn có hiện
tượng coi thường pháp luật, bất chấp pháp luật, nên đã ảnh hưởng tới sự phát
triển chung của đời sống xã hội. Do trình độ nhận thức có hạn và thói quen
sống theo phong tục tập quán đã làm cho một số người ít quan tâm tới pháp
luật, họ có thái độ thờ ơ xem thường pháp luật. Hơn nữa một số đối tượng rất
am hiểu pháp luật nhưng luôn tìm mọi kẽ hở để lách luật, vi phạm pháp luật
nghiêm trọng, hành vi đó đã cản trở không nhỏ tới sự vận hành chung của nền

nhà nước điều chỉnh bằng sự cưỡng chế qua các chế tài của pháp luật. Do đó,
nếu có sự hiểu biết pháp luật càng đầy đủ, ý thức pháp luật XHCN càng cao
thì con người càng tự do trong hành động. Tuy nhiên, ý thức pháp luật cũng
có thể kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế hoặc một trong các yếu
tố hợp thành của hệ thống kinh tế, nếu sự điều chỉnh thông qua pháp luật mâu
thuẫn với nội dung, tính chất, quy luật của các quan hệ kinh tế.
Xét về mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật thì có thể nói rằng cơ
cấu kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu và hệ thống pháp luật ở mỗi
quốc gia. Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, pháp luật ra đời và
tồn tại không bắt nguồn trực tiếp từ nhu cầu và đòi hỏi của các quan hệ kinh
tế mà đóng vai trò chủ yếu là các phương tiện thực hiện chức năng kinh tế
mang tính áp đặt mệnh lệnh hành chính. Còn trong nền kinh tế thị trường,
pháp luật có tác động mạnh mẽ đến các quan hệ kinh tế, các quan hệ kinh tế
đòi hỏi đặt pháp luật đúng vị trí đích thực của nó để thúc đẩy quá trình sản
xuất kinh doanh, mệnh lệnh hành chính và sự áp đặt dần dần phải nhường chỗ
cho pháp luật. Trong cơ chế thị trường hiện nay ý thức pháp luật thông qua
pháp luật thực hiện chức năng điều chỉnh của mình, pháp luật điều chỉnh các
quan hệ nảy sinh trong quá trình sản xuất kinh tế, tạo hành lang pháp lý cho
các quá trình sản xuất kinh doanh và các quá trình sản xuất kinh tế sự ổn định
và an toàn. Sự điều chỉnh này không chỉ quy định hướng dẫn các hành vi ứng
xử của các chủ thể kinh doanh mà còn đảm bảo cho các hành vi ấy diễn ra


19

một cách trật tự hài hòa với quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên. Bên cạnh
đó nó còn tạo ra môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động kinh doanh và
cạnh tranh lành mạnh, công khai , các chủ thể tham gia quan hệ sản xuất kinh
doanh yên tâm rằng hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật
đương nhiên được pháp luật bảo vệ.

tuyển cử và hòa nhập sức mạnh với pháp luật.
Những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại cho rằng, để có một xã hội tốt đẹp
thì dân phải có quyền lực mạnh nhất, cao nhất, từ đó xuất hiện khái niệm "dân
chủ" (Demokratia). Xét về mặt ngữ nghĩa (Demokratia) trong tiếng Hy Lạp cổ
đại là từ ghép, được cấu từ hai từ gốc: Demos nghĩa là nhân dân và Kratos
nghĩa là quyền lực. Như vậy dân chủ (Demokratia) có nghĩa là quyền lực
thuộc về nhân dân.
Với định nghĩa trên chúng ta thấy đã tồn tại ba vế trong hiện thực, đó
là: Nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa hai yếu tố đó. Ở mỗi
thời đại lịch sử khác nhau thì cách hiểu về khái niệm nhân dân và tính chất
trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng sẽ khác nhau (chúng ta
sẽ phân tích sự khác biệt đó ở phần sau).
Điểm khác nhau căn bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại với
thời hiện đại là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công
cộng và cách hiểu còn hạn hẹp về khái niệm nhân dân. Ngày nay, dân chủ
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, như dân chủ với tư cách là hình thức nhà
nước, dân chủ với tư cách là hình thức phi nhà nước, dân chủ là giá trị xã
hội… Nhưng dân chủ với tư cách là nhà nước vẫn là cốt lõi.
Nhà nước Aten ra đời, thuật ngữ "chế độ dân chủ" mới xuất hiện. Khi
xã hội có giai cấp và Nhà nước thì dân chủ mang hình thức chính trị, trở thành
một chế độ chính trị - chế độ dân chủ. "Chế độ dân chủ là chế độ chính trị
trong đó quyền lực của nhân dân được thừa nhận và được thực hiện thông qua
các tổ chức dân cử, các quyền tự do và bình đẳng của công dân được pháp
luật ghi nhận" [70, tr. 149].


