1
TIỂU LUẬN
Nội dung: Tư tưởng về con người trong các trào lưu triết học – Ý
nghĩa và giá trị hiện thực của nó đối với việc xây dựng và phát huy nhân
tố con người ở nước ta hiện nay.
I. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI TRONG CÁC TRÀO LƯU
TRIẾT HỌC.
Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nội
dung cơ bản mà các trào lưu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đều
tập trung giải quyết. Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra
và giải quyết trong những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế
giới quan và nhân sinh quan của các nhà triết học.
Thời cổ đại, sản xuất chưa phát triển, con người sống chủ yếu phụ
thuộc vào tự nhiên, săn bắt, hái lượm. Do vậy, mặc dù trong giải quyết những
vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan có đứng trên
lập trường thế giới quan duy vật và biện chứng, nhưng còn sơ khai, chất phác,
nặng về đời sống tâm linh. Chẳng hạn, các nhà triết học Ấn Độ thường tập
trung vào việc lý giải những vấn đề then chốt nhất - đó là vấn đề bản chất, ý
nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường, cách
thức giải thoát cho con người khỏi bể khổ của cuộc đời. Mục đích, nhiệm vụ
của các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại là giải thoát.Tư tưởng này luôn
biến đổi và phát triển với đời sống xã hội, từ thời Vêđa đến Brahman và phát
triển trong triết lý Upanisad. Mỗi trường phái có nôi dung triết lý, khuynh
hướng giáo lý và quan điểm đạo đức nhân tính khác nhau. Song có thể nói tất
cả như một cuộc hành trình của con người tìm kiếm, phát hiện và trở về với
bản chất và lương tâm của chính mình khi mà con người còn vô minh, tham
dục và lãng quên nó. Cách thức và con đường giải thoát của kinh Vêđa là luôn
tôn thờ và cầu xin sự phù hộ của các đấng thần linh, còn kinh Upanisad là
3
Trong tư tưởng về con người, Khổng Tử và Mặc Tử đều cho rằng trời
sinh ra con người và muôn vật. Lão Tử khác với Khổng Tử và Mặc Tử ở chỗ
ông cho rằng trước khi có trời đã có Đạo. Theo ông, trời, đất, người, vạn vật
đều do Đạo sinh ra. Trang Tử người kế thừa thuyết Lão Tử cho rằng ở mỗi
vật đều có cái đức tự sinh tự hoá ở bên trong. Như vậy, khi đề cập đến nguồn
gốc của con người, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn
chung các nhà triết học Trung Quốc cũng không vượt qua khỏi vòng luân lý
của đạo và trời.
Khi xác định vị trí, vai trò của con người trong mối quan hệ với trời,
đất, con người và vạn vật, Lão Tử cho rằng bốn yếu tố đó quan hệ tương đồng
lẫn nhau. Nhưng đối với Nho giáo, con người được đặt lên vị trí cao nhất.
Con người do trời sinh ra nhưng sau đó con người cùng với trời, đất là ba
ngôi tiêu biểu cho tất cả mọi vật trong thế giới vật chất và tinh thần “Trời, đất,
Người là tam tài”.
Khi bàn tới quan hệ giữa trời với người, các nhà duy tâm cho rằng có
mệnh trời và mệnh trời chi phối cuộc sống xã hội của con người, cuộc đời của
mỗi con người. Các triết gia tiến bộ cho rằng trời là gốc của con người, họ coi
trời với người là một, do đó đưa ra chủ trương “thiên nhân hợp nhất”. Tuy
nhiên, trong quan hệ với trời, con người phải theo trời, con người phải lấy
phép tắc của trời làm mẫu mực, coi thiên đạo là nhân đạo, người đời ăn ở phải
hợp với đạo trời.
Khi bàn tới bản tính con người, Khổng Tử cho rằng “tính mỗi con
người là gần nhau, do tập tành và thói quen mới hoá ra xa nhau”. Từ quan
điểm này người ta suy luận tranh cãi đưa ra nhiều thuyết khác nhau. Mạng Tử
cho răng bản tính con người là thiện, còn Tuân Tử cho rằng bản tính con
người là ác. Cáo Tử cho rằng bản tính con người không thiện cũng không ác.
