MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1.
Hoàn cảnh ra đời và kết cấu của tác phẩm
1.1.
1.2.
2.
Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Kết cấu của tác phẩm
Những vấn đề về phép biện chứng trong
“Bút ký triết học” của Lênin và ý nghĩa đối
với việc bảo vệ, phát triển triết học Mác-
2.1.
Lênin hiện nay
Những vấn đề về phép biện chứng trong tác
2.2.
phẩm “Bút ký triết học” của Lênin
Ý nghĩa đối với việc bảo vệ, phát triển triết
học Mác-Lênin hiện nay
KẾT
LUẬN
các thế lực thù địch và những người giả danh mácxít ra sức kêu gào, xuyên
tạc, đòi phủ nhận học thuyết khoa học cách mạng đó. Họ cho rằng, triết học
Mác - Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duy vật đã trở nên lỗi thời, lạc hậu,
không còn giá trị gì đối với lịch sử, và thời đại.
Với nhân quan khoa học, sự công bằng khách quan, chúng ta khẳng định
rằng, triết học Mác - Lênin nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng
vẫn là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa
học và thực tiễn cách mạng nhất là trong vấn đề bảo vệ, phát triển triết học
Mác – Lênin hiện nay. Với ý nghĩa đó, việc nghiêm túc nghiên cứu nhận thức
những vấn đề về phép biện chứng của Lênin trong hai tác phẩm kinh điển gốc
“Những “Người bạn dân” là như thế nào và họ đấu tranh chống những người
dân chủ xã hội ra sao?” và “Bút ký triết học” có ý nghĩa không chỉ về mặt lý
luận mà cả trong thực tiễn, không chỉ đối với lịch sử, hiện tại mà cả tương lai
đối với sự phát triển của triết học Mác – Lênin.
NỘI DUNG
1. Điều kiện lịch sử Lênin bảo vệ, phát triển phép biện chứng của
triết học Mác
1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Tình hình thế giới
Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc.
Giai cấp tư sản ngày càng thể hiện rõ tính chất phản động, chúng điên cuồng
sử dụng bạo lực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho những
mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản càng trở nên gay gắt, trầm trọng
dẫn đến chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra vào năm 1914 đến năm 1918.
Trong điều kiện lịch sử đó, giai cấp vô sản phát triển mạnh cả về số
lượng và chất lượng. Bởi, chủ nghĩa tư bản phát triển nên kéo theo số lượng
cuộc nội chiến cách mạng, đánh đổ giai cấp tư sản thống trị. Các lãnh tụ của
Quốc tế II đã chọn lập trường của giai cấp tư sản, phản bội lại giai cấp công
nhân. Cơ sở lý luận của đường lối phản động đó là chủ nghĩa chiết trung và
thuyết ngụy biện.
Về mặt lý luận, Lênin phải đề cao phép biện chứng duy vật, chống lại
thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung của những lãnh tụ Quốc tế II. Cơ sở
lý luận của những quan điểm và đường lối sai lầm của Quốc tế II là sự phản
lại phép biện chứng duy vật. Ngay từ năm 1899, Bécstanh đã công khai chống
lại phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác, ông ta đòi hỏi phải "trở về
với Cantơ".
Cauxky cũng là một lãnh tụ của Quốc tế II không hiểu ý nghĩa của phép
biện chứng duy vật và cũng chống lại phép biện chứng duy vật, nhưng không
trắng trợn, công khai như Bécstanh. Plêkhanốp là nhà triết học mácxít kiệt
xuất lúc đó, tuy vậy ông có hạn chế là coi nhẹ và lý giải lệch lạc phép biện
chứng duy vật, quy phép biện chứng chỉ là tổng cộng các ví dụ thực tế. Và
cuối cùng cũng đi theo chủ nghĩa cơ hội của Quốc tế II.