21

Trong hình thức chính trị, các giá trị của dân chủ được thực hiện chủ
yếu qua các thiết chế chính trị, mà cơ bản là thông qua nhà nước. Tự do, bình

Dân chủ, xét từ bản chất ngữ nghĩa của nó, là quyền lực thuộc về nhân
dân Song khi lý giải vấn đề này chúng ta phải thấy rằng: Nếu dân chủ có
trong thời đại chiếm hữu nô lệ, trong xã hội tư bản chủ nghĩa và trong xã hội
XHCN thì tất yếu phải có cái gì chung đặc trưng cho cái riêng đó, mà đã là
cái chung thì nó không còn là của một thời đại nào, giai cấp nào. Nó là một
giá trị mang tính nhân loại. Hơn nữa, với tính cách là một giá trị xã hội phản
ánh khát vọng của con người, dân chủ là một giá trị mang tính nhân văn, là
nấc thang mà nhân dân đã, đang và sẽ đi tới một xã hội thực sự văn minh tiến
bộ. Điều cốt yếu ở đây cần hiểu đúng thực chất cái chung trong cái riêng đó
chính là giá trị đích thực của dân chủ. Đã là một nền dân chủ thì nó phải
chứng tỏ quyền lực thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân mang nội dung thế
nào lại tùy thuộc vào các thời đại khác nhau mà được xác định. Nói cách
khác, dân chủ chỉ là một nhưng nó bị chế ước bởi những điều kiện kinh tế,
văn hóa, xã hội khác nhau.
Chế độ dân chủ nào Nhà nước cũng là của nhân dân, nhưng sự khác
nhau giữa chế độ dân chủ này với chế độ dân chủ khác là ở chỗ nhân dân là ai
và ai trong nhân dân có thực quyền. Điều này nói lên nội dung bản chất giai
cấp của dân chủ. Không có dân chủ trừu tượng, bao giờ dân chủ cũng có nội
dung cụ thể, xác định. Trong xã hội ai là nhân dân mới có dân chủ, và trong
nhân dân quyền lực thực sự, cuối cùng không phải trong thời đại nào cũng
thuộc về tất cả nhân dân. Quyền lực thực sự trước hết và chủ yếu bao giờ
cũng thuộc về giai cấp thống trị, thuộc và những kẻ có thế lực.
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, cộng đồng thị tộc được hình
thành trên cơ sở huyết thống, công hữu tài sản, chung ngôn ngữ và những tập


23

quán... Trong thị tộc này toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những
người tự do, có nhiệm vụ bảo vệ tự do của nhau cả tù trưởng lẫn thủ lĩnh quân

được coi là nhân dân, quyền lực thuộc về giai cấp chủ nô - đây là chế độ dân chủ
chủ nô.
Khi chế độ phong kiến ra đời, chế độ dân chủ chủ nô bị thay thế bằng
chế độ quân chủ chuyên chế. Nhà nước của Vua, quyền lực từ chỗ ở trong tay
một số người, nay tập trung vào tay một người đó là Vua, người dân được
thừa nhận là người nhưng chỉ là thần dân. So với chế độ dân chủ chủ nô, chế
độ quân chủ là một bước tiến, ở chỗ nó thừa nhận mọi người trong xã hội là
con người, nhờ đó mà con người không bị đối xử như một con vật, không thể
bị giết như con vật, tuy nhiên hạn chế của nó là coi thường, khinh miệt con
người, làm cho con người mất nhân tính.
Trong thời đại phong kiến, nô lệ đã được trở thành "người tự do"
nhưng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nằm trong tay chúa đất và nhà
thờ. Ph. Ăngghen đã mô tả chế độ phong kiến Châu Âu như "đêm trường
trung cổ" kéo dài từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ XIV. Những tư tưởng tự do,
bình đẳng đã bị các giáo lý kinh thánh bóp nghẹt, pháp luật là pháp luật của
nhà thờ, xét xử là do tòa án của giáo hội...
Đây là thời kỳ ngừng trệ của tư tưởng dân chủ, thậm chí như phản dân
chủ, do vậy lịch sử loài người đã xem thời đại phong kiến có rất ít dân chủ, nó
được gọi là "chế độ chuyên chế phong kiến".
Trong thời đại tư sản, nền dân chủ đã đưa quan hệ giữa Nhà nước và
nhân dân trở về mảnh đất hiện thực, tức là dựa trên cơ sở kinh tế và thế tục
(khác với chế độ phong kiến, quyền lực nhà nước được coi là mệnh trời và có
quyền thế tập). Nền dân chủ tư sản đã ra đời trên cơ sở biến Nhà nước chuyên
chế tập quyền phong kiến thành Nhà nước pháp quyền, biến xã hội thần dân
thành xã hội công dân. Về mặt lý thuyết, nền dân chủ ấy đã chỉ ra rằng quyền
lực công cộng hiện đang tồn tại dưới hình thái Nhà nước và pháp luật bắt
nguồn từ mỗi cá thể cấu nên cộng đồng đó. Lần đầu tiên trong lịch sử nền dân


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status