Còn Vương Sung cho rằng bản tính con người có thiện có ác. Song, nổi bật
tiễn căn bản nhất. Tất cả mọi vấn đề điều lấy đạo đức làm chuẩn. Mục tiêu
5
xây dựng con người của Nho gia là giúp con người xác định đúng và làm tròn
trách nhiệm trong năm mối quan hệ cơ bản (ngũ luân), đó là: vua tôi, cha con,
anh em, vợ chồng, bạn bè. Và Nho gia còn chỉ ra con đường phấn đấu trước
hết là phải tu dưỡng bản thân để xây dựng cuộc sống gia đình, góp phần vào
việc quản lý đất nước, sau đó đem lại yên vui cho thiên hạ (Tu thân, tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ). Như vậy, mỗi học thuyết nêu trên đều có mặt tích cực và
hạn chế của nó. Trong đó, tư tưởng triết học Nho gia về con người và việc xây
dựng, tu dưỡng con người là có tính hợp lý hơn cả. Nó thực sự góp phần to
lớn vào việc củng cố trật tự xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, nhưng đồng thời
cũng là một trong những nguyên nhân làm trì trệ xã hội đó.
Vượt lên thế giới quan duy tâm, tôn giáo, các nhà triết học duy vật Hy
Lạp cổ đại mặc dù còn ở trình độ trực quan, chủ nghĩa duy vật còn thô sơ,
mộc mạc và phép biện chứng mang tính tự phát, nhưng chứa đựng những
mầm mống của thế giới quan duy vật sau này. Trong đó, tư tưởng về con
người có mặt tiến bộ. Chẳng hạn, Đêmôcrít cho rằng con người và linh hồn
của con người được cấu tạo từ nguyên tử và khoảng không. Con người, theo
ông là động vật có khả năng học, có cảm giác, năng động; linh hồn con người
là tổng thể các nguyên tử và là cơ sở của mọi hoạt động cũng như sức sống
của con người. Đêmôcrít có quan điểm duy vật về cảm giác. Ông cho rằng,
cảm giác dễ chịu là tiêu chuẩn của điều tốt, ngược lại, cảm giác khó chịu gây
nên sự đau khổ, là tiêu chuẩn của điều xấu. Vì thế, con người tìm những cảm
giác dễ chịu và tránh những cảm giác khó chịu, cũng có nghĩa là con người
vượt tới điều thiện và tránh điều ác. Đêmôcrít cho rằng sự hoàn thiện đạo đức
là có thể có được nhưng phải dưới sự chỉ đạo của lý trí. Lý trí hướng con
người vào mục tiêu đúng đắn. Do vậy phải thường xuyên trau dồi lý trí và tiếp
minh còn làm cho con người ôn hoà, đem lại cho con người công lý. Do vậy,
sự ôn hoà là cái gốc, là nền tảng của cuộc sống hạnh phúc. Hêraclít là người
giải quyết một cách duy vật vấn đề “linh hồn” con người Ông cho rằng linh
7
hồn của con người là do lửa tạo thành Tuy nhiên, theo ông ngoài lửa ra, linh
hồn còn có chỗ ẩm ướt, cho nên mới sinh ra người tốt, người xấu. Ở người
nào càng nhiều yếu tố lửa bao nhiêu thì anh ta càng tốt bấy nhiêu vì tâm hồn
anh ta khô ráo. Và ông còn nhấn mạnh, hạnh phúc con người không phải là sự
hưởng lạc đơn thuần về thể xác mà là ở việc biết suy nghĩ, nói và hành động
tuân theo giới tự nhiên. Prôtago là nhân vật tiêu biểu của phái nguỵ biện,
nhưng ông có quan điểm về con người khá nổi tiếng “Con người là thước đo
tất thảy mọi vật”. Luận điểm này rất đề cao vai trò, vị trí của con người trong
thế giới hiện thực. Theo ông, chính cái lợi cho con người là chuẩn mực để
đánh giá và phán xét mọi cái, kể cả tri thức và các chuẩn mực đạo đức. Song,
hạn chế của ông là ở chỗ chưa nhận thấy nền tảng khách quan của chân lý và
các chuẩn mực đạo đức. Có những cái lợi đối với người này nhưng lại có hại
đối với người khác. Bản thân ông cũng chưa hiểu được cái lợi của con người
theo nghĩa rộng, chưa hiểu được nó ở quy mô xã hội, nhưng những quan niệm
trên của Prôtago mang nhiều ý nghĩa tích cực, là đỉnh cao của tư tưởng đề cao
con người, coi con người là trung tâm của mọi vấn đề trong triết học cổ đại
Hy Lạp.
Nhìn chung quan niệm về con người, việc xây dựng và phát huy nhân
tố con người trong thời kỳ cổ đại còn đơn sơ, mộc mạc, chứa đựng nhiều yếu
tố duy tâm, tôn giáo, con người vẫn sống trong thế giới tối tăm, hà khắc, chưa
có điều kiện phát triển cá nhân.
Bước sang thời trung cổ, là thời kỳ hình thành và phát triển phương
thức sản xuất phong kiến. Trong xã hôi phong kiến, trình độ sản xuất còn thấp
Về phương diện đạo đức, trên cơ sở xem xét con người một cách duy
tâm thần bí, nên các nhà triết học lúc bấy giờ coi đạo đức như là phương tiện
để thực hiện những mệnh lệnh của tôn giáo, đạo đức học gắn với thần học.
Tuy nhiên, tư tưởng về đạo đức của các nhà triết học thời trung cổ cũng có
những nhân tố hợp lý của nó, đó là có thiên hướng bàn về lý tính, tiến lên phía
9
trước trong thái độ thừa nhận những tiêu chuẩn ở bên ngoài cá nhân, phân biệt
cái thiện và cái ác. Mặt khác, nhân tố hợp lý còn được thể hiện ở chỗ có xu
hướng nghiện cứu đạo đức như là một hệ thống nguyên tắc khách quan, ước
định trước và có ý nghĩa chung. Song, do đạo đức gắn với thần học nên nó sa
vào chủ nghĩa duy tâm khách quan, đồng nhất tính khách quan đạo đức với
tính thần thánh. Thượng đế là nguyên tắc tối cao của đạo đức. Ý chí của
Thượng đế là hiện thân của sự tốt lành, của cái thiện và là cội nguồn của hạnh
phúc.
Đến thời kỳ phục hưng và cận đại, là thời kỳ phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa được hình thành, xác lập và trở thành phương thức sản xuất
thống trị. Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thúc đẩy
khoa học, kỹ thuật phát triển và tạo ra thị trường hàng hoá rộng lớn, phá vở
toàn bộ nền kinh tế phong kiến có tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc, khép kín.
Chủ nghĩa kinh viện và thần học bị đánh đổ; các giá trị về con người và nền
văn hoá Hy Lạp cổ đại được khôi phục và phát triển; con người được giải
phóng khỏi sự mê muội của tôn giáo, có điều kiện phát triển mạnh mẽ cá
nhân. Đây là thời kỳ mà các nhà sử học gọi là thời kỳ phát hiện ra con người
trong thế giới và cả thế giới trong con người. Cùng với sự xuất hiện chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất, chủ nghĩa cá nhân được hình thành và phát triển, từng
bước đóng vai trò tích cực trong cuộc đấu tranh cho việc giải phóng con
người khỏi những xiềng xích của chủ nghĩa phong kiến và giáo hội. Đặc biệt
khỏi những mâu thuẫn cơ bản vốn có trong lòng xã hội tư bản, càng về sau tư
tưởng này càng bộc lộ bản chất phản động của nó. Bởi vì, do chế định của
những điều kiện kinh tế, chính trị ,xã hội ràng buộc họ; hơn nữa còn do hạn
chế của chính bản thân các nhà triết học. Do vậy, mặc dù thừa nhận tự nhiên,
nhưng họ lại diễn đạt bằng thần “tự nhiên thần luận”, tư tưởng của họ thoả
hiệp với thần quyền tôn giáo.
11
Kế thừa tư tưởng về con người trong lịch sử triết học nhân loại từ cổ
đại đến cận đại thế kỷ XVII – XVIII, triết học cổ điển Đức thừa nhận con
người là một chủ thể, đồng thời lại là kết quả của quá trình hoạt động của
mình. Mặt khác, Cantơ và sau này Hêghen đều khẳng định mỗi con người là
sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định, do vậy con người mang bản chất
xã hội. Cantơ cho rằng, với tư cách là chủ thể của thế giới, con người luôn
tích cực hoạt động cải tạo thế giới. Tuy nhiên. hoạt động thực tiễn ở đây được
ông hiểu trong giới hạn chính trị – xã hội nhất định, chứ không phải là hoạt
động sản xuất vật chất.
