TIỂU LUẬN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1
LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi một con người Việt Nam đều có một lòng tự hào về dân tộc rất
mạnh mẽ. Điều đó được xuất phát từ tinh thần đoàn kết dân tộc, yêu nước,
- Nền kinh tế thị trường là một mô hình kinh tế mà trong đó hầu hết
các quan hệ kinh tế được thực hiện dưới hình thái hàng hoá và dịch vụ, với
nhiều thành phần tham gia, vận động theo cơ chế thị trường.
- Như vậy, nền kinh tế thị trường là một mô hình kinh tế mà các thành
phần của thị trường có mối quan hệ thông qua hàng hoá, dịch vụ và thông
qua các hoạt động trao đổi. Tất cả các quan hệ đó được điều tiết bằng một cơ
chế tự điều tiết của thị trường do sự tác động của các quy luật vốn có của nó.
Nói một cách cụ thể hơn về cơ chế tự điều tiết của thị trường đó là một hệ
thống hữu cơ của sự thích ưngs với nhau, tự điều tiết lẫn nhau của các yếu tố
giá cả, cung-cầu, cạnh tranh trực tiếp phát huy trên thị trường để điều tiết.
Thực khó có thể đánh giá đầy đủ những ưu điểm & khuyết tật của cơ
chế thị trường. Tuy nhiên, cơ chế thị trường có những ưu điểm nổi bật sau:
- Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế & tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của họ. Do đó làm cho nền kinh tế phát
triển năng động, huy động được các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh
tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động xã
hội.
-Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữa
khối lượng & cơ cấu nhu cầu của xã hội, nhờ đó có thể thoả mãn nhu cầu
tiêu dùng cho cá nhân & cho sản xuất.
- Cơ chế thị trường mềm dẻo & có khả năng thích nghi cao hơn khi
những điều kiện kinh tế thay đổi.
Chính vì vậy, cơ chế thị trường giải quyết được những vấn đề cơ bản
của tổ chức kinh tế. Song cơ chế thị trường không phải là hiện thân của sự
hoàn hảo. Nó còn có cả những những khuyết tật, đặc biệt về mặt xã hội. Có
thể chỉ ra một số khuyết tật dưới đây của cơ chế thị trường:
- Hiệu lực của cơ chế thị trường phụ thuộc vào mức độ hoàn hảo của
cạnh tranh. Một nền kinh tế được thúc đẩy bởi cạnh tranh hoàn hảo sẽ dẫn tới
phân bố & sử dụng có hiệu quả nhất đầu vào & đầu ra của sản xuất. Cạnh
tranh không hoàn hảo thì hiệu lực của cơ chế thị trường càng giảm.
nghiệp. Họ là những người sản xuất độc lập. Những doanh nghiệp sản xuất
hàng hoá có thể là thuộc quyền sở hữu tư nhân, hay thuộc quyền sở hữu tập
thể hoặc thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng chúng vẫn là những
doanh nghiệp sản xuất hàng hoá độc lập. Đối với xã hội thì lao động của mỗi
doanh nghiệp (dù là thuộc hình thức sở hữu nào) vẫn là lao động tư nhân, và
chỉ khi nào bán được hàng hoá thì lao động tư nhân đó mới được xã hội thừa
nhận và trở thành một bộ phận thực sự của lao động xã hội. Với phân công
lao động xã hội, lao động sản xuất hàng hoá mang tính chất lao động xã hội,
một bộ phận của toàn bộ lao động xẫ hội. Sự phân công lao động xã hội tạo
nên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất, họ làm việc với nhau
thông qua trao đổi hàng hóa. Còn với tư cách là doanh nghiệp thì lao động
sản xuất hàng hoá của họ lại mạng tính chất tư nhân. Sự mâu thuẫn giữa lao
4
động tư nhân và lao động xã hội được giải quyết khi sản phẩm được trao đổi
dưới hình thức hàng hoá. Kinh tế hàng hoá tồn tại trong nhiều chế độ xã hội
khác nhau, dựa trên nhiều hình thức sở hữu khác nhau, chứ không chỉ dựa
trên chê độ sở hữu tư nhân, miễn là những người, doanh nghiệp sản xuất
hàng hoá là độc lập và không phụ thuộc vào nhau.
+ Thứ ba đó là sự tồn tại của quan hệ hàng hoá tiền tệ. Nếu như chúng
ta có được hai điều trên nhưng quan hệ tiền tệ không được thừa nhận thì sẽ
không xuất hiện nền kinh tế thị trường. Ta có thể thấy rõ trong nền kinh tế
hàng hoá tập trung ở nước ta, chúng ta có được sự phân công lao động xã
hội, chúng ta có sự tồn tại độc lập của các nhà sản xuất hàng hoá, nhưng lúc
này quan hệ hàng hoá tiền tệ không được chấp nhận. Sản phẩm lúc này được
đem ra phân phối, kết quả là không xuất hiện thị trường. Một nền kinh tế thị
trường mà không xuất hiện thị trường thì sẽ như thế nào?
3. Các nhân tố của thị trường:
a) Hàng hoá:
vải=5kg thóc. Sở dĩ, vải và thóc là hai hàng hoá khác nhau, mà vẫn có thể
trao đổi cho nhau là vì giữa chúng có một cơ sở chung. Đó là hao phí lao
động xã hội để tạo ra 2 sản phẩm đó.
- Vậy hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
là cơ sở để trao đổi hàng hoá, tạo ra giá trị của hàng hoá. Hao phí lao động
xã hội để tạo ra sản phẩm được lượng hoá bằng thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Tức là, thời gian cần thiết để sản xuất một
hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường, trình độ kỹ thuật bình
thường.
- Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị: giá trị là cơ sở, nội
dung của giá trị trao đổi. Giá trị là phạm trù lịch sử, là phạm trù riêng có của
sản xuất hàng hoá.
+ Mối quan hệ giữa hại thuộc tính:
- Giá trị và giá trị sử dụng là 2 thuộc tính cùng tồn tại và thống nhất
với nhảutong cùng một hàng hoá. Người sản xuất làm ra để bán, mục đích
của họ là giá trị. Nhưng cái mà họ có là giá trị sử dụng, họ chú ý tới giá trị sủ
dụng cũng là vì mục đích là giá trị mà thôi. Người mua, họ quan tâm tới giá
trị sử dụng, nhưng nếu muốn có giá trị sử dụng đó, họ phải trả giá trị cho
người sản xuất. Tức là họ phải thực hiện giá trị thị trường thì mới chi phối
giá trị sử dụng.
b) Tiền tệ:
- Tiền tệ về bản chất là một hàng hoá được tách ra làm vật ngang gía
chung cho các hàng hoá khác. Tiền tệ thể hiện lao động xã hội và biểu hiện
mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Cho tới ngày nay vàng
vẫn được coi là hàng hoá ngang giá chung, nhưng nó ít được lưu thông mà
được thay bằng các loại tiền giấy, kim loại khác rẻ hơn đại diện cho những
lượng vàng nhất định.
- Vậy tại sao lại xuất hiện tiền tệ? Chúng ta nhìn lại thời kỳ mà nền
kinh tế ở giai đoạn tự cung tự cấp. Đây là một thời kỳ nền kinh tế cực kỳ
thời kỳ đầu người ta dùng nén vàng bạc, nhưng dần dần được thay thế bằng
tiền đúc rồi đến tiền giấy. Trong quá trình lưu thông tiền đúc, giấy bị hao
mòn nhưng giá trị mà nó đại diện là không thay đổi. Trước đây, lợi dụng tính
đại diện của tiền đúc và giấy, nhà nước không ngưng sản xuất nhiều tiền loại
này làm giảm giá trị đồng tiền, gây ra khủng hoảng kinh tế. Vì vậy, ngày
nay, nhà nước luôn kiểm soát giá trị của tiền để bình ổn nền kinh tế.
+ Chức năng là phương tiện cất trữ:
7
- Tiền là vật ngang giá chung, nó có thể dùng để trao đổi mọi thứ. Vì
vậy có thể nói rằng tiền là đại biểu cho của cải xã hội, nên nó có thể được cất
trữ. Tuy nhiên không phải là tiền nào cũng có thể cất trữ mà chỉ có tiền đầy
đủ giá trị như vàng mới thực hiện được chức năng này. Nếu hàng hoá nhiều
thì tiền đã cất trữ sẽ được tung ra thị trường, nếu hàng hoá khan hiếm thì
tiền lại được cất trữ.
+ Chức năng là phương tiện thanh toán:
- Với chức năng thanh toán tiền dùng để trả lương, nộp thuế, mua bán
hàng hoá. Do để thuận lợi trong kinh doanh, việc mua và bán được tách rời
và chức năng thanh toán của tiền ở đây càng thể hiện rõ tầm quan trọng. Từ
chức năng thanh toán của tiền và nhu cầu thanh toán làm xuất hiện một loại
tiền mới là tín dụng dưới các hinh thức như giấy bạc ngân hàng, séc, trái
phiếu
+ Chức năng tiền tệ thế giới:
- Do được toàn bộ thế giới công nhận về giá trị của tiền, nên thế giới
trở thành một thị trường chung. Những nước khác nhau có thể mua bán
những sản phẩm mà đất nước mình cần. Trong chức năng này vàng là
phuơng tiện thanh toán quốc tế.
Các chức năng của tiền tệ liên quan mật thiết với nhau. Sự phát triển
của các chức năng này phản ánh sự phát triển của sản xuất hàng hoá và
Cầu là khối lượng hàng hoá mà người tiêu dùng sẵn sàng và có khả
năng mua trên thị trường ở mỗi mức giá khác nhau, trong mỗi một thời gian
khác nhau.
Khi số lượng cung của một hàng hoá phù hợp với nhu cầu xã hội thì
tổng số giá trị thực của hàng hoá bằng tổng số giá trị thị trường của nó. Còn
nếu số lượng hàng hoá cung mà lớn hơn nhu cầu của xã hội thì tổng số giá trị
thực của hàng hoá lớn hơn tổng giá trị thị trường của nó. Ngược lại khi mà
số lượng cung nhỏ hơn cầu thì tổng số giá trị thực của hàng hoá sẽ nhỏ hơn
tổng giá trị thị trường
d) Lợi nhuận:
Giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng
trước, được so sánh với toàn bộ tư bản ứng trước mang hònh thái chuyển hoá
là lợi nhuận. Vậy lợi nhuận có nguồn gốc từ giá trị thặng dư. Vậy giá trị
thặng dư từ đâu sinh ra?
- Lợi nhuận là giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước
được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước sẽ mang hình thức
chuyển hoá là lợi nhuận.
- Lợi nhuận được đo bằng (g
1
) sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và
chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa nên sau khi bán hàng hoá tư bản không bù
đắp được số tư bản ứng trước mà còn thu được lợi nhuận.
- Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng để phấn đấu của mỗi doanh nghiệp,
là động lực để các nhà sản xuất nâng cao năng suất lao động, đổi mới khoa
học công nghệ, thúc đẩy nền sản xuất phát triển.
4. Các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường
a) Quy luật giá trị:
9
xã hội do hao phí lao động xã hội các thiết quyết định, nên ngưòi sản xuất
có ít hao phí lao động cá biệt hơn lao động xã hội cần thiết thì sẽ thu được
nhiều lợi hơn. Chính vì vậy muốn thu nhiều lợi hơn, chiến thắng và đứng
vững trong thị trường cạnh tranh, mỗi nhà sản xuất đều phải không ngừng
tìm cách rút xuống đến mức tối thiểu hao phí lao động cá biệt. Muốn vậy, họ
phải không ngừng tim cách cải tiến lực lượng sản xuất.
10
+ Phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo, và làm nảy sinh
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: trong cuộc chạy đua theo lợi nhuận,
những nhà sản xuất nào làm tốt sẽ thu được nhiều lợi nhuận trở nên giàu có.
Ngược lại, những nhà sản xuất khác làm kém hơn sẽ phải chịu sự thua lỗ và
trở thành nghèo hơn. Từ đây, phát sinh ra quan hệ sản xuất TBCN, những
ngưòi giàu trở thành ông chủ, những người nghèo trở thành những người làm
thuê. Đây là quan hệ tư sản và vô sản, quan hệ giữa chủ và tớ, quan hệ đối
kháng về lợi ích kinh tế.
11
b) Quy luật cung cầu:
+ Quy luật này thể hiên mối quan hệ khách quan giữa cung cầu trên thị
trường. Cung và cầu là sự khái quát hai lực lượng cơ bản của thị trường là:
người mua và người bán. Vậy cung và cầu là gì?
- Cung là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp tung
ra thị trường với giá cả nhất định,trong một thời kỳ nhất định. Cung chịu ảnh
hưởng của hai nhân tố là giá cả và thu nhập. Với giá cả, cung chịu ảnh
hưởng: khi các yếu tố sản xuất đã được tận dụng thì giá cả không ảnh hưởng
tới cung là mấy. Nhưng trong trường hợp chưa tận dụng hết thì tăng giá có
thể dẫn tới tăng cung.Với thu nhập, ảnh hưởng tới trường vốn hay đoản vốn
tranh giữa nhưng người mua, giữa những người sản xuất, cạnh tranh trong
nội bộ ngành, và cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh có vai trò tích cực trong nền sản xuất hàng hoá. Nó buộc
người sản xuất hàng hoá phải không ngừng cải tiến kỹ thuật sản xuất, lực
lượng lao động, nâng cao năng suất, tiết kiệm nhiên liệu Hơn nữa,để bán
được nhiều hàng hoá hơn thì nhà sản xuất phải không ngừng nghiên cứu thị
truờng, thị hiếu, sở thích của người tiêu dùng, từ đó kích thích sự đa dạng
của mẫu mã sản phẩm Như vậy có thể nói, quy luật cạnh tranh có tác dụng
đào thải những cái cũ, lạc hậu, không phù hợp, binh ftuyển những cái mới,
tiến bộ thuc đẩu sản xuất hàng hó phát triển.
Tuy nhiên cùng với những tác dụng của nó, cạnh tranh cò gây ra
những hậu quả: đầu cơ, lừa đảo, ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt tài
nguyên
d) Quy luật lưu thông tiền tệ:
Khi tiền tệ xuất hiện, sự troa đỏi hàng hoá trực tiếp chuyển sang trao
đổi một cách gián tiếp- trao đổi hàng hoá lấy tiền tệ làm môi giới. Sự vận
động của tiên tệ lấy sự trao đổi hang hoá làm tiền đề gọi là lưu thông tiền tệ.
Sự vân động của hàng hoá và tiền tệ là sự thông nhất giữa lưu thông tiền tệ
và lưu thông hàng hoá. Tuy nhiên số tiền đưa vào lưu thông không phải là vô
tận.
Để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông ở mỗi thời kỳ cần có
một số lượng tiền nhất định. Số lượng tiền này được xác định bằng quy luật
lưu thông tiền tệ. Quy luật này được xác định như sau:
Tổng số
giá cả h
àng
hoá
-
Tổng số giá
1.Tính tất yếu khách quan chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập
trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa:
1.1. Sự tồn tại của sản xuất hàng hoá ở nước ta:
13
Trước đây, khi còn quan niệm không đúng: đối lập chủ nghĩa xã hội
với sản xuất hàng hoá, kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường (vì cho rằng kinh
tế hàng hoá, kinh tế thị trường gắn với chủ nghĩa tư bản), thì nhiều người
nhận thức, và hiểu rằng dưới chủ nghĩa xã hội không còn sản xuất hàng hoá,
kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường, mà nếu có tồn tại thì chỉ là một nền kinh
tế hàng hoá đặc biệt (chỉ có tư liệu tiêu dùng là hàng hoá, còn tư liệu sản
xuất, sức lao động, vốn … không phải là hàng hóa). Nhưng sự tồn tại của
nền sản xuất hàng hoá ở nước ta là không thể phủ nhận.
Về điều kiện thứ nhất của sản xuất hàng hoá, đó là phân công lao động
xã hội; chẳng những không mất đi, mà trái lại còn phát triển cả về bề rộng và
chiều sâu. Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương ngày
càng phát triển. Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính
phong phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao
đổi trên thị trường.
Về điều kiện thứ hai, trong nền kinh tế nước ta, tồn tại nhiều hình thức
sở hữu, đó là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân (gồm sở hữu cá
thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp. Do đó tồn tại
nhiều chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa họ
chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Hơn nữa, nếu cho rằng,
sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất
thì sẽ không giải thích được sự tồn tại của sản xuất, lưu thông hàng hóa trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vì nền sản xuất dựa trên chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất hàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản. Vậy thì
dụng to lớn đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, nâng cao đời sống nhân
dân và xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH:
Nền kinh tế nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ
một điểm xuất phát rất thấp. Đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, cơ sở vật
chất kỹ thuật bị tàn phá nặng nề, dự trữ quốc gia gần như không có. Hơn
nữa, nền kinh tế nước ta còn mang nặng tính chất tự cấp tự túc, lực lượng sản
xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất tàn dư còn nặng nề, trong khi quan hệ
sản xuất mới chưa thực sự hình thành và hoàn thiện. Do vậy, khi chúng ta
theo đuổi một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bằng mệnh lệnh hành
chính, quan liêu từ trung ương và cơ cấu hướng nội là chủ yếu, đã kìm hãm
sự phát triển của đất nước, khiến cho nền kinh tế đã có lúc lâm vào tình trạng
khủng hoảng trầm trọng.
Ngọn gió “đổi mới” với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá ở nước
ta đã tạo động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Do cạnh tranh giữa
những người sản xuất hàng hoá, buộc mỗi chủ thể sản xuất phải cải tiến kỹ
thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để giảm chi phí đến mức tối thiểu
nhờ đó có thể cạnh tranh về giá cả, đứng vững trong cạnh tranh. Nhờ vậy mà
khoa học kỹ thuật phát triển, năng suất lao động xã hội tăng lên, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển mạnh. Kinh tế hàng hóa cũng thúc đẩy phân công
lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất. Nó sẽ phát huy được tiềm
năng, lợi thế của từng vùng, cũng như lợi thế của đất nước, có tác dụng mở
rộng kinh tế đối ngoại.
15
Ngoài ra, để cạnh tranh được trong nền kinh tế hàng hoá, người sản
xuất phải căn cứ vào nhu cầu của người tiêu dùng, của thị trường để quyết
định sản xuất sản phẩm gì, với khối lượng bao nhiêu, chất lượng, mẫu mã
như thế nào. Vì vậy, nó kích thích tính năng động, sáng tạo của chủ thể kinh
tế, kích thích việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã cũng như tăng khối
xuất nông nghiệp và một số xí nghiệp quốc doanh. Do đó thị trường hàng
16
tiêu dùng đã dồi dào hơn, đa dạng hơn, thị trường tư liệu sản xuất cũng nhuc
nhích lên chút ít, lưu thông bắt đầu tương đối thuận lợi, thị trường xuất nhập
khẩu bắt đầu được mổ rộng và phát triển khá mạnh mẽ. Tuy nhiên, tinh hình
kinh tế nước ta còn trong khủng hoảng, phát triển chậm, phân phối và lưu
thông còn rối ren, ngân sách nhà nước còn htiếu hụt lớn, nguồn vốn thiếu
nghiêm trọng, tiền mặt thiếu thường xuyên, lạm phát tăng cao. Tốc độ tăng
giá năm1986 là 87,2%, giá cả biến động, giá lương thực, thực phẩm có lúc
tăng đột biến, nợ nước ngoài tăng thêm. Nhìn một cách tổng thể, thì ở giai
đoạn này, nền kinh tế có sự mất cân đối lớn, tổng cầu quá lớn so với tổng
cung. Nguyên nhân là do cơ chế thị trường và các nhân tó của nó là giá cả thị
trường, canh tranh thị trường và cung-cầu hình thành từ sự vận hành của thị
trường chưa được phát huy thuận lợi.
Giai đoạn 1991-1995: Các chính sachs về cơ chế thị trường được thực
hiện một cách mạnh mẽ, đã lay động các lĩnh vực của nền kinh tế-xã hội. Hệ
thống chủ thể thị trường của các thành phần kinh tế đã thay thế các cơ sở
kinh tế hoạt động dưới thời bao cấp. Các nhân tố thị trường hình thành và
phát huy tác dụng thực sự thay thế cho các quyết đinh hành chính. Do đó,
các loại hình thị trường phát triển một cách nhanh chóng, từ thị trường hàng
hoá tiêu dùng thông thường, cho đến thị trường vất tư, nguyên liệu, thị
trường các dịch vụ và thị trường xuất nhập khẩu. Thị truờng lao động, thị
trường tiền tệ, thị trường bất động sản cũng bắt đầu hoạt động. Hệ thống cơ
cấu thị trường đã được xác lập. Trên thực tế thj trường đã có sự biến đổi về
chất. Tình trạng khan hiếm hàng hoá trong giai đoạn chiến tranh và bao cấp
đã chấm dứt. Kết quả là thị trường nước ta lần đầu tiên có được sự câ đối
giữa tổng cung và tổng cầu xã hội. Trong suốt 5 năm, lượng hàng hoá lưu
thông tăng liên tục với tốc độ cao, mặt hàng ngày càng phong phú, chất
khoán mới được thành lập, thị trường dịch vụ giảm sút. Trên từng địa bàn,
thị trường cũng chưa thực sự thông suốt do vẫn còn các trạm kiểm soát thu
phí bất hợp lý, thậm chí ở một số nơi còn bị chính quyền sở tại dùng biện
pháp hành chính để bảo hộ các cơ sở sản xuất địa phương.
Một đặc trưng thứ hai của thị trường nước ta trong thời gian này là
lạm phát giảm mạnh, hơn nữa còn có hiện tượng giảm phát. Chỉ số lạm phát
năm 1996 là 4,5%, năm 1997 là 3,6%, tính cung năm 1999 chỉ số lạm phát là
1%, nhưng trong suốt 8 tháng từ tháng 3 đé tháng 10/1999 chỉ có chỉ số giá
âm. Trên thị trường hối đoái thì đồng tiền Việt Nam lên giá trong thời gian
nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế.
3. Mục tiêu và đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
Kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền
kinh tế vừa dựa trên những nguyển tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa
dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó, kinh tế
thị trường định hướng XHCN có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau,
kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm nhân tố của kinh tế thị
trường và nhóm nhân tố của xã hội đang định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong
đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò như động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát
18
triển nhanh, nhóm thứ hai đóng vai trò hướng dẫn, chế định sự vận động của
nền kinh tế theo những mục tiêu đã được xác định.
Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta có những mục
tiêu, dặc trưng bản chất khác biệt cơ bản về nguyên tắc so với nền kinh tế thị
trường TBCN. Điều đó được thể hiện như sau:
3.1. Mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta:
Mục tiêu hàng đầu phát triển kinh tế thị trường ở nước ta được xác
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế cơ
sở cơ cấu đa dạng về hình thức sở hữu, trong đó sở hữu Nhà nước làm chủ
đạo. Do đó nền kinh tế gồm nhiều thành phần, trong đó nền kinh tế Nhà
nước giữu vai trò chủ đạo.
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, tồn tại ba loại hình sở hữu cơ
bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Từ ba loại hình sở hữu
cơ bản đó hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh. Các thành phần kinh tế đó là kinh tế nhà nước, kinh tế tập
thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó không chỉ ra sức phát triển các
thành phần kinh tế thuộc chế độ công hữu, mà còn phải khuyến khích phát
triển các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân để hình thành nền kinh tế
thị trường rộng lớn bao gồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, các
đơn vị kinh tế tư doanh, các hình thức hợp tác liên doanh giữa trong và ngoài
nước, các hình thức đan xen và thâm nhập vào nhau giữa các thành phần
kinh tế đều có thể tham gia thị trường với tư cách chủ thể thị trường bình
đẳng.
Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo. Việc xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sự
khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta với kinh tế thị trường của các nước khác.Tính định hướng xã hội chủ
nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta đã quy định kinh tế nhà nước phải
giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Bởi lẽ, mỗi một
chế độ xã hội đều có một cơ sở kinh tế tương ứng với nó, kinh tế nhà nước,
nói đúng ra kinh tế dựa trên chế độ công hữu bao gồm kinh tế nhà nước và
kinh tế hợp tác, tạo cơ sở kinh tế cho chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa.
Việc vin vào tình trạng kém hiệu quả của kinh tế nhà nước trong thời
gian qua để phủ định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sai lầm về lý
luận. Vấn đề chủ yếu không phải là phủ định vai trò của kinh tế nhà nước,
mà là cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước và đổi mới cơ bản cơ chế quản lý
được mọi nguồn lực của đất nước vào phát triển kinh tế, đồng thời vẫn đảm
bảo giữ vững con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
3.4. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước XHCN:
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng vận động theo yêu cầu
của những quy luật vốn có của kinh tế thị trường, như quy luật giá trị, quy
luật cung-cầu, cạnh tranh,…; giá cả do thị trường quyết định, thị trường có
vai trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đưa đến những hậu quả
nghiêm trọng về mặt xã hội. Ngay từ năm 1848, trong “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản”, C.Mác và F.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng: xã hội tư bản “không
để lại giữa người với người một mối quan hệ nào khác, ngoài mối lợi lạnh
lùng và lối “trả tiền ngay” không tình nghĩa”. Ngày nay, chính một nhà
nghiên cứu phương Tây Ê-gát Mo-ring đã đưa ra nhận xét chua chát: “Trong
21
nền văn minh được gọi là phát triển của chúng ta, tồn tại một tình trạng kém
phát triển thảm hại về văn hoá, trí não, đạo đức và tình người”. Vì vậy, nền
kinh tế thị trường ở nước ta không phải là kinh tế thị trường tự do, thả nổi mà
là nền kinh tế có định hướng mục tiêu xã hội - xã hội chủ nghĩa. Sự phát
triển kinh tế thị trường được xem là phương thức, con đường thực hiện mục
tiêu chủ nghĩa xã hội: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Trong điều kiện ngày nay, hầu như tất cả các nền kinh tế của các nước
trên thế giới đều có sự quản lý của nhà nước để sửa chữa một mức độ nào đó
“những thất bại của thị trường”. Tức là cơ chế vận hành nền kinh tế của tất
cả các nước đều là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nhưng điều
khác biệt trong cơ chế vận hành nền kinh tế của nước ta là ở chỗ Nhà nước
quản lý nền kinh tế không phải là nhà nước tư sản, mà là nhà nước xã hội
hoạch hoá vĩ mô có thể tác động đến cung, cầu, giá cả để uốn nắn những lệch
lạc của sự phát triển do sự tác động tự phát của thị trường gây ra, thông qua
đó mà hướng hoạt động của thị trường theo hướng của kế hoạch.
3.5. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là nền kinh tế
mở, hội nhập:
Nền kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế mở, hội nhập với kinh
tế thế giới và khu vực, thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới, thực
hiện những thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhưng vẫn giữ được độc
lập chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tế
đối ngoại. Thực ra, đây không phải là đặc trưng riêng của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, mà là xu hướng chung của các nền kinh tế trên
thế giới hiện nay. (Ở đây muốn nhấn mạnh sự khác biệt so với nền kinh tế
đóng, khép kín trước đây).
Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đang diễn
ra quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc gia
trong sự phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế
khu vực và thế giới là tất yếu đối với nước ta. Chỉ có như vậy mới thu hút
được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh tế tiên tiến
của các nước để khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước ta, thực hiện phát
huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển kinh tế thị trường
hiện đại theo kiểu rút ngắn.
Trong thời gian tới, cần tiếp tục mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá
quan hệ kinh tế đối ngoại; có bước đi thích hợp hội nhập với kinh tế khu vực
và thế giới; phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là
trọng điểm của kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực