V.I.LÊNIN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VỀ THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ TRONG TÁC PHẨM “KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG
THỜI ĐẠI CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN”. Ý NGHĨA
ĐỐI VỚI VIỆC NHẬN THỨC CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
* Tác phẩm “Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”
của V.I. Lê-nin là một bài báo trình bày ngắn gọn những tư tưởng chủ yếu của
một cuốn sách ( Lênin bỏ dở không kịp viết) đăng trên báo Sự thật 7.11.1919,
nhân kỷ niệm 2 năm chính quyền Xô viết ra đời. Đặc điểm lịch sử nổi bật
nước Nga sau 2 năm ra đời và tồn tại của chính quyền Xô viết cũng là 2 năm
đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những thời kỳ
nghiêm trọng nhất đối với nhà nước Xô viết. Nội chiến và chiến tranh can
thiệp của nước ngoài gay gắt (cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài
quyết liệt phức tạp). Nền kinh tế hoang tàn kiệt quệ. Lênin đã lãnh đạo Đảng
và nhà nước Xô viết lãnh đạo sự nghiệp phòng thủ đất nước, bảo vệ tổ quốc,
bảo vệ chính quyền Xô viết, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, đồng thời quan tâm đến
việt tổng kết kịp thời những kinh nghiệm đầu tiên của quần chúng trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
* Tác phẩm: " Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản"
gồm lời mở đầu và 5 phần.
- Lời mở đầu: Đây là tư tưởng chính yếu nhất của một cuốn sách đang
sơ thảo. Với một mục đích nho nhỏ: nêu vấn đề và đưa ra những nét chính để
các đồng chí cộng sản ở các nước thảo luận (tư tưởng chính của 2 chương
trong 4 chương chủ yếu của cuốn sách):
- Phần 1: Thời kỳ qúa độ và bản chất của nó.
- Phần 2: Kết cấu kinh tế- xã hội của thời kỳ quá độ và nhiệm vụ chủ
yếu của nhà nước chuyên chính vô sản.
- Phần 3: Tình hình sản xuất và phân phối lương thực: Những con số
nói lên đặc điểm kinh tế- giai cấp chủ yếu của nước Nga trong thời kỳ quá độ.
2
2
3
qua một loạt quá trình lịch sử là hoàn toàn biến đổi cả về hoàn cảnh và con
người (tư tưởngtrong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”).
Bằng quan điểm duy vật lịch sử, Lênin đã trung thành với những tư
tưởng của Mác về thời kỳ quá độ và phát triển những tư tưởng ấy trong một
giai đoạn mới của cách mạng, làm cho những vấn đề lý luận về thời kỳ quá độ
không chỉ là quá độ về chính trị, mà trước hết và chủ yếu là quá độ về kinh tế.
Lênin đã nghiên cứu toàn diện thời kỳ quá độ với tính cách là một thời kỳ lịch
sử mở đầu hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa. Những tư tưởng này được
trình bày cụ thể trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”. Trong tác phẩm
này, Lênin nghiên cứu thời kỳ quá độ trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Xô viết.
Về tính tất yếu của thời kỳ quá độ, Lênin viết: “Không thể nghi ngờ gì
được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản có một thời kỳ nhất
định”1, đây chính là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh
vực. Lênin đã phê phán một cách sâu sắc các tư tưởng cơ hội, phản động, xét
lại trong quốc tế 2: phủ nhận thời kỳ quá độ, mà bản chất là phủ nhận những
cơ sở kinh tế và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ: “Tuy nhiên, tất cả
những lập luận về bước chuyển sang chủ nghĩa xã hội mà chúng ta nghe thấy
ở cửa miệng những đại biểu hiện đại của phái dân chủ tiểu tư sản (tất cả
những đại biểu của Quốc tế II, kể cả những người như Mácđônan,
Giănglôngghê, Cauxky và Phriđrich Átlơ mặc dầu mang cái nhãn hiệu giả
danh xã hội chủ nghĩa nhưng cũng vẫn cứ là những đại biểu hiện đại của phái
sản. Những đặc trưng và những mâu thuẫn cơ bản quy định bản chất của thời
kỳ quá độ: “Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu
tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giẫy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát
sinh, hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa
bị tiêu diệt hẳn và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh những vẫn còn rất non
yếu”5. Cơ sở kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ quy định bản chất của thời kỳ
này là giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư
bản.
