TIỂU LUẬN Tuyên ngôn của đảng cộng sản với vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu và ý nghĩa đối với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở việt nam hiện nay - Pdf 23

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản với vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu và ý
nghĩa đối với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện
nay
MỞ ĐẦU
Cách đây 162 năm, ngày 24-2-1848, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
- một tác phẩm lý luận bất hủ, một văn kiện mang tính cương lĩnh chính trị
giàu sức sống thực tiễn của chủ nghĩa cộng sản khoa học - do C.Mác và
Ph.Ăngghen soạn thảo đã được xuất bản lần đầu tiên tại Luân Đôn. Từ đó tới
nay, dù thế giới đã trải qua biết bao biến đổi thăng trầm, nhưng Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản vẫn luôn là cơ sở lý luận khoa học, ngọn cờ tư tưởng,
ngôi sao dẫn đường và kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế. Và chắc chắn nó sẽ còn mãi với thời gian trong lịch sử
phát triển tư tưởng của nhân loại.
Sở dĩ nó có sức sống lâu bền và giá trị to lớn như thế trước hết là bởi nội
dung của nó mang tính cách mạng và khoa học rất sâu sắc. Đúng như V.I.Lênin
nhận định: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản "trình bày một cách hết sức sáng
sủa và rõ ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa duy vật
này bao quát cả lĩnh vực sinh hoạt xã hội, - phép biện chứng với tư cách là học
thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển, lý luận đấu tranh giai cấp
và vai trò cách mạng - trong lịch sử toàn thế giới - của giai cấp vô sản, tức là
giai cấp sáng tạo ra một xã hội mới, xã hội cộng sản" [1; 57]
Như vậy, trong toàn bộ tác phẩm, C.Mác – Ph.Ăngghen đã trình bày một
cách hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Một trong những tư tưởng quan trọng được đề cập đến trong tác phẩm, đó là
“xóa bỏ chế độ tư hữu”.
Chế độ sở hữu là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu cả
về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội. Về lý luận, chủ nghĩa Mác –
1
Lênin coi việc xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Nhưng mô hình chủ nghĩa
xã hội hiện thực xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa với

máy móc, năng suất lao động tăng cao, công xưởng, nhà máy ra đời, kéo theo
một loạt ngành nghề mới xuất hiện. Giai cấp công nhân trưởng thành nhanh
chóng cả về số lượng và chất lượng, từng bước bước lên vũ đài lịch sử như
một giai cấp mới xuất hiện trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Kế thừa những qua điểm duy vật của thế kỷ “Ánh sáng” – thế kỷ XVIII
– đầu thế kỷ XIX, nhiều phát minh khoa học ra đời, được công nhận cấp bằng
sáng chế, áp dụng vào sản xuất cũng như để nhận thức và cải tạo thế giới như:
Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Maie, Giulơ, Cônđinh;
thuyết Tế bào của Slâyđen và Svan; Thuyết Tiến hóa của Đácuyn…
Khoa học tự nhiên đã chứng minh rằng: Thế giới thống nhất ở tính
vật chất; vật chất không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi mà
luôn có sự vận động, chyển hóa từ dạng này sang dạng khác; thế giới vật
chất luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng từ thấp đến cao,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; thế giới vật chất có mối quan hệ biện
chứng và tác động lẫn nhau.
Cùng với sự phát triển kinh tế, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đầu
thế kỷ XIX cũng đạt được những tiến bộ đáng kể. Trên cơ sở tổng kết thực
3
tiễn cuộc sống, tiếp thu kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại
đã cho ra đời những sản phẩm tinh thần vô giá như: Triết học cổ điển Đức với
những tên tuổi như Hêghen, Phoiơbắc; Kinh tế chính trị Anh của Ađamsmít
và Ricacđô; Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán của Xanhximông, Phuriê
và Ôoen. Đó là những tiền đề lý luận trực tiếp để Mác và Ăngghen kế thừa
một cách chọn lọc để xây dựng nên thuyết của mình.
Ph.Ăngghen viết: Cũng như bất cứ học thuyết mới nào, chủ nghĩa xã hội
trước hết phải xuất phát từ những tư liệu tư tưởng đã tìm thấy sẵn, mặc dù gốc
rễ của nó nằm sâu trong những sự kiện kinh tế, vật chất.
Giai cấp công nhân không ngừng trưởng thành nhanh chóng cả về số
lượng, chất lượng và cơ cấu. Nhưng ra đời trong sự đối lập với giai cấp tư sản
nên cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản cũng diễn