Vì không hiểu phép biện chứng duy vật và bị giai cấp tư sản mua chuộc
nên nhiều lãnh tụ của Quốc tế II đã không đứng vững trên lập trường cách
mạng của giai cấp vô sản, trước những tình hình phức tạp, họ đã trượt theo
chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện. Điều này thể hiện rõ nhất là thái độ
của họ đối với cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khi nổ ra chiến tranh, thì
Plêkhanốp, Cauxky đã ngả theo lập trường của chủ nghĩa sôvanh của giai cấp
tư sản, kêu gọi giai cấp công nhân với chiêu bài "bảo vệ Tổ quốc" để bảo vệ
lợi ích của giai cấp tư sản nước mình mà tham gia vào cuộc chiến tranh đế
quốc, tàn sát những người anh em cùng giai cấp.
Hai quan điểm phát triển đối lập. Đó là quan điểm của phép biện chứng
duy vật, mà tiêu biểu cho quan điểm này là Lênin và quan điểm chống lại
phép biện chứng duy vật là quan điểm của một số lãnh tụ của Quốc tế II.
Sau khi xuất bản tác phẩm triết học “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán” (1908), Lênin lại tiếp tục đi sâu nghiên cứu triết học,
đặc biệt là nghiên cứu phép biện chứng duy vật. Có lẽ Lênin định viết một tác
phẩm triết học về vấn đề này nhưng chưa kịp hoàn thành. Lênin chỉ để lại cho
chúng ta Tập bút ký, mà ngày nay tập hợp lại xuất bản thành sách với tên gọi
“Bút ký triết học” bao gồm những bản tóm tắt, những đoạn trích, những ghi
chú về các cuốn sách và những bài viết, những ghi chú, những nhận xét của
Lênin. Tác phẩm “Bút ký triết học” được Lênin viết trong khoảng thời gian
1895-1916, trong đó chủ yếu là 1914-1916 và lần đầu tiên xuất bản vào năm
1929-1930 sau đó được bổ sung và hoàn thiện dần.
1.2. Kết cấu của tác phẩm
Tập 29 trong V.I.Lê-nin Toàn tập gồm những bản tóm tắt, những đoạn
trích, những ghi chú về các cuốn sách và các bài khác nhau viết về triết học,
và cả những ý kiến và bút tích của Lê-nin ghi bên lề và trong văn bản các
cuốn sách triết học trong tủ sách riêng của Người.
Tập này được chia thành ba phần; trong mỗi phần có những tài liệu ít
nhiều đồng nhất về tính chất.
Phần I gồm 9 bản tóm tắt các tác phẩm triết học của Mác, Ăngghen,
Phoiơbắc, Hêghen…
Phần II gồm những ghi chú khác nhau về các sách, các bài viết và các bài
phê bình sách báo triết học từ 1903-1916.
Phần III gồm những đoạn trích các cuốn sách kèm theo những ý kiến và
bút tích của Lênin từ 1908-1911.
Trong các phần, tài liệu được sắp xếp theo thứ tự thời gian, trên cơ sở
những ngày tháng đã được xác định bằng phương pháp gián tiếp trước đây
hay là khi soạn tập này, bởi vì hầu như tất cả các tài liệu đều không được tác
giả đề ngày tháng.
Trong Lênin Toàn tập, cuốn “Bút ký triết học” thuộc về thời kỳ chiến
vận động" (đây là NB! vận động tự thân (độc lập), tự nhiên, tất yếu bên
trong), "sự biến đổi", "vận động và sức sống", "nguyên tắc của tất cả mọi sự
tự vận động", "xung lực"... kích thích "sự vận động" và "sự hoạt động" - đối
lập với "tồn tại chết"...". Lênin cho rằng, Hêghen đã nêu rõ căn nguyên bên
trong của vận động tự thân, đó là tính tất nhiên bên trong, xung lực bên trong
và sức sống... Do đó, vật chất là tự vận động, có tính năng động. Lênin nói
tiếp: "Ai có thể tin rằng đấy là bản chất của "chủ nghĩa Hêghen"... Cái bản
chất đó, phải phát hiện nó ra, hiểu nó,... bóc nó ra, lọc cho nó trong, và đó là
công việc mà Mác và Ăngghen đã làm"2. Ở đây Lênin chỉ ra hạt nhân hợp lý
của triết học Hêghen và nêu lên thái độ đúng đắn đối với nó. Bản thân Mác và
Ăngghen cũng đã làm như vậy.
