Tiểu luận cao học, nhà nước và cách mạng lý luận về chuyên chính vô sản trong tác phẩm “nhà nước và cách mạng” của lenin, và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở việt nam hiện nay - Pdf 63

Phần A: Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Hiện nay, lý luận về chuyên chính vô sản và bạo lực cách mạng của chủ
nghĩa Mác – Lenin, đang bị bọn phản động và bọn Cau – xky xuyên tạc,
chống phá, những luận điệu sai trái của chủ nghĩa cơ hội, xét lại, vô chính
phủ ngày càng chống phá ác liệt hơn.
Do đó, Lenin đã phải mất nhiều thời gian nghiên cứu, trích dẫn tài liệu
để chống lại những quan điểm sai trái và phản động đó để bảo vệ tính đúng
đắn và khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mac-Lenin, đặc biệt là lý luận về
chuyên chính vô sản của các nhà kinh điển.
Lý luận chuyên chính vô sản và bạo lực cách mạng đến nay vẫn là một
lý luận đúng đắn, khoa học và cách mạng, phù hợp với sự phát triển của lịch
sử, nhưng các thế lực thù ddihcj vẫn không ngừng chống phá lại lý luận này
hòng phủ nhận tính đúng đắn, cách mạng và khoa học của chủ nghãi Mác,
bảo vệ và cho rằng sự tồn tại của CNTB là mãi mãi, là vĩnh hằng không có
cái gọi là chủ nghĩa cộng sản thay thế cho CNTB. Đó là những quan điểm
sai lầm, vì căn cứ vào thực tiễn và quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của
nhân loại, thì xã hội loài người tất yếu phải trải qua hình thái tư bản chủ
nghĩa để phát triển lên một hình thái cao hơn – hình thái cộng sản chủ nghĩa.
Thực tiễn đời sống chính trị, xã hội ngày nay có những biến chuyển lướn
lao, các thế lực của chủ nghãi tư bản vẫn đang ngày đêm ráo riết tấn công
vào những giá trị nền tảng của chủ nghãi Mac-Lenin, chúng không ngừng
xuyên tạc, thậm chí phủ định hoàn toàn chủ nghãi Mác. Trước thực tế đó,
việc bảo vệ những giá trị đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lenin lại
càng cấp thiết hơn bao giờ hết.
Với mong muốn có thể góp sức bảo vệ những lý luận đúng đắn, cách
mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác, nhất là lý luận về chuyên chính vô


sản, nên tôi chọn đề tài: Lý luận về chuyên chính vô sản trong tác phẩm
“Nhà nước và cách mạng” của Lenin, và ý nghĩa của nó đối với việc xây

V.I. Lenin sinh ngày 22/4/1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Tên thật của
ông là Vladimir Illyich Ulianov (Lenin), các bí danh đã dùng là V. Ilin, K.
Tulin, Karpov và những bí danh khác.
Năm 1887 Lenin tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học được nhận Huy
chương vàng nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga.
Ông xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, Lenin
tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội
đồng hương bí mật Samarsko- Simbirskoe.
Tháng 10/1888, trở về Kazan gia nhập nhóm Marxist. V.I. Lenin có nghị
lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách,
năm 1891, Lenin đã thi đỗ tất cả các môn học của chương trình 4 năm khoa
Luật trường ĐH Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt
nghiệp khoa luật Lenin làm trợ lý luật sư ở Samara. Tháng 8/1893, ông
chuyển về Peterburg.
Mùa thu 1895, Lenin thành lập ở Peterburg Hội liên hiệp đấu tranh giải
phóng giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Peterburg. ở
Moskva , Kiev, Iaroslav và những thành phố khác cũng thành lập các hội
liên hiệp tương tự. Lenin đã gặp Nadezda Konstantinovna Krupskaia . Hai
người yêu nhau và trở thành bạn đời chung thuỷ.
Tháng 11/ 1905, Lenin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng
Nga. Tháng 12/1907, Lenin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và
củng cố đảng hoạt động bí mật.


Đầu tháng 8/1917 Đại hội lần thứ VI ĐCNXHDC Nga họp bán công
khai ở Petrograd, Lenin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến
hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính
quyền.
Trong thời gian này, Lenin viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng đề ra
nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền bằng con đường

giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa tư bản độc quyền và tư bản không độc
quyền, giữa tư bản độc quyền trong cùng một quốc gia, và giữa bọn tư bản
độc quyền với nhân dân các nước trên thế giới.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa
tư bản” Lenin đã nhận định sự phát triển như thế sẽ làm bộc lộ những khâu
yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, và với quy luật phát triển không đều của nó
sẽ tạo ra thời cơ và tình thế cách mạng cho giai cấp công nhân thực hiện
thắng lợi cuộc cách mạng của mình, đồng thời cũng tăng cường lực lượng
cách mạng.
Trong tình hình lúc đó, phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ,
nó không chỉ ở các nước tư bản chủ nghĩa, mà nó còn phát triển mạnh ở cả
các nước thuộc địa, mà mở đầu là cuộc cách mạng Nga 1905 – 1907. Cuộc
cách mạng này đã mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn cách
mạng thế giới, đó là các phòng trào tiêu biểu ở Đức, Áo, Hung, Pháp. Ở
phương Đông, phong trào cách mạng cũng diễn ra mạnh mẽ như phong trào
cách mạng Tân Hợi (Việt Nam) năm 1911, phong trào cách mạng Ấn Độ
1905 – 1908,…
Với quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc tất yếu sẽ dân
đến cuộc chiến tranh nhằm chia lại thị trường thế giới và cuộc chiến tranh
thế giới thứ nhất đã nổ ra năm 1914, cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất này


làm cho mâu thuẫn tư bản chủ nghĩa ngày càng bộc lộ gay gắt, đẩy mạnh
quá trình khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản cũng như sự chín muồi của cách
mạng trên thế giới.
Hoàn cảnh chủ quan:
Về mặt tổ chức của phong trào công nhân, trong bối cảnh của thế giới
đang tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc cách mạng vô sản, nhưng Quốc tế II
lại đang bị chủ nghĩa cơ hội lũng loạn nên không nắm bắt được tình thế cách
mạng, không phát động được quần chúng nhân dân đấu tranh làm cách mạng

Hoàng đồng ý nên là ngay lập tức bọn tư sản đã bắt tay với Nga Hoàng để
đàn áp nhân dân.
Nước Nga lúc này, công nhân, nông dân, binh lính thành lập nhà nước
Xô Viết ở cấp địa phương, còn ở Trung Ương thì tư sản, phong kiến thành
lập chính phủ tư sản. như vậy, nước Nga lúc này rơi vào tình thế một nước
và hai mặt trời, Xô Viết mong muốn thiết lập chuyên chính vô sản, trật tự
chính trị nước Nga thay đổi song đời sống nhân dan Nga thì không có gì
thay đổi.
Trước giai đoạn 1905 – 1907, nước Nga đã luôn mở rộng xâm lược để
tăng cường sức mạnh của Nga Hoàng, trong đó có sự thỏa ước của Nga và
Đức nhưng, sau đó tư sản phát triển họ thấy sản xuất vũ khí và bán vũ khí sẽ
mang lại những khoản lợi nhuận lớn cho họ, do đó, họ không bắt tay với
phong kiến Nga hoàng nữa mà họ quay lại gây chiến với chế độ phong kiến
Nga sa hoàng, từ đó kéo theo chiến tranh với nhiều vùng khác, giúp tư sản
Đức bán được nhiều vũ khí hơn, thu lại khoản lợi nhuận kếch xù.


Tháng 2/1917 chiến tranh Nga – Đức nổ ra đã kéo cả nhân dân Nga vào
chiến tranh, làm cho cuộc sống của nhân dân Nga ngày càng khó khăn, túng
quẫn, từ đó dẫn đến các cuộc đấu tranh như bãi công, phản kháng, chống lại
chính quyền Trung Ương.
Tháng 7/1917 có khoảng 500.000 người xuống đường biểu tình ở
Xanhbêtécbua , công nhân biểu tình, chính phủ phản kháng, đàn áp cuojc
biểu tình làm cho gần 400 người chết, từ đó lại càng đẩy sự phẫn uất của
nhân dân lao động lên cao hơn nữa.
Sau luận cương tháng 4, Lenin ở Thụy Sỹ trở về Nga, ngay trong đêm
hôm đó Lenin đã viết luận cương tuyên bố rằng: Chính quyền phải thuộc về
tay Xô Viết, bởi vì nếu chính quyền thuộc về tay Nga Hoàng thì chiến tranh
xảy ra liên mien, càng làm cho đời sống nhân dân cực khổ. Sự tuyên bố này
của Lenin đã chính thức đối đầu với chính phủ Nga Hoàng.

quan trọng cần thiết, đồng thời nhận xét, phê phán, rút ra kết luận của mình
trong một cuốn sổ tay có tên là “chủ nghĩa Mác và vấn đề nhà nước”.
Tháng 4/1917, Lenin về nước Nga để lãnh đạo cách mạng, dó bận nhiều
với những hoạt động thực tiễn nên không thể tiếp tục chương trình mà
Người đặt ra ( là hoàn thiện tác phẩm), song ông vẫn luôn nghĩ đến nó và bổ
sung nhiều tư liệu về nó. Sau sự kiện tháng 7 Đảng Cộng sản phải rút vào
hoạt động bí mật, Lenin rời Bêtơcrat đến hoạt động ở biên giới giữa Nga và
Phần Lan, trong thời gian này Lenin mới có cơ hội viết tiếp tác phẩm “Nhà
nước và cách mạng”.
Ở đây, dựa vào những tài liệu mà ông chuẩn bị, Lenin đã hoàn thành tác
phẩm “Nhà nước và cách mạng” của mình.
1.2.2 Tư tưởng (nội dung) cơ bản của tác phẩm.


Tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” lần đầu tiên trình bày một cách có
hệ thống và đầy đủ học thuyết Macxit về vấn đề nhà nước. Tác phẩm này ra
đời nhằm mục đích bảo vệ và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác về vấn
đề Nhà nước, chống lại những tư tưởng xét lại, cơ hội, giúp cho giai cấp
công nhân và nhân dân lao dộng xác định được nhiệm vụ của mình trong
cách mạng, để đập tan nn tư sản, thiết lập nhà nước vô sản.
Nội dung cơ bản của chương 1 là, Lenin đã đề cập đến các vấn đề chung
của nhà nước, phân tích về nhà nước tư sản và tính tất yếu phải đập tan nhà
nước tư sản, đồng thời đưa ra những quan niệm, những lý luận cơ bản về nhà
nước tiêu vong.
Nội dung cơ bản của chương 2 là, Lenin khai thác tư tưởng của Mác –
Anghen thời kỳ 1848 – 1852, và chỉ rõ cơ sở tư tưởng của chuyên chính vô
sản trong thời kỳ thực hiện cách mạng vô sản, cũng như nêu rõ vai trò lịch
sử của giai cấp công nhân. Trong chương này Lenin cũng chỉ ra phương
pháp khoa học của chủ nghĩa Mác khi cụ thể hóa học thuyết về nhà nước.
Trong chương 3, Lenin đã rút ra những tư tưởng của Mác trong tác phẩm

nó, cùng cả phần đề cương của kết luận.
1.2.4 Ý nghĩa của tác phẩm.
Về mặt lý luận: Tác phẩm đã góp phần khôi phục và khẳng định lại tính
chất cách mạng của học thuyết Mác về vấn đề nhà nước và cách mạng,
thông qua tác phẩm Lenin đã tiến hành đấu tranh, vạch trần bản chất của chủ
nghĩa cơ hội, cải lương, xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế ở Nga cũng như ở trên thế giới nói chung. Đồng thời góp phần phát triển
thêm mặt lý luận về nhà nước và cách mạng trong hoàn cảnh lịch sử mới.
Về mặt thực tiễn: Tác phẩm đã trở thành kim chỉ nam cho Đảng
Bônsêvích và nhân dân Nga trong cuộc đấu tranh cách mạng tháng 10 Nga


năm 1917. Cho đến nay những luận điểm được Lenin trình bày, phân tích
trong tác phẩm đa phần vẫn còn nguyên giá trị đối với thực tiễn xây dựng xã
hội chủ nghĩa của các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới, ví dụ
như ở Việt Nam vận dụng lý luận hai giai đoạn cách mạng, quản lý nhà
nước, lý luận xây dựng nền dân chủ,….
Chương 2: Nội dung lý luận chuyên chính vô sản được trình bày trong
tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”.
2.1 Quan niệm về chuyên chính vô sản.
Chuyên chính vô sản là nội dung cơ bản của cách mạng vô sản, học
thuyết chuyên chính vô sản là học thuyết chủ yếu của chủ nghĩa Mác Lênin. Thừa nhận hay không thừa nhận chuyên chính vô sản là ranh giới
phân biệt giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với chủ nghĩa cơ hội “tả” hoặc hữu.
Lênin đã kế thừa và phát triển một cách xuất sắc học thuyết của MácĂngghen về chuyên chính vô sản. Nhà nước và cách mạng là tác phẩm thể
hiện xuất sắc về học thuyết này.
Học thuyết chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác có một lịch sử lâu
dài và phong phú. Từ 1848, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác –
Ăngghen nêu rõ tư tưởng của chuyên chính vô sản là: Giai cấp vô sản phải
giành quyền thống trị và chính trị . Sau khi trải qua cách mạng Pháp 1848 185l, Mác rút ra kết luận quan trọng là: nếu không dùng bạo lực đập tan bộ
máy nhà nước của giai cấp tư sản thì cách mạng vô sản không thể thắng lợi,

giai cấp vô sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
“Mác nói tiếp:


‘…Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa có một thời kỳ
chuyển hóa cách mạng từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội cộng sản chủ
nghĩa. Thích ứng với thời kỳ này là thời kỳ chính trị quá độ, và nhà nước
trong thời kỳ này không phải là cái gì khác, ngoài nền chuyên chính cách
mạng của giai cấp vô sản…’
Kết luận đó của Mác dựa vào sự phân tích vai trò của giai cấp vô sản
trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay, vào những căn cứ về sự phát triển
của xã hội ấy và vào tính chất không thể điều hòa được giữa những quyền
lợi đối lập của giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
Trước kia, vấn đề đặt ra như thế này: Giai cấp vô sản muốn tự giải phóng,
phải lật đổi gaii cấp tư sản, giành lấy chính quyền, lập nền chuyên chính
cách mạng của mình.
Bây giờ, vấn đề đặt ra có hơi khác: Một xã hội tư bản chủ nghĩa đang phát
triển lên chủ nghĩa cộng sản, không thể nào chuyển lên xã hội cộng sản chủ
nghĩa được, nếu không có một ‘thời kỳ quá độ chính trị’ , và trong thời kỳ
đó, nhà nước chỉ có thể là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.” [1;
105,106].

2.2 Bản chất của chuyên chính vô sản.
Dựa vào những căn cứ về sự phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa, dựa
vào tính chất không thể điều hòa được giữa những quyền lợi đối lập của giai
cấp vô sản và giai cấp tư sản, thì về bản chất của chuyên chính vô sản, trong
tác phẩm Lenin đã cho thấy, nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước nửa
nhà nước, nhà nước không hiểu theo nghĩa đen, (tức là nhà nước là công cụ
trấn áp của giai cấp này đối với giai cấp khác).
“Tiếp nữa, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng


đây là chúng tôi xin nêu trước như vậy), cũng có thể trấn áp được bọn bóc
lột.
Sau cùng, chỉ có chủ nghãi cộng sản mới làm cho nhà nước trở nên hoàn
toàn không cần thiết, vì lúc bấy giờ không còn ai để trấn áp, chữ ‘ai’ hiểu
theo nghĩa là giai cấp, không còn hphair đấu tranh có hệ thống chống một bộ
phận dân cư nhất định nào đó. Chúng takhoong phải là những người không
tưởng, và chúng ta nhận rằng những hành vi thái quá của một số cá nhân là
có thể có và không thể nào tránh được, chúng ta cũng không phủ nhận sự
cần thiết phải trấn áp những hành vi thái quá ấy. Nhưng, trước hết, tuyệt
nhiên không cần phải có một bộ máy đặc biệt, một bố máy trấn áp đặc biệt
để trấn áp, nhân dân vũ trang sẽ tự mình làm việc đó một cách cũng giản
đơn, cũng dễ dàng như bất kỳ một đám đông những người văn minh nào,
ngay trong xã hội hiện nay, đứng ra can những người đánh nhau hay ngăn
không cho ức hiếp phụ nữ. Thứ nữa, chúng ta biết ràng nguyên nhân xã hội
sâu xa của những hành vi thái quá vi phạm quy tắc của cuộc sống chúng
trong xã hội, là sự bóc lột những quần chúng lâm vào cảnh thiếu thốn, cùng
khổ. Một khi gặt bỏ được nguyên nhân chủ yếu ấy, thì những hành vi thái
quá tất nhiên sẽ bắt đầu ‘tiêu vong’. Những hành vi đó tiêu vong mau chóng
như thế nào, mức đọ như thế nào, thì chúng ta không biết, nhưng chúng ta
biết rằng chúng thế nào cũng sẽ tiêu vong. Và cùng với sự tiêu vong đó, nhà
nước cũng sẽ tiêu vong theo” [1; 111, 112].
Lenin còn nêu rõ những cơ sở kinh tế - xã hội để nhà nước tiêu vong, đó
là thực hiện được chế độ công hữu về tư liệu sản xuất trong xã hội. “Nhưng
con đường tiến tới, từ chế độ dân chủ tư bản chủ nghĩa ấy, - một thứ dân chủ
tất nhiên là bó hẹp, chà đạp lên người nghèo một cách kín đáo và vì vậy,
hoàn toàn giả dối và dối trá, - không dẫn một cách đơn giản, trực tiếp và êm
ái ‘đến một chế độ dân chủ ngày càng hoàn bị hơn’, như các giáo sự theo



nền dân chủ thật sự hoàn bị, thật sự không hạn chế, mới có thể có được và
được thực hiện”. [1; 108, 109].
“Cuối cùng khi nhà nước thật sự trở thành đại diện cho toàn thể xã hội, thì
nó tự làm cho nó trở thành thừa. Khi mà không còn một giai cấp xã hội nào
cần phải đưỡ kìm giữ trong vòng áp bức nữa, khi mà không còn sự thống trị
giai cấp và đấu tranh sinh tồn cá nhân diễn ra do tình trạng sản xuất vô chính
phủ ngày nay, và cùng với tình hình đó, cùng không còn những sự xung đột
và những hành động thái quá (những hành động cực đoan) do cuộc đấu tranh
ấy đẻ ra, thì lúc đó sẽ không còn gì để phải trấn áp, cũng không cần phải có
một lực lượng đặc biệt để trấn áp, tức là nhà nước…..Lúc đó từ lĩnh vực này
đến lĩnh vực khác, sự can thiệp của chính quyền nhà nước vào những quan
hệ xã hội đều trở thành thừa, và sự can thiệp đó tự nó biến dần đi. Việc cai
trị người nhường chỗ cho việc quản lý vật và cho việc chỉ đạo các quá trình
sản xuất. Nhà nước không ‘bị xóa bỏ’, nó tiêu vong”. [1, 21].
“Cho nên, chúng ta chỉ có quyền nói rằng nhà nước tất nhiên sẽ tiêu
vong, đồng thời nhấn mạnh vào tính chất lâu dài của quá trình ấy, sự phụ
thuộc của quá trình ấy vào tốc độ phát triển của giai đoạn cao của chủ nghĩa
cộng sản, đồng thời gác hẳn lại vấn đề thời hạn và hình thức cụ thể của sự
tiêu vong ấy, vì chúng ta không có tài liệ để giải quyết những vấn đề như
vậy”. [1; 118].
Từ đó, Lenin cũng lưu ý, chỉ có nhà nước chuyên chính vô sản mới tự
tiêu vong, do đó mà càng không thể phủ nhận cách mạng bạo lực, vì không
có cách mạng bạo lực thì không thể thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước
vô sản được. “Theo Ăngghen, thì nhà nước tư sản không ‘tiêu vong’, nó bị


giai cấp vô sản ‘thủ tiêu’ trong cách mạng. Tiêu vong sau cuộc cách mạng
ấy, là nhà nước vô sản hay là nữa nhà nước”. [1;23].
“ ‘Hành động’ nhân danh xã hội mà chiếm hữu các tư liệu sản xuất, cũng
là ở chỗ đó. lẽ cố nhiên sự thay thế ‘một lực lượng đặc biệt’ (lực lượng của

tư sản, nửa vô sản – trong công cuộc ‘tổ chức’ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa”
[1;32].
Tác phẩm khẳng định vai trò của Đảng Cộng sản. “Chủ nghĩa Mác giáo
dục đảng công nhân, là giáo dục đội tiền phong của giai cấp vô sản, đội tiền
phong này đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã
hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức xấy dựng một chế độ mới, đủ sức làm thầy,
làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động và những
người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của họ, mà không cần
đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản” [1; 33].
Lenin cho rằng khi giai cấp tư sản đã lỗi thời, phản động, không có khả
năng phát động phong trào cách mạng mang tính nhân dân, giai cấp công
nhân phải lôi cuốn được đa số nhân dân lao động xây dựng khối liên minh
công nhân, nông dân, thực hiện cuộc cách mạng để trở thành giai cấp thống
trị, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản và dân chủ vô sản, cải tạo xã hội
chủ nghĩa.
2.3 Mối quan hệ giữa chuyên chính và dân chủ.
Lenin cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa chuyên chính và dân chủ khi
khẳng định nhà nước chuyên chính vô sản không phải là lực lượng đặc biệt
để trấn áp đa số nhân dân lao động mà đó chính là nhà nước của nhân dân
lao động, dùng để trấn áp thiểu số bóc lột và mở rộng dân chủ cho nhân dân
trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, vì vậy, nhà nước chuyên chính vô
sản và dân chủ vô sản là cao nhất trong lịch sử.


Cả nhà nước chuyên chính và nhà nước chuyên chính tư sản đều tất yếu ra
đời vì đó là quy luật phát triển chung. Còn về bản chất thì dân chủ của nhà
nước chuyên chính vô sản, thì giai cấp công nhân là người chuyên chính,
giai cấp bị bóc lột là giai cấp bị chuyên chính. Còn trong nhà nước chuyên
chính tư sản thì, giai cấp tư sản là người chuyên chính, giai cấp công nhân
và nhân dân lao động là người bị chuyên chính.

Quá trình nhà nước chuyên chính vô sản tiêu vong là một điều đơn giản,
vấn đề dân chủ và vấn đề chuyên chính có mội quan hệ mất thiết, khăng khít
với nhau, càng tăng cường chuyên chính thì dân chủ càng được đam rbaor và
thực hiện tốt hơn. “Cơ sở kinh tế làm cho nhà nước tiêu vong hoàn toàn là
chủ nghĩa cộng sản đạt tới trình độ phát triển cao khiến mọi sự đối lấp giữa
lao động trí óc và lao động chân tay không còn nữa, vào do đó, cũng không
còn một trong những nguồn gốc chủ yếu của sự bất bình đẳng xã hội hiện
nay; nguồn gốc này, nếu chỉ xã hội hóa tư liệu sản xuất, chỉ tước đoạt bọn tư
bản thì không thể nào làm tiêu tan được”. [1; 118].
“Cho nên, chúng ta chỉ có quyền nói rằng, nhà nước tất nhiên sẽ tiêu
vong, đồng thời nhấn mạnh vào tính chất lâu dài của quá trình ấy, sự phụ
thuộc của quá trình ấy vào tốc độ phát triển của giai đoạn cao của chủ nghĩa
cộng sản, đồng thời gác hẳn lại vấn đề thời hạn và hình thức cụ thể của sự
tiêu vong ấy, vì chúng ta không có những tài liệu để giải quyết accs vấn đề
đó.
Nhà nước có thể bị tiêu vong hoàn toàn khi xã hội đã thực hiện được
nguyên tắc: ‘Làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu’ nghĩa là khi người ta đã
rất quen tôn trọng những quy tắc cơ bản của đời sống chung trong xã hội, và
năng suất lao động của người ta đã lên cao tới mức người ta sẽ tự nguyện
làm hết năng lực”. [1; 118].


“Từ nay cho đến khi giai đoạn ‘cao’ của chủ nghĩa cộng sản xuất hiện,
những người xã hội chủ nghĩa yêu cầu xã hội và nhà nước kiểm soát một
cách nghiêm ngặt mức độ lao động và mức độ tiêu dùng, nhưng việc kiểm
soát ấy phải bắt đầu bằng việc tước đoạt bọn tư bản, bằng việc công nhân
kiểm soát bọn tư bản, và sự kiểm soát này không phải do nhà nước của bọn
quan lại thi hành, mà do nhà nước của công nhân vũ trang thi thành” [1;
119].
Khi khai thác nội dung về chuyên chính vô sản, Lenin cũng đã cho thấy

Nó đã mở ra một thời kỳ mới của nhân laoij, cách mạng tháng Mười Nga đã
cổ vũ nhân dân nhiều nước trên thế giới làm cách mạng, như cách mạng ở
các nước châu Á tiêu biểu là cách mạng Việt Nam, cách mạng Trung Quốc,
cách mạng CuBa….
Ngày nay, những nội dung lý luận trong tác phẩm “Nhà nước và cách
mạng” vẫn còn có ý nghĩa thực tiễn sát thực trong việc bảo vệ và xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
3.1 Thực trạng việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghãi ở Việt Nam
hiện nay.
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
ở nước ta đã trải qua 27 năm, sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay
đang đứng trước những thời cơ lớn, mà những biểu hiện chủ yếu là: đất nước
đang chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đang tiếp tục có sự ổn định về
nhiều mặt, trong đó có sự ổn định về chính trị, mặc dù có chịu ảnh hưởng từ
khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới. Đây chính là những điều
kiện tiên quyết, rất quý báu, tạo ra môi trường bên trong và bên ngoài để đất


nước đi lên nhanh hơn, vững chắc hơn. Xu thế hòa bình, hợp tác và phát
triển trên thế giới cũng tạo điều kiện cho Việt Nam tiến nhanh hơn.
Bên cạnh đó, tháng 1/1944 Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ
của Đảng đã chỉ rõ bốn thách thức và đồng thời cũng là bốn nguy cơ trong
quá trình phát triển của đất nước ta những năm sau đó, đó là Nguy cơ tụt hậu
xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm
xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc, lại phải đi
lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ
nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính
sách và chỉ đạo thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy
cơ diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch.
Vai trò lãnh đạo của Đảng chưa được khai thác tối đa, đội ngũ cán bộ còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status