2. Luận giải về bản chất của thời kỳ quá độ, phương pháp tiếp cận
của Lênin là đi từ cơ sở kinh tế của thời kỳ này, tư tưởng then chốt: Thời
kỳ quá độ bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau
Trước đây, trong tác phẩm: "Bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư sản”,
Lênin đã phân tích và chỉ ra cơ sở kinh tế của thời kỳ quá độ bao gồm cả
3 Sđd. Tr.310.
4 Sđd. Tr.310.
5 Sđd. Tr.309.
4
4
5
những mảnh của chủ nghĩa tư bản lẫn những mảnh của chủ nghĩa xã hội. Đến
tác phẩm này, một lần nữa Lênin khẳng định: thời kỳ quá độ, bao gồm 2 kết
cấu kinh tế cơ bản: “Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm
hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy” 6, hai kết cấu kinh tế xã
hội đó là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Đây là một đặc điểm cơ bản
và phổ biến của tất cả các nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ cơ sở phân tích
12 Sđd. Tr.319.
13 Sđd. Tr.517.
6
6
7
Đối với giai cấp nông dân, Lênin đã phân tích sâu sắc sự tồn tại và phát
triển, sự phân hoá của giai cấp nông dân trong thời kỳ quá độ. “Nông dân,
cũng như mọi giai cấp tiểu tư sản nói chung, vẫn giữ một địa vị đứng giữa,
một địa vị trung gian”14. Về tính hai mặt của nông dân: “Một mặt họ là một số
quần chúng lao động khá đông đảo (vô cùng đông đảo trong nước Nga chậm
tiến) đoàn kết với nhau vì lợi ích chung của những người lao động là giải
thoát khỏi bọn địa chủ và tư bản” 15; “Mặt khác, họ là những tiểu chủ riêng lẻ,
tiểu tư hữu và tiểu thương. Địa vị kinh tế như thế tất nhiên sẽ làm cho họ dao
động, ngả nghiêng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản”16.
Từ cơ cấu xã hội - giai cấp, Lênin đã luận giải tính tất yếu đấu tranh
giai cấp trong thời kỳ quá độ.
Lênin viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp chưa chấm dứt dưới thời chuyên
chính vô sản, nó chỉ diễn biến ra dưới những hình thức khác mà thôi” 17. Tính
tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp xuất phát từ nhiều nguyên nhân
cụ thể. Trước hết, do chủ nghĩa tư bản tăng cường chống phá về mọi mặt:
“Chính vì chúng đã thất bại nên sự phản kháng của chúng ngày càng tăng lên,
gấp trăm, gấp ngàn lần. ““Nghệ thuật” quản lý nhà nước, quân đội, kinh tế tạo
cho chúng một ưu thế sâu và rất lớn, khiến cho tác dụng của chúng vô cùng to
lớn hơn”18. “Sở dĩ giai cấp tư sản toàn thế giới đã lồng lộn lên và điên cuồng
chống chủ nghĩa Bôn sê vích, tổ chức những cuộc xâm lược quân sự, những âm
các phần tử và các giai cấp dao động, trung gian, nó trấn áp sự phản kháng
ngày càng tăng của bọn bóc lột. Tất cả những cái đó là nhiệm vụ đặc biệt của
đấu tranh giai cấp, những nhiệm vụ mà trước kia giai cấp vô sản không đề ra
và không thể nào đề ra được”22.
Do đó, cuộc đấu tranh giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản trở nên vô cùng
ác liệt (nói đến cách mạng phải hiểu điều đó, nếu không hiểu... chỉ là ảo tưởng cải
lương). Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong suốt thời kỳ quá độ với hình thức
mới. Một hình thức biểu hiện là đấu tranh chống bọn buôn lâụ, đầu cơ lương thực.
Tác động lãnh đạo giai cấp tiểu tư sản cũng là một hình thức đấu tranh đặc biệt.
4. Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, chuyên
chính vô sản là tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn mới;
chuyên chính vô sản sẽ trở nên vô ích khi không còn các giai cấp, chuyên
chính vô sản là đặc thù trong thời kỳ quá độ
Trong tác phẩm “Bàn về chuyên chính vô sản” được viết vào tháng 9,
tháng 10 năm 1919, Lênin đã đề cập một số vấn đề liên quan đến chuyên
chính vô sản. Lênin khẳng định “Chuyên chính vô sản là sự tiếp tục cuộc đấu
tranh giai cấp của giai cấp vô sản dưới những hình thức mới. Đó là điểm then
chốt, mà người ta đã không hiểu được”, “Trong điều kiện chuyên chính vô
sản, những hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản không thể giống như trước
21 Sđd. Tr.315.
22 Sđd. Tr.319
8
8
9
được. Năm nhiệm vụ mới (chủ yếu nhất) và respective 5 hình thức mới” 23:
9
9
10
Một đặc trưng khác của chuyên chính vô sản: Chuyên chính vô sản là
sự xóa bỏ nền dân chủ tư sản và thiết lập nền dân chủ vô sản. Lênin vạch trần
thực chất của dân chủ tư sản: dân chủ chung chung, hình thức, dân chủ cho
giai cấp bóc lột; quan niệm có thể kinh qua con đường dân chủ nói chung để
tiến tới chủ nghĩa xã hội - đó là những quan niệm "trừu tượng về dân chủ",
lừa bịp che dấu bản chất giai cấp tư sản. Lênin vạch trần bản chất giai cấp của
dân chủ tư sản về: bình đẳng, tự do chính trị, quan điểm theo đa số, bằng cách
biểu quyết (thực chất quyết định bằng tiền bạc, tư bản, tư hữu) - lừa bịp người
lao động bằng cái bình đẳng hình thức trong khi vẫn giữ nguyên gông, ách,
chế độ tư hữu, đó chính là thực chất dân chủ tư sản. Để phân biệt các nền dân
chủ, cần phải trả lời các câu hỏi: “tự do thoát khỏi sự áp bức của giai cấp nào?
bình đẳng của giai cấp nào với giai cấp nào? dân chủ trên cơ sở quyền tư hữu
hay trên cơ sở cuộc đấu tranh để thủ tiêu quyền tư hữu” 26. Do đó, giai cấp vô
sản muốn thực hiện dân chủ vô sản thì phải quyết định bằng đấu tranh giai
cấp, phải xoá bỏ tư bản, xoá bỏ bóc lột và những điều kiện thực tế của dân
chủ tư sản chung chung, hình thức.
Để thực hiện chuyên chính vô sản và đảm bảo thắng lợi cho cuộc đấu
tranh giai cấp, cần phải liên minh công nông. Liên minh công nông là động
lực để thực hiện chuyên chính vô sản. Trong cách mạng vô sản, cả hai giai
cấp vô sản và nông dân đã được giải phóng khỏi quan hệ tư hữu, giải phóng
khỏi ách áp bức bóc lột. Đó là một bước tiến chưa từng có trong lịch sử .
Chuyên chính vô sản đã đem lại lợi ích cho giai cấp nông dân. Họ được chia
sự hai mặt của giai cấp nông dân, vì đối với giai cấp nông dân, trong cuộc đấu
tranh giai cấp thì “trong số những người đó, có những kẻ nhảy từ bên này
sang bên kia, những kẻ dao động, đổi chiều chuyển hướng, lưỡng lự ...”30.
Trên đây là một số nội dung chủ yếu về thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh
tế – xã hội, giai cấp , đấu tranh giai cấp và về chuyên chính vô sản trong tác
phẩm “Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” của Lê nin. Tác
phẩm đã trang bị cho giai cấp vô sản, nhân dân thế giới nói chung, Đảng Bôn
sê vích và nhân dân Nga Xô viết nói riêng phương pháp luận nhận thức tình
hình thực tiễn đấu tranh những năm đầu của thời kỳ quá độ, những vấn đề
nóng hổi, cấp bách cần giải quyết. Trên cơ sở đó để đề ra đường lối chính
sách trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phát triển lý luận
chủ nghĩa Mác về thời kỳ quá độ, giai cấp và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ
quá độ, đồng thời đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa cơ
27 Sđd. Tr.317.
28 Sđd. Tr.317.
29 Sđd. Tr.517.
30 Sđd. Tr.320.
11
11
12
hội, xét lại. Ngày nay, tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị đối với các nước xã
hội chủ nghĩa, nhất là các vấn đề lý luận và thực tiễn về tính tất yếu, đặc
trưng, bản chất; về cơ cấu kinh tế - xã hội, giai cấp; đấu tranh giai cấp và xây
dựng nền chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ...
II. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆC NHẬN THỨC CHỦ NGHĨA XÃ
13
chính là một trong những nguyên nhân làm cho chủ nghĩa xã hội hiện thực
trên phạm vi toàn thế giới sụp đổ.
Tuy vậy, sự thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên xô,
Đông Âu đòi hỏi những người cộng sản phải quay trở về với chủ nghĩa duy
vật lịch sử: trong lịch sử nhân loại không có một chế độ xã hội nào ra đời
suôn sẻ, không trải qua thăng trầm, chòng chành, giành đi, giật lại giữa lực
lượng cách mạng và phản cách mạng, giữa tiến bộ và lạc hậu. Lịch sử phát
triển không phải là con đường thẳng, tiến lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua
một giai đoạn dài, đó chính là thời kỳ quá độ gay go, phức tạp. Ngay chủ
nghĩa tư bản xuất hiện trong lòng xã hội phong kiến ngay từ thế kỉ XIV nhưng
phải trải qua gần 300 năm sau nó mới đi tới thắng lợi triệt để, vững chắc, hoàn
chỉnh. Chủ nghĩa tư bản đã vậy, chủ nghĩa xã hội còn khó khăn, phức tạp hơn
nhiều. Vì chủ nghĩa xã hội khác về chất so với các xã hội trước đây, nó cao
hơn chủ nghĩa tư bản về mọi phương diện. Vì vậy, chủ nghĩa xã hội, thời kỳ
quá độ không thể nhận thức một lần, không thể làm một lần là xong. Lí luận
về cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung, về thời kỳ quá độ nói riêng phải
không ngừng được bổ xung hoàn chỉnh, tổng kết từ trong thành công và sai
lầm thất bại.
Bản chất lý luận Mác - Lênin nói chung và về thời kỳ quá độ nói riêng
là cách mạng và sáng tạo. Từ thực tiễn luôn vận động và biến đổi không
ngừng, lý luận về thời kỳ quá độ được nuôi sống và cần phải được không
ngừng phát triển, đi đến những khái quát mới, ngày càng phong phú hơn, có
thể đi đến cả sự phủ định những kết luận cũ nếu những kết luận đó không còn
phù hợp với thực tiễn mới. Chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, nóng vội; lề thói
kinh viện, sự sơ cứng trong tư duy lý luận là trái với bản chất cách mạng và
sáng tạo của lý luận Mác - Lênin, làm cho nó cùn mòn và khô héo đi.
2. Cùng với quá trình nhận thức sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã
Việt Nam đã, đang đạt được những thành tựu hết sức quan trọng về việc phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về việc thực hiện
những mục tiêu kinh tế xã hội trong thời kỳ quá độ. Những thành tựu này
càng khẳng định: Giá trị bền vững của học thuyết Mác - Lênin nói chung, lý
luận về thời kỳ quá độ nói riêng vẫn luôn luôn sống động trong thực tiễn.
Điều này bác bỏ hoàn toàn những quan điểm sai trái, giả hiệu của các trào lưu
tư tưởng phản động hiện nay. Với phương pháp kiên trì, khoa học, sáng tạo và
cách mạng, Lênin đã nêu một tấm gương sáng về việc kiên quyết đấu tranh
14
14
15
chống lại những quan điểm, tư tưởng cơ hội, thực dụng, xét lại của quốc tế II
và các trào lưu phản động thời kỳ bấy giờ.
3. Những nội dung được Lênin trình bày trong tác phẩm “Kinh tế
chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” là cơ sở phương pháp luận
để chúng ta nhận thức hệ thống các quan điểm, đường lối của Đảng ta
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Lênin khẳng định trong tác phẩm: “...có thể là đối với một bài báo nhỏ,
thì làm như vậy cũng sẽ đạt được mục đích nho nhỏ là: nêu vấn đề và đưa ra
những nét chính để cho các đồng chí cộng sản ở các nước thảo luận” 32. Nhưng
bài báo đó, mặc dù dung lượng số trang viết ít, nhưng nội dung lại đặc biệt có
giá trị đối với Đảng ta trong sự nghiệp lãnh đạo dân tộc tiến hành xây dựng
thời kỳ quá độ.
Được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh,
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu hết sức quan trọng trong thời kỳ quá độ.
hiện ngày càng cụ thể hơn. Bằng cách khảo sát thông qua hệ thống văn kiện
của Đảng, chúng ta sẽ rút ra được những nội dung xoay quanh vến đề này.
Về tính tất yếu, đặc trưng của thời kỳ quá độ: Báo cáo chính trị Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: hiện nay chúng ta đang ở trong
chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc đề cập
như vậy là sự đánh giá đúng thực trạng tình hình xây dựng chủ nghĩa xã hội
của nước ta, đánh giá đúng trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nước ta.
Để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, chúng ta phải tập trung sức
phát triển lực lượng sản xuất, phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần
kinh tế, huy động mọi nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, không nên lấy mục tiêu xa để áp đặt, bắt thực tiễn phải
khuôn theo khi chưa có điều kiện.
Báo cáo chính trị Đại hội IX đã chỉ rõ “Con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội của nước ta là sự phát triển quá độ chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất
và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những
thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế dộ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là
về khoa học công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền
kinh tế hiện đại”33. Đồng thời phải từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ
sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; chống tư tưởng duy lực
lượng sản xuất, chủ nghĩa kỹ trị.
33 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB CTQG. Hà Nội. 2001.
Tr.84.
16
16
17
vừa có vừa chưa có đầy đủ yếu tó xã hội chủ nghĩa.
17
17
18
Về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế: Dự thảo văn kiện Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định nước ta có 3 chế độ sở hữu:
sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân; thể hiện dưới 4 hình thức cơ
bản: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp.
Tương ứng với 4 hình thức sở hữu cơ bản trên, nền kinh tế của nước ta có 4
thành phần kinh tế cơ bản là: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư
nhân và kinh tế hỗn hợp. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh
tế tập thể có vị trí ngày càng lớn trong nền kinh tế; kinh tế tư nhân có vai trò
rất quan trọng, là một động lực cho sự tăng trưởng nhanh và hiệu quả của nền
kinh tế, góp phần tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo. Kinh tế hỗn hợp mà đặc
trưng là sở hữu cổ phần sẽ phát triển mạnh và ngày càng trở thành phổ biến
trong nền kinh tế.
Việc phân định các loại hình sở hữu và các thành phần kinh tế là rất cần
thiết để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế nói
chung, cho việc phát triển từng thành phần kinh tế nói riêng, khẳng định như
vậy không phải là để phân biệt đối xử mà là để có chính sách đúng đắn, giải
phóng mọi lực lượng sản xuất, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển phù hợp với
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về đấu tranh giai cấp và động lực để phát triển đất nước: Mặc dù,
trong những năm gần đây, chúng ta ít nói đến đấu tranh giai cấp, song xuyên
suốt trong các quan điểm, tư tưởng, đường lối, chiến lược, sách lược, phương
hướng cơ bản phát triển đất nước vẫn luôn bao hàm nội dung đấu tranh giai
các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một
nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”34
Về vấn đề xây dựng Nhà nước chuyên chính vô sản, xây dựng nền
chuyên chính vô sản được biểu hiện tập trung nhất trong việc xây dựng Nhà
nước của dân, do dân và vì dân. Với những tư tưởng chỉ đạo của các Nghị
quyết Đại hội và Nghị quyết Trung ương, trong 20 năm đổi mới vừa qua, tuy
còn có những mặt yếu kém, nhưng nền chuyên chính vô sản, nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nước ta tiếp tục được xây dựng và không ngừng
hoàn thiện. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được phát huy và
ngày càng được mở rộng. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, bất cứ
nhà nước nào cũng là nền chuyên chính của giai cấp thống trị, cũng thực hiện
các chức năng của nhà nước. Nhà nước ta cũng vậy, mang bản chất giai cấp
công nhân nhưng đồng thời cũng gắn bó chặt chẽ với tính dân tộc, tính nhân
dân; nhà nước thực hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. Từng
34 Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd. Tr. 86.
19
19
20
bước đi trong thời kỳ quá độ, chúng ta không ngừng xây dựng và hoàn thiện
nền chuyên chính vô sản, nhà nước chuyên chính vô sản để ngày càng phát
huy hơn nữa vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội...
Về vấn đề liên minh giai cấp, Báo cáo chính trị của Đảng khẳng định
“Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở
liên minh giữa công nhân và nông dân với trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp
hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và
“Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” không chỉ có ý nghĩa
lịch sử to lớn mà trong thời đại đầy những biến động như hiện nay. Những nội
dung lý luận về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trong
tác phẩm này vẫn mãi giữ được vị trí xứng đáng mà nó đã giành được trong
lịch sử triết học nhân loại đồng thời là cơ sở lý luận to lớn để Đảng cộng sản
và phong trào công nhân các nước xã hội chủ nghĩa còn lại vận dụng tiến
hành thành công công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ.
21
21