Khoa học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ thứ XX đã chứng minh cho nguyên
lý vận động và phát triển của phép biện chứng duy vật. Điều đó làm cho
những người có đầu óc siêu hình cũng phải thừa nhận. Song, sự thừa nhận của
họ là miễn cưỡng, là bề ngoài, là không thực chất, hoàn toàn khác với phép
biện chứng duy vật. "Ở thế kỷ XX (và ngay hồi cuối thế kỷ XIX), "mọi người
1
2
V.I.Lênin, Toàn tập, tập 29, tr 379. Nxb TBM.1981
V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2005. Tập 29. tr150
đều đồng ý" với "nguyên tắc về sự phát triển". - Nhưng sự "đồng ý" nông cạn,
thiếu suy nghĩ, ngẫu nhiên, Philixtanh ấy là một loại đồng ý mà người ta dùng
để bóp nghẹt và tầm thường hoá chân lý". Tiếp đó, Lênin nói về nguyên lý
phát triển theo quan điểm biện chứng như sau: "Nếu tất cả đều phát triển thì
tức là tất cả đều chuyển hoá từ cái nọ sang cái kia, bởi vì, như người ta đã
biết, sự phát triển không phải là một sự lớn lên, một sự tăng thêm (respective
một sự giảm bớt) etc. đơn giản, phổ biến và vĩnh viễn"1.
vật, hiện tượng. Ông viết: "Lý tính (trí tuệ) đang tư duy mài sắc sự khác nhau
1
C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, HN.1994, tr21
C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, HN.1994, tr201
3
V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2005. Tập 29. tr148-149
4
V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2005. Tập 29. tr106
2
đã cùn đi của cái khác nhau, tính nhiều vẻ đơn giản của những biểu tượng
thành một sự khác nhau bản chất, một sự đối lập. Chỉ khi nâng lên đến chóp
đỉnh của mâu thuẫn thì những cái nhiều hình nhiều vẻ mới trở nên động và
sống đối với nhau, - và mới chứa đựng một tính phủ định, tức là sự phốc động
bên trong của tự vận động và của sức sống"1.
Tiếp đến, trong bài Về vấn đề phép biện chứng, Lênin đã nói về quy luật
mâu thuẫn như sau: "Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ
phận mâu thuẫn của nó..., đó là thực chất... của phép biện chứng"2.
Lênin khẳng định, quy luật mâu thuẫn là thực chất và hạt nhân của phép
biện chứng duy vật. Sở dĩ như vậy là vì, quy luật mâu thuẫn là chìa khoá để
hiểu biết về các quy luật khác của phép biện chứng duy vật. Chính vì vậy mà
trong Bút ký triết học, Lênin đã hai lần nói rằng bản chất của phép biện chứng
là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Sau khi trình bày 16 yếu tố
của phép biện chứng, Lênin nói: "Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng
là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt
nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích
và một sự phát triển thêm"3.
Ở một chỗ khác Lênin lại viết: "Theo nghĩa đen, phép biện chứng là sự
của tính tiệm tiến. Bằng tính thống nhất (đồng nhất) của tồn tại và không tồn
tại"1.
Lênin nhận xét sự trình bày quy luật này trong "Lôgích học" của Hêghen
như sau: "Sự chuyển hoá lượng thành chất, trong bản trình bày lý luận - trừu
tượng, thì tối nghĩa đến nỗi người ta không hiểu gì cả" 2. Hêghen phê phán
quan điểm cho rằng một sự vật mới ra đời là do quá trình tiệm tiến, theo
Hêghen, thì để cho sự vật mới ra đời phải có sự nhảy vọt về chất. Lênin chủ ý
trích dẫn câu nói của Hêghen: "Tính tiệm tiến mà không có bước nhảy vọt, thì
không giải thích được gì cả"3.