Với xuất phát điểm là tinh thần, là ý niệm tuyệt đối, Hêghen coi thế
giới vật chất là con người vô cơ, con người ở giai đoạn chưa hình thành. Còn
con người bằng xương, bằng thịt theo Hêghen là con người đã phát triển đầy
đủ, là con người trở về chính bản thân nó với tất cả những đặc tính vốn có của
nó. Như vậy, từ điểm xuất phát của triết học đã xác định, Hêghen đã quy mọi
quá trình của hiện thực về quá trình tư duy, quy lịch sử hiện thực về lịch sử tư
duy, quy hoạt động thực tiễn của con người về quá trình tự ý thức, tự nhận
thức. Mặt khác, trong hiện tượng tinh thần, Hêghen không chỉ coi con người
là chủ thể như Cantơ, mà ông còn cho rằng con người là kết quả của chính
quá trình hoạt động của mình; tư duy và trí tuệ của con người hình thành và
phát triển trong chừng mực con người nhận thức thế giới; ý thức con người là
theo nghĩa trần tục, bằng xương, bằng thịt, nên dẫn đến tư duy máy móc, siêu
hình. Tuy nhiên, giá trị tư tưởng về con người trong triết học cổ điển Đức là ở
chỗ nó khẳng định tư duy, ý thức chỉ phát triển trong chừng mực con người
nhận thức và cải tạo thế giới; con người vừa là chủ thể, đồng thời là kết quả
hoạt động của một thời đại lịch sử nhất định.
Như vậy, trải qua gần hai nghìn năm, với nhiều trào lưu lịch sử triết học
khác nhau, nhưng chưa có nhà triết học nào hay trường phái triết học nào luận
giải một cách đầy đủ và khoa học về vấn đề con người.
13
Các nhà triết học thời cổ đại coi con người như là một tiểu vũ trụ. Quá
trình hình thành và phát triển của mỗi con người được gắn liền với định mệnh
và số phận. Số phận đó bị quy định bởi ý chí của tạo hoá. Còn trong hệ thống
thế giới quan tôn giáo, con người được coi như một thực thể nhị nguyên, là sự
kết hợp giữa tinh thần và thể xác, trong đó thể xác là cái nhất thời, tinh thần
mới là cái vĩnh viễn. Các học thuyết triết học duy tâm lại tuyệt đối hoá hoạt
động của đời sống tinh thần, coi toàn bộ thế giới tinh thần như một thực thể
hoàn chỉnh. Chẳng hạn, Hêghen cho rằng, con người là hiện thân của “ý niệm
tuyệt đối”, còn Phoiơbắc lại tuyệt đối hoá mặt sinh học của con người, chia
cắt con người khỏi các quan hệ xã hội hiện thực, con người chỉ là sản phẩm
của giới tự nhiên.
Các quan điểm trên đây, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy
tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản
chất con người. Nhìn chung các quan điểm trên đều xem xét con người một
cách trừu tượng, tuyệt đối hoá mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối
hoá mặt tự nhiên – sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con
người.
Khác với tất cả các quan điểm trên, C. Mác và Ăngghen tiếp cận con
sống trong xã hội, có quan hệ với nhau, có hoạt động xã hội cho mình và
đồng loại, chịu sự tác động của quy luật xã hội. Mỗi con người sinh ra đều
sống và được nuôi dưỡng trong một xã hội nhất định, nên con người bị quy
định bởi thời đại, xã hội mà mình đang sống. Vì vậy, “bản thân xã hội sản
xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất
ra xã hôi như thế” [27 – tr 169] và “chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có
được những phương tiện để có thể phát triển toàn diện những năng khiếu của
mình” [28 – tr 108]. Xã hội là xã hội của con người, do con người và vì con
người. Điều đó có nghĩa, thông qua các quan hệ xã hội, như: quan hệ sản
15
xuất, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ gia đình…, con người mới
tồn tại, phát triển, hoàn thiện và thể hiện được chính mình.