nhân Đức yêu nước, sống lưu vong ở Pháp, được thành lập năm 1836 do
GiôdépMôn, Vaitơlinh, Baue, Sápbơ lãnh đạo. Năm 1839, tổ chức này bị trục
xuất sang Luân Đôn và kết nạp thêm nhiều người quốc tịch khác nhau như Hà
Lan, Anh, Xcăng Đinavơ nên nó trở thành một tổ chức công nhân có tính chất
quốc tế đầu tiên.
Song do ảnh hưởng của những tư tưởng sai lầm của Vaitơlinh nên tôn
chỉ, mục đích của tổ chức này không rõ ràng, thể hiện: khẩu hiệu chiến lược
“Mọi người đều là anh em”; phương pháp tiến hành âm mưu lật đổ; tổ chức
theo kiểu phường hội, công khai, thiếu tập trung thống nhất.
Vì vậy, mùa xuân năm 1847, GiôndépMôn - một thành viên trong ban
lãnh đạo Đồng minh những người chính nghĩa đã đến Brúcxen (Bỉ) gặp Mác,
sau đó đến Pari gặp Ăngghen, thay mặt tổ chức mình đề nghị Mác và
5
Ăngghen gia nhập đồng minh và mời hai ông cải tổ tổ chức này thành tổ chức
cách mạng của giai cấp công nhân.
Việc cải tổ Đồng minh những người chính nghĩa được thực hiện tại Đại
hội lần thứ nhất vào tháng 6 năm 1847 ở Luân Đôn (chỉ có Ăngghen đến dự).
Đại hội đã quyết định đổi tên “Đồng minh những người chính nghĩa” thành
“Đồng minh những người cộng sản”; thay đổi khẩu hiệu chiến lược “Mọi
người đều là anh em” thành “Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại!”; thành lập
cơ quan báo chí để tuyên truyền đường lối, chủ trương, mục tiêu của Đồng
minh; khai trừ Vaitơlinh ra khỏi đồng minh; dự thảo điều lệ mới quy định cơ
quan lãnh đạo cao nhất của đồng minh là Đại hội được triệu tập thường kỳ, Ban
chấp hành là cơ quan cao nhất giữa hai kỳ đại hội, có nhiệm vụ tổ chức thực
hiện nghị quyết của đại hội; mọi cơ quan lãnh đạo đều do đại hội bầu ra bằng
phiếu kín; nguyên tắc hoạt động là tập trung dân chủ, cấp dưới phục tùng cấp
trên, cá nhân phục tùng tổ chức, mọi hội viên phải nộp hội phí đều đặn.
Đại hội quyết định lấy chủ nghĩa cộng sản khoa học làm ngọn cờ tư
tưởng của hội, mở đầu cho quá trình kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào
công nhân. Đại hội II họp ở Luân Đôn vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm

phong trào cách mạng hừng hực khí thế, những cuộc cách mạng bùng nổ dữ dội.
Vì vậy, C.Mác chỉ rõ: “Đã đến lúc những người cộng sản phải công khai trình
bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình và phải có
một tuyên ngôn của Đảng, của mình để đập lại câu chuyện hoang đường về bóng
ma cộng sản”[2; 595].
1.2 Tư tưởng “xóa bỏ chế độ tư hữu” trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
7
Chế độ sở hữu là vấn đề cơ bản và quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lênin coi việc xoá bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất là một đặc trưng cơ bản, nhiệm vụ quan trọng
trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong tác phẩm “Những
nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, Ph.Ăngghen viết: “Thủ tiêu chế độ tư hữu
là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã
hội; việc cải tạo này là kết quả tất yếu của sự phát triển công nghiệp”[3; 467]
Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen
một lần nữa khẳng định: “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình
thành một luận điểm chung nhất này là: Xoá bỏ chế độ tư hữu”[4; 616]
Ai cũng biết rằng, lịch sử nhân loại là lịch sử của sản xuất vật chất và tái
sản xuất không ngừng. Hành động đầu tiên của con người làm ra lịch sử của
mình chính là lao động sản xuất: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của
mình, con người có những quan hệ nhất định tất yếu không tuỳ thuộc vào ý
muốn chủ quan của họ - tức quan hệ sản xuất ”[5; 14-15].
Trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là yếu tố
hàng đầu quyết định các mối quan hệ sản xuất. Nó quyết định đến chế độ
phân phối và chế độ quản lý. Quan hệ sản xuất, đến lượt nó, với tư cách là cơ
sở hạ tầng lại quyết định thượng tầng kiến trúc.
Trong các phương thức sản xuất cụ thể thì ai, giai cấp nào nắm quyền sở
hữu tư liệu sản xuất thì người đó, giai cấp đó quyết định việc điều khiển các
hoạt động trong quá trình sản xuất, nắm giữ quyền tổ chức, quản lý quá trình
sản xuất và chi phối số của cải sản xuất ra, đồng thời cũng là lực lượng thống

công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp”[7; 610]. Và như vậy, giai cấp vô sản phải là người có sứ mệnh xoá bỏ
9
sở hữu tư sản để giành lấy những lực lượng sản xuất xã hội. Đó là con đường
duy nhất để giải phóng mình khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản.
Theo đó, tư tưởng về xóa bỏ chế độ tư hữu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản cần được hiểu trên hai vấn đề cơ bản sau:
*Thứ nhất, vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu dựa trên cơ sở nào?
Xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu là một quan điểm cơ bản
trong các học thuyết xã hội chủ nghĩa trước Mác, đặc biệt là trong chủ nghĩa
xã hội không tưởng Pháp với tính cách là một nguồn gốc lý luận của chủ
nghĩa Mác. Từ đó, có người cho rằng các tác giả của Tuyên ngôn vẫn chưa
thoát khỏi tính chất không tưởng trong quan niệm về chế độ sở hữu của chủ
nghĩa xã hội.
Có người lại cho rằng: trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ nói
đến việc xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản; do đó cần hiểu chế độ tư hữu trong luận
điểm "tóm tắt lý luận" của những người cộng sản không phải là chế độ tư hữu
nói chung mà chỉ là tư hữu tư sản. Có như vậy, luận điểm "xóa bỏ chế độ tư
hữu" mới không mâu thuẫn với luận điểm khác ngay trước đó: "Đặc trưng của
chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa
bỏ chế độ sở hữu tư sản"

[8; 615].
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, việc xóa bỏ tư hữu nhỏ không phải là vấn
đề của chủ nghĩa xã hội vì chế độ tư hữu nhỏ bị thủ tiêu bởi chính sở hữu tư
sản; "chế độ tư hữu tư sản", như đã được nói rõ trong Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản, "là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất"

[9; 615] của chế độ tư hữu.
Vì vậy, khi chủ nghĩa cộng sản thực hiện việc xóa bỏ tư hữu tư sản cũng có

Ngay từ tác phẩm "Bản thảo kinh tế triết học 1844", C.Mác đã thể hiện
tư tưởng đó khi cho rằng, sở hữu tư nhân do lao động bị tha hóa sinh ra;
nhưng đến lượt mình, nó lại là nguyên nhân làm cho lao động bị tha hóa phát
triển. Khi đạt trình độ cao nhất với sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa thì lao
11
động bị tha hóa lại tạo tiền đề để tự phủ định bằng cách thủ tiêu sở hữu tư
nhân tư bản.
Tư tưởng đó được trình bày một cách khoa học và rõ ràng hơn trong tác
phẩm "Hệ tư tưởng Đức". C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ : "Đối với chúng ta,
chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không
phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa
cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những
điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra"[12;
51]. Sự tha hóa con người do lao động bị tha hóa trong hình thức sở hữu tư
nhân chỉ có thể được khắc phục với những tiền đề nhất định mà trình độ phát
triển cao của sức sản xuất được các ông gọi là "tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần
thiết" vì nếu không có tiền đề đó thì "tất cả sẽ chỉ là sự nghèo nàn sẽ trở thành
phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu
tranh để lại dành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi
vào cũng sự ti tiện trước đây"[13; 49].
Như vậy, chế độ tư hữu là không thể xóa bỏ ở bất kỳ trình độ phát triển
nào của nền sản xuất xã hội theo ý muốn chủ quan của con người. Những
người cộng sản chỉ đặt ra cho mình nhiệm vụ xóa bỏ tư hữu bằng cách xóa bỏ
sở hữu tư sản mà thôi. Và ngay cả khi nhiệm vụ đó được đặt ra thì việc xóa bỏ
tư hữu cũng không thể thực hiện ngay lập tức. Như Ph.Ăngghen đã viết trong
"Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản". Trả lời câu hỏi : Liệu có thể thủ
tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không? Ph.Ăngghen viết: "Không,
không thể được, cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có
tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công
hữu"[14; 469]. Những biểu hiện của quan niệm không tưởng về xóa bỏ tư hữu

13
người tiểu nông thì "sự phát triển của công nghiệp đã xóa bỏ và hàng ngày
vẫn tiếp tục xóa bỏ cái đó rồi"[20; 616]; còn đối với người công nhân thì chỉ
có thể chiếm hữu "những sản phẩm của lao động, cần thiết để tái sản xuất ra
đời sống"[21; 617] mà thôi.
Vấn đề sở hữu cá nhân được C.Mác tiếp tục làm rõ trong bộ "Tư bản".
C.Mác viết :"chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều là sự phủ định đầu tiên
đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân. Nhưng nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của
một quá trình tự nhiên. Đó là sự phủ định cái phủ định. Sự phủ định này
không khôi phục lại chế độ tư hữu mà khôi phục lại chế độ sở hữu cá nhân
trên cơ sở những thành tựu của thời đại tư bản chủ nghĩa: trên cơ sở sự hiệp
tác và sự chiếm hữu công cộng đối với ruộng đất và những tư liệu sản xuất do
chính lao động làm ra"[22; 1059].
Như vậy là, chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa không những không loại
trừ sở hữu cá nhân mà lại là sự khôi phục sở hữu cá nhân của người lao động
đã bị chế độ tư hữu phủ định. Sở hữu cá nhân ở đây không phải chỉ là những
sản phẩm lao động với tính cách là tư liệu tiêu dùng như quan niệm lâu nay
được phổ biến trên sách báo mácxít mà phải bao gồm cả sở hữu về tư liệu sản
xuất nhưng không còn mang hình thức tư nhân mà tồn tại trong sự thống nhất
với sở hữu xã hội. Nói cách khác, đó là sở hữu cá nhân được khôi phục trên
cơ sở cao hơn vì không còn bị phủ định một cách tất yếu như trong chế độ tư
hữu trước đây.
Trong chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, sở hữu xã hội phải được hiểu
là sở hữu của những cá nhân đã liên hiệp với nhau, "toàn bộ sản xuất đã tập
trung trong tay những cá nhân đã liên hợp với nhau", một liên hợp "trong đó
sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất
cả mọi người"[23; 628].
14
Chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa như vậy sẽ ra đời với những hình

15
khâu trung gian" để đi tới chế độ công hữu là hết sức cần thiết không những
để chuyển từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản
xuất tập thể mà còn để đưa nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đối với một sự nghiệp lớn lao và mới mẻ như vậy thì những thiếu sót,
khuyết điểm mắc phải trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm là khó tránh khỏi.
Nhưng việc tuyệt đối hóa hình thức công hữu theo mô hình Xô-viết và nhất là
biến cách thực hiện xóa bỏ tư hữu, xác lập chế độ công hữu trong điều kiện
lịch sử cụ thể nước Nga thành nguyên tắc, thành quy luật phổ biến của chủ
nghĩa xã hội thì lại là sai lầm của chủ nghĩa chủ quan, giáo điều. Nắm vững
quan niệm khoa học của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản về vấn đề sở hữu
không những để tránh tái phạm những sai lầm đã mắc phải, mà điều quan
trọng là, để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới của chủ nghĩa xã hội từ nền
tảng kinh tế của nó.
2. Ý nghĩa của vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu trong “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản” đối với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở
Việt Nam hiện nay
Tư tưởng về xóa bỏ chế độ tư hữu là kết quả của sự kế thừa và phát triển
một cách có chọn lọc các giá trị tư tưởng về xoá bỏ chế độ tư hữu của các nhà
tư tưởng trong lịch sử và từng bước được hoàn thiện cùng với quá trình
chuyển đổi lập trường của hai ông cũng như quá trình hoàn thiện dần các
nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học. Mặc dù tư tưởng này không được
C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày thành chương mục riêng trong tác phẩm,
song đây là tư tưởng rất cơ bản và quan trọng của lý luận chủ nghĩa Mác -
Lênin. Vì vậy, nghiên cứu hiểu sâu sắc và nhận thức đúng đắn tư tưởng về
“xóa bỏ chế độ tư hữu” của C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ có ý nghĩa to
lớn về mặt nhận thức luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn, nhất là vận dụng sáng
16
tạo vào xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa cũng như công cuộc xây
dựng, phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay.

chế độ tư hữu”, liên quan đến vấn đề sở hữu trong nền kinh tế nhiều thành
phần ở Việt Nam hiện nay có hai điểm cần lưu ý, đó là:
Một là, hoàn cảnh lịch sử của quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư
hữu”.
Quan niệm của C.Mác – Ph.Ăngghen về “xóa bỏ chế độ tư hữu” được
hình thành vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ và điển hình ở
châu Âu với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân và sự tích tụ, tích lũy tư bản
đã phát triển đến mức có thể khiến cho “một bộ phận những kẻ trước kia là
nhà tư bản rơi vào hàng ngũ giai cấp công nhân”. Và, chế độ tư hữu được
C.Mác bàn đến ở đây không phải là một chế độ tư hữu bất kỳ, mà đó là chế độ
tư hữu tư bản chủ nghĩa đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định. Trong
khi, sự phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không trực tiếp trải qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Do đó, sự vận dụng lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin nói chung, quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” nói
riêng vào con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một việc làm
đòi hỏi phải có sự tìm tòi và sáng tạo.
Hai là, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu” phải xét đến tính chất của chế độ tư
hữu, tức là phải xem tư nhân trong chế độ tư hữu là người lao động hay là
người không lao động.
Bởi vì, quyền tư hữu của người lao động đối với tư liệu sản xuất của
mình là cơ sở của nền sản xuất nhỏ, mà sản xuất nhỏ lại là điều kiện tất yếu
để phát triển nền sản xuất xã hội và cá tính tự do của bản thân người lao động.
Theo đó, có thể nói, sở hữu tư nhân của người lao động là một giá trị. Bởi, rốt
18
cuộc, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu” tư bản chủ nghĩa là để “khôi phục lại chế độ
sở hữu cá nhân trên cơ sở những thành tựu của thời đại tư bản chủ nghĩa: trên
cơ sở sự hiệp tác và sự chiếm hữu công cộng đối với ruộng đất và những tư
liệu sản xuất do chính lao động làm ra.
Một vấn đề đặt ra: Liệu có mâu thuẫn không khi khẳng định tư tưởng
xoá bỏ chế độ tư hữu trong Tuyên ngôn là đúng đắn, có cơ sở khoa học và

không phải là một gì đã xong xuôi hẳn, mà nó luôn phải được đặt trên mảnh đất
hiện thực, phải được bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển của thực tiễn.
Thực hiện lời di huấn đó, kiên quyết đổi mới tư duy, khắc phục những
sai lầm trong vận dụng cứng nhắc và máy móc các nguyên lý của Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản mà trực tiếp là tư tưởng xoá bỏ chế độ tư hữu, Đảng ta xác
định: việc xoá bỏ tư hữu tư sản và xây dựng chế độ sở hữu công cộng phải
còn là một quá trình dần dần, diễn ra lâu dài. Theo đó, phải có một quá trình
đan xen giữa các yếu tố công hữu, tư hữu chứ không phải ngay lập tức đã xoá
bỏ ngay được tính quá độ ấy.
Quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước với nền sản xuất nhỏ còn
là phổ biến, chế độ tư hữu chưa trở thành vật chướng ngại mà ngược lại đang
có vai trò tích cực cho sự phát triển của sản xuất thì việc xoá bỏ chế độ tư
hữu, xác lập chế độ công hữu còn phải khó khăn hơn, phức tạp hơn và lâu dài
hơn. Như thế, trong sự tất yếu còn tồn tại khá lâu dài các hình thức sở hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất. Đảng ta nhận rõ vấn đề đó và chủ trương phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở
hữu; đó chính là quá trình tự giác xác lập một hệ thống quan hệ sản xuất từng
bước phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - một chủ trương
đúng với quy luật và phù hợp với ý tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen.
20
Mô hình kinh tế nhiều thành phần, dựa trên sự đa dạng các hình thức sở
hữu, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể
phát triển dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã và đang có
tác dụng mạnh mẽ trong việc động viên sức mạnh toàn dân đầu tư trí tuệ,
nguồn vốn vào phát triển sản xuất. Với chủ trương, chính sách đúng đắn này,
chúng ta vừa khuyến khích vừa động viên sở tư hữu tư nhân phát triển trong
những ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, vừa từng bước xây
dựng, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa từ thấp đến
cao với bước đi thích hợp, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Ở đây, chế độ công hữu với sự đa dạng của nó sẽ dần xác lập được sự

không nhỏ của các loại hình kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân).
Gần đây, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, một vấn
đề nhạy cảm - vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân đã được Đảng ta đưa ra
một cách thẳng thắn. Văn kiện ghi rõ: “Đảng ta chủ trương: đảng viên làm
kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà
nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành
Trung ương”[29; 133], đây là sự khuyến khích đảng viên làm giàu chính
đáng. Sự khuyến khích này là hoàn toàn đúng đắn. Bởi vì:
Một mặt, mỗi đảng viên trước hết là một cá nhân, một con người với
những khả năng, nhu cầu và mong muốn đa dạng của bản thân họ. Sự bộc lộ,
thỏa mãn và phát triển những khả năng, nhu cầu và mong muốn ấy dù là tiềm
tàng, nhưng thường trực. Quan điểm của Đảng ta về vấn đề đảng viên làm
kinh tế tư nhân thể hiện một sự quan tâm sâu sắc tới sự phát triển ngày càng
toàn diện hơn của người đảng viên trước hết với tư cách một con người.
22
Mặt khác, khi đảng viên được tự do làm giàu chính đáng thì đồng thời,
đảng viên hoàn toàn có thể góp phần làm giàu cho xã hội, góp phần hiện thực
hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Song, bởi tính chất nhạy cảm của vấn đề, bởi sở hữu tư nhân không chỉ là sản
phẩm của lao động bị tha hóa, mà còn “là phương tiện làm cho lao động bị tha
hóa, là sự thực hiện sự tha hóa ấy”, nên quan điểm của Đảng ta về việc cần
sớm ban hành và chỉ đạo thực hiện những quy định cho hoạt động kinh tế tư
nhân của đảng viên là cần thiết. Thực tế, quan điểm của Đảng ta về việc đảng
viên làm kinh tế tư nhân và những quy định của nó cũng góp phần vào việc
giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ
nghĩa. Về vấn đề này, có thể nói, Đảng ta đã vừa quán triệt tư tưởng về sự
phát triển toàn diện của con người và tư tưởng về sở hữu tư nhân và “xoá bỏ
chế độ tư hữu” của C.Mác, vừa có sự sáng tạo để những tư tưởng đó có một
sự tồn tại và phát triển phù hợp với hoàn cảnh lịch sử – cụ thể của Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thực tế, việc khuyến khích sự phát triển sở hữu tư nhân

Đối với cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa Mác luôn luôn là ngọn đuốc soi
đường, là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động. Đó là nhân tố
quyết định, đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều quan
trọng là người tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác phải với tinh thần sáng tạo,
biết kế thừa, phát huy những luận điểm trước đây và hiện nay vẫn đúng; biết
sửa chữa những nhận thức sai về các luận điểm đúng; biết vượt qua những
luận điểm gì trước đây đúng nhưng ngày nay không còn phù hợp, những luận
điểm gì mới cần được bổ sung vào lý luận do thực tiễn mới đặt ra…và cần hết
sức tránh lối tư duy máy móc, xáo mòn, rập khuôn một cách cứng nhắc, cũng
24
như mọi biểu hiện xa rời, thoát ly chủ nghĩa Mác một cách cực đoan, dưới
danh nghĩa “đổi mới tư duy”.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" có ý nghĩa lịch
sử vô cùng lớn lao. Đây là một văn kiện có tính chất cương lĩnh cả về lý luận
và thực tiễn đầu tiên của Đảng Cộng sản. Những luận điểm được C.Mác và
Ph.Ăngghen trình bày trong tác phẩm đã trở thành thế giới quan, phương pháp
luận cho giai cấp vô sản tất cả các nước trên con đường đấu tranh thoát khỏi
ách nô lệ tư bản chủ nghĩa, tiến tới xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa văn minh tốt đẹp hơn.
Tuyên ngôn đã, đang và sẽ còn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành
động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh chống
giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản hiện nay nhằm thực hiện xây dựng thành công
chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là sao chép máy móc
những nguyên lý của Tuyên ngôn bất chấp những biến đổi của lịch sử đang
diễn ra điều này đã được Ph.Ăngghen nhấn mạnh từ năm 1872.
Hiện nay, các thế lực phản động quốc tế đang lợi dụng cuộc khủng
hoảng của chủ nghĩa xã hội thế giới để tấn công vào chủ nghĩa Mác, phủ nhận
tính đúng đắn của các nguyên lý mác xít mà phần lớn được trình bày trong
Tuyên ngôn, đặc biệt là vấn đề “xóa bỏ chế độ tư hữu”. Hơn lúc nào hết,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status