Trong khi nói về những yếu tố của phép biện chứng, Lênin đã nêu ra quy
luật này. Yếu tố thứ chín của phép biện chứng là: "Không phải chỉ là sự thống
nhất của các mặt đối lập, mà còn là những chuyển hoá của mỗi quy định, chất,
đặc trưng, mặt, thuộc tính sang mỗi cái khác [sang cái đối lập với nó?]" 4. Và
yếu tố thứ 15, Lênin nói đến sự biển đổi về chất là: "Đấu tranh của nội dung
với hình thức và ngược lại. Vứt bỏ hình thức, cải tạo nội dung"5.
Về quy luật phủ định của phủ định
Bàn về quy luật phủ định của phủ định, Ăngghen cho rằng: “Phủ định
của phủ định là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy mà có một tầm
quan trọng và có tác dụng vô cùng to lớn về sự phát triển của tự nhiên, của
1
V.I.Lênin Toàn tập,
V.I.Lênin Toàn tập,
3
V.I.Lênin Toàn tập,
4
V.I.Lênin Toàn tập,
5
V.I.Lênin Toàn tập,
2
tưởng về phạm trù. Phạm trù theo Lênin là một hình thức phản ánh giới tự
nhiên trong nhận thức của con người. Phạm trù là vòng khâu của nhận thức.
Phạm trù là những giai đoạn cao của nhận thức con người. Phạm trù là những
điểm nút của thế giới khách quan và nó thể hiện sự tách khỏi của con người
đối với thế giới khách quan. Lênin viết “ Con người bản năng, người man rợ
1
C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, HN.1994, tr200
V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2005. Tập 29. tr278
3
V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2005. Tập 29. tr245
2
không tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm trù là những giai đoạn của sự
tách khỏi đó tức là của sự nhận thức thế giới. Chúng là những điểm nút của
màng lưới”1. Quan niệm của Lênin về tính khách quan và tính lịch sử của
phạm trù là đối lập với quan niệm duy tâm của Hêghen về phạm trù. Lênin đi
sâu phân tích cặp phạm trù cái chung và cái riêng. Bởi đây là quan hệ phổ
biến nhất mà con người thường gặp phải ngay trong từng hoạt động đơn giản
nhất. Nếu không nắm được quan hệ giữa cái chung và cái riêng thì con người
sẽ vấp phải một cách không tự giác trong từng bước đi của mình. Lêni cho
rằng: “ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng” 2 ngược lại “
cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung”3.
Ngoài ra, trong “Bút ký triết học” Lênin còn đề cập và làm rõ mối quan
hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung
và hình thức, nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực.
Những yếu tố của phép biện chứng
Trong bản tóm tắt và phân tích “Lô-gích học” của Hêghen, Lênin đã
đánh giá các định nghĩa của Hêghen về phép biện chứng là những định nghĩa
Yếu tố thứ ba của phép biện chứng đề cập đến nguyên lý về sự phát triển:
“sự phát triển của sự vật ấy (cũng như của hiện tượng), sự vận động của chính
nó, đời sống của chính nó”. Cần phải xem xét các sự vật trong sự vận động,
sự phát triển của chúng. Lênin chú trọng đến tính quy định khách quan của
quá trình phát triển. Trong quá trình phát triển luôn thể hiện các lực bên trong,
các khuynh hướng của sự vật, triển khai nhiều mặt ngày càng mới, khám phá
thêm các hình thức liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Điều quan trọng là phải
vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển. Sự đối lập có tính
nguyên tắc giữa phép biện chứng và phép siêu hình chính ở chỗ này.
Yếu tố thứ tư của phép biện chứng: “những khuynh hướng (và # những
mặt) mâu thuẫn bên trong của sự vật ấy”. Mâu thuẫn bên trong của các sự vật,
hiện tượng - đó là đặc tính phổ biến trong thực tiễn. Lênin viết: “bất cứ một
cái gì cụ thể cũng nằm trong những mối quan hệ khác nhau và thường là mâu
thuẫn với tất cả cái còn lại, ergo, nó là bản thân nó và là cái khác” 1. Lênin dẫn
lại quan điểm của Hêghen, theo đó mọi sự vật đều mâu thuẫn bên trong; “mâu
thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi vận động và của tất cả mọi sức sống; chỉ
1
V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2005. Tập 29. tr146-147
trong chừng mực một sự vật chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn, thì
nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động”1.
Yếu tố thứ năm của phép biện chứng: “sự vật (hiện tượng etc,.) coi là
tổng số # và sự thống nhất của các mặt đối lập”. Đó cũng là đặc trưng cơ bản
của phép biện chứng. Sự thống nhất của các mặt đối lập phản ánh quá trình
vận động và phát triển của sự vật. Khi xem xét các sự vật thực tế nằm ở hệ
thống này hay hệ thống khác của các mối liên hệ, cần phân tích những mặt
khác nhau của sự thống nhất của các mặt đối lập - sự thống nhất bên trong và
bên ngoài, hình thức và nội dung, hiện tượng và bản chất. Căn cứ vào đặc
hiện những mặt đối lập mới trong quan hệ với nhau, có nghĩa là những mâu
thuẫn mới.
Yếu tố thứ bảy của phép biện chứng: “sự kết hợp phân tích và tổng hợp sự phân tích những bộ phận riêng biệt và tổng hòa, tổng của những bộ phân
ấy”. Sự thống nhất (hay kết hợp theo cách diễn đạt của Lênin) phép phân tích
và phép tổng hợp thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau. Phép phân tích và
phép tổng hợp nằm trong sự thống nhất, mặc dù phản ánh các mặt đối lập
nhau của quá trình nhận thức.
Yếu tố thứ tám của phép biện chứng: “những quan hệ của mỗi sự vật
(hiện tượng etc.) không những là muôn vẻ, mà còn là phổ biến, toàn diện. Mỗi
sự vật (hiện tượng, quá trình etc.) đều liên hệ với mỗi sự vật khác”. Yếu tố
này nhấn mạnh tính phổ biến của mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác.
Đặc điểm quan trọng của nhận thức lý luận là làm sáng tỏ các mối liên hệ phổ
biến, toàn diện có tính quy luật.
Yếu tố thứ chín của phép biện chứng chỉ ra đặc trưng của sự chuyển hoá
các mặt đối lập. Lênin viết: “không phải chỉ là sự thống nhất của các mặt đối
lập, mà còn là những sự chuyển hoá của mỗi quy định, chất, đặc trưng, mặt,
thuộc tính sang mỗi cái khác [sang cái đối lập với nó?]”.
Yếu tố thứ mười của phép biện chứng: “quá trình vô hạn của việc tìm ra
những mặt mới, những quan hệ mới etc.”. Yếu tố này làm rõ thêm tư tưởng
của Lênin về mối liên hệ phổ biến của tất cả các sự vật, các hiện tượng thực
tiễn, tính vô tận, tính phức tạp của bản thân chúng và các cơ cấu hợp thành.
Phép biện chứng thể hiện ở đây với tính cách là nhận thức sinh động, phức tạp
và đa dạng (số lượng các mặt không ngừng tăng lên), bao hàm vô số những
mặt riêng biệt trong cách quan sát đi gần tới hiện thực.
Yếu tố thứ mười một của phép biện chứng: “quá trình vô hạn của sự đi
sâu của nhận thức của con người về các sự vật, hiện tượng, quá trình v.v.,
nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất
sâu sắc hơn”. Một cách cô đọng có thể hiểu rằng yếu tố này của phép biện
tưởng biện chứng duy vật có giá trị và có ý nghĩa lý luận to lớn. Trước hết, nó
trang bị cho các nhà triết học duy vật biện chứng cách xem xét, đánh giá lịch
sử, cụ thể ở đây là lịch sử tư tưởng triết học một cách trung thực và khoa học.
Cách xem xét, đánh giá đó là cơ sở cho chúng ta nhận định triết học Mác –
Lênin ra đời là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của
lịch sử tư tưởng triết học nhân loại và là đỉnh cao của triết học nhân loại với
tính cách mạng, khoa học, sáng tạo, hoàn bị và triệt để nhất. Đồng thời là cơ
sở để những người mácxit chân chính có trách nhiệm bảo vệ và phát triển hệ
thống triết học đó trong giai đoạn hiện nay.
Phép biện chứng trong “Bút ký triết học” có ý nghĩa định hướng về thế
giới quan và phương pháp luận để bảo vệ, phát triển triết học Mác - Lênin. Ở
bình diện thế giới quan, phép biện chứng của Lênin được trình bày trong tác
phẩm đã chỉ ra một cách cô đọng nhưng sâu sắc về những nội dung cơ bản
của phép biện chứng, nguồn gốc nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm, vạch
ra mối liên hệ giữa nó với khả năng nhận thức của con người, chỉ rõ cơ sở xã
hội cho sự hình thành các phương án của chủ nghĩa duy tâm trong việc giải
thích thế giới, giới tự nhiên, con người. Cách đặt vấn đề của Lênin về đối lập
và “chuyển hoá” duy vật - duy tâm gợi cho người đọc một cách tiếp cận sinh
động, chứ không đơn điệu về các học thuyết triết học, dù đó là “duy tâm
thông minh”, hay “duy vật thô thiển, tầm thường”. Đó chính là những hiểu
biết cần thiết để chúng ta đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, cơ hội, xét
lại triết học Mác – Lênin hiện nay.
Ở bình diện phương pháp luận, phép biện chứng trong “Bút ký triết học”
một lần nữa đem lại cho người đọc “nghệ thuật” phân tích các sự vật, hiện
tượng tự nhiên, các quá trình lịch sử - xã hội, nhất là việc phân tích bối cảnh
lịch sử hiện nay để bảo vệ, phát triển triết học Mác - Lênin. Tác phẩm gợi ra
cho người đọc “cách trình bày khác” về phép biện chứng duy vật trên cơ sở
lưu giữ nội dung cách mạng và khoa học của nó, linh hồn sống của chủ nghĩa
triệt để nhất của sự vận động và phát triển của thế giới vật chất. Với bản chất
khoa học và cách mạng, phép biện chứng duy vật đã, đang và tiếp tục cung
cấp cho chúng ta hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận phổ biến, thực sự
khoa học và có hiệu quả trong nhận thức và hoạt động thực tiễn xã hội nói
chung. Vận dụng trung thành và sáng tạo triết học Mác - Lênin, đặc biệt là
phép biện chứng duy vật là vấn đề nguyên tắc đối với tất cả các Đảng Cộng
Sản và phong trào công nhân quốc tế, trong đó có Việt Nam. Thực tiễn chứng
minh rằng, trải qua những bước thử thách khác nhau trong mọi hoàn cảnh,
phép biện chứng duy vật luôn tỏ ra là đỉnh cao của trí tuệ loài người, luôn có
ý nghĩa thực tiễn hết sức to lớn. Thực tiễn cũng luôn nảy sinh những vấn đề
hết sức phức tạp của từng nước, từng quốc gia, dân tộc và đặc điểm kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội...
Ngày nay, việc bảo vệ phép biện chứng duy vật dưới sự xuyên tạc của
những kẻ thù tư tưởng của nó, cũng như việc thường xuyên nghiên cứu, phát
triển, hoàn thiện nó đều hết sức quan trọng. Muốn bảo vệ nhất thiết phải phân
tích, muốn phát triển phải bảo vệ bản chất khoa học cách mạng của phép biện
chứng duy vật. Thực tế khẳng định rằng, việc đó không chỉ là vấn đề thuần
tuý lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, nóng bỏng hiện nay.
1
V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2005. Tập 29. tr156
KẾT LUẬN
Thông qua việc chứng minh mối liên hệ lẫn nhau của các quy luật phát
triển của thế giới khách quan và các quy luật của nhận thức, Lênin làm sâu
sắc thêm quan điểm về phép biện chứng như là một khoa học về sự phát triển
của thế giới khách quan, của tự nhiên, của xã hội và tư duy, xác định các yếu
tố của phép biện chứng, sự thống nhất giữa phép biện chứng - lý luận nhận
thức - lô-gích học. Từ góc độ phương pháp biện chứng, tác phẩm làm sáng tỏ