Không có con người thì không có bất kỳ một sự phát triển nào và xã
hội phát triển đến đâu thì con người cũng phát triển đến đó. Sự phát triển của
con người là thước đo sự phát triển của xã hội. Con người vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Do đó, để phát triển con người cần
phải phát triển xã hội và ngược lại, để phát triển xã hội cần phải phát triển con
người, đó là mối quan hệ biện chứng của quá trình phát triển lịch sử – xã hội.
Khẳng định con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, nhưng
C. Mác và Ăngghen đã nhấn mạnh quan hệ xã hội của con người là quan hệ
bản chất. Trong Luận cương về Phoiơbắc C.Mác viết: “Bản chất con người
không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính
hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [29 –
tr 11]. Qua luận đề này Mác muốn nói rằng, không có con người trừu tượng,
thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể,
xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất
định. Bản chất con người không phải cái trừu tượng, mà là hiện thực, không
con người được biểu hiện tập trung ở tính giai cấp. Do đó, muốn thay đổi bản
chất con người, cải tạo con người phải thay đổi, cải tạo những quan hệ xã hội.
Không chỉ dừng lại ở việc xác định nguồn gốc, bản chất con người, mà
C. Mác và Ăngghen còn đề cập đến quyền con người. Tuy nhiên, lòng khát
khao tự do, bình đẳng, bác ái; ước mơ về một xã hội không có bóc lột và lao
động cưỡng bức và không có cảnh nghèo khổ là đặc điểm chung của nhiều tư
tưởng về nhân quyền xuất hiện từ lâu trong lịch sử. Nhưng chỉ đến khi chủ
nghĩa Mác ra đời quyền con người mới được luận giải trên cơ sở khoa học.
Theo C. Mác và Ăngghen quyền con người là nhân quyền của từng cá nhân
con người. Trong từng thời đại lịch sử cụ thể, quyền con người gắn bó chặt
chẽ với những quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị. Không
17
có quyền con người chung chung, trừu tượng, siêu hình, phi giai cấp, phi dân
tộc và phi nhân loại như một số nhà tư tưởng đã từng quan niệm. Mỗi con
người bao giờ cũng tòn tại thực, họ sống và hoạt động trong một thời đại lịch
sử nhất định, một môi trường xã hội nhất định. Vì vậy, quyền con người là
quyền của mỗi con người cụ thể, quyền đó do thể chế chính trị của tưng quốc
gia, dân tộc, thời đại mà nó đang sống quy định. “thiên nhiên không sinh ra
một bên là những người chủ tiền và chủ hàng hoá, còn bên kia là những người
chỉ làm chủ độc có sức lao động của mình. Quan hệ ấy không phải là một
quan hệ lịch sử – tự nhiên, mà cũng không phải là một quan hệ chung cho tất
cả các thời kỳ lịch sử” [31 – tr 254]. Mỗi quốc gia, dân tộc, trong một thời đại
lịch sử nhất định, sẽ có những quy định cụ thể về quyền con người riêng. Sự
phát triển của xã hội thể hiện thông qua quyền con người sống trong xã hội
đó. Song, điều đáng lưu ý ở đây là C. Mác và Ăngghen xuất phát từ quyền tự
do cá nhân để nghiên cứu về quyền con người, việc bảo đảm và phát huy
quyền tự do của mỗi người như là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển tự do
chất con người trên quan điểm duy vật lịch sử; không chỉ tìm ra con đường,
cách thức giải phóng con người một cách triệt để, mà còn đưa ra các giải pháp
phát triển con người toàn diện.
II. Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỰC CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG
VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Nghiên cứu tư tưởng về con người trong các trào lưu triết học nói
chung, quan điểm triết học Mác nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
nhận thức và hoạt động thực tiễn, đặc biệt là trong giáo dục và đào tạo. Đây là
cơ sở khoa học cho quan điểm xem xét con người phải xuất phát từ tính hiện
thực và toàn diện; khắc phục tính trừu tượng, chung chung xa rời thực tiễn và
duy tâm, siêu hình. Đồng thời, đây còn là cơ sở để quán triệt quan điểm,
19
đường lối của Đảng ta về con người và phát huy nhân tố con người trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, nhất là trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Vận dụng tư tưởng và quan điểm của các nhà triết học trước Mác nói
chung và triết học Mác nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai
trò của nhân tố con người đối với sự nghiệp cách mạng, Người nói: “Vì lợi
ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, “muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, còn cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì cho rằng “Cuộc chiến đấu và chiến thắng của
con người Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước cũng như trong
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chung quy lại là thắng lợi của con ngời”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta nhận thức ngày càng sâu
sắc hơn vai trò nhân tố con người đối với sự phát triển của xã hội. ngay trong
bản chính cương vắn tắt đầu tiên – năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam đã
vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và
tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh” [4 – tr 80]. Tư tưởng đó không chỉ thể hiện ước mơ,
khao khát, nguyện vọng chính đáng bao đời nay của dân tộc ta, mà hơn thế
nữa nó hoàn toàn phù hợp với xu thế và quy luật phát triển của thời đại. Đối
với nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, do vậy, việc đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá chính là thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, là con đường tất yếu để đưa nước
ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế
so với các nước trong khu vực. Đồng thời, đây còn là cơ sở vật chất tốt nhất
để nước ta có điều kiện giải phóng triệt để và phát triển con người một cách
toàn diện. Đây là công việc vô cùng khó khăn, gian khổ, thành công của nó
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó vấn đề con người đóng vai trò quyết
21
định. Trên nền tảng tư duy đó, Đại hội xác định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng
và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định
thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [5 – tr 21]. Một trong
những quan điểm của đại hội là “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm
yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Đến Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định những quan điểm cơ bản
về con người và phát huy vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội xác định, con người vừa là động
lực, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế – xã hội.
Xác định con người là động lực phát triển kinh tế – xã hội, Đại hội chỉ
rõ: “Nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững” [8 – tr 108, 109] và Đại hội còn khẳng định động
dựng là: “một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do
nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người
được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
phát triển toàn diện…” [21 – tr 68]. Với các tiêu chí này, chúng ta có thể nhận
thấy rằng, con người – tức toàn thể nhân dân, dân tộc, hiện diện như mục đích
chủ yếu, như yêu cầu trung tâm, có ý nghĩa quyết định. Các đặc trưng này đã
thể hiện rõ sự vận dụng sáng tạo quan điểm về vai trò của con người trong
triết học Mác của Đảng ta một cách sâu sắc và chặt chẽ trên tất cả các lĩnh
vực, để từng bước thực hiện mục tiêu giải phóng con người toàn diện.
Trên cơ sở nhất quán với các quan điểm của các kỳ Đại hội, nhất là Đại
hội VIII, Đại hội IX đưa ra các giải pháp cơ bản để phát huy vai trò nhân tố
con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đó là:
23
Thứ nhất, “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để
phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội; tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [12 – tr 108, 109].
Thứ hai, “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [13 – tr 112].
Thứ ba, “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…Mọi
hoạt động văn hoá nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện”
[14 – tr 114].
Thứ tư, “Giải quyết các vấn đề xã hội…thực hiện công bằng trong phân
phối tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất tăng năng suất lao động xã hội,
Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta xác định, “Tăng cường quốc phòng,
giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường
xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân đội và công an
nhân dân là lực lượng nòng cốt” [16 – tr 40, 117]. Vì vậy, việc xây dựng quân
đội nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ nói riêng có ý nghiã hết sức quan
trọng cả trước mắt và lâu dài. Quan điểm đó được thể hiện rõ nét qua các kỳ
Đại hội.
Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định: “Xây dựng quân đội nhân dân chính
quy ngày càng hiện đại có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp
lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu
và sức chiến đấu cao” [1 – tr 38].
Đến Đại hội VII và Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục xác định: “Xây dựng
các lực lượng vũ trang nhân dân có chất lượng ngày càng cao, xây dựng quân
đội nhân dân cách mạng chính quy, từng bước hiện đại, tinh nhuệ, với cơ cấu
tổ chức và quân số hợp lý, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến
25
đấu” [2 – tr 85, 86], “Xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bớc hiện đại” [6 – tr 119].
Trong văn kiện Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định phương hướng
xây dựng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại. Đồng thời, Đại hội đặt ra một số tiêu chí cơ bản trong xây
dựng quân đội để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN trong tình hình mới, đó là: “Có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung
thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; có trình độ học vấn và
chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao; quý trọng và hết lòng phục vụ nhân
dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị, kế thừa và phát huy
truyền thống vẻ vang; có năng lực chỉ huy và tác chiến thắng lợi trong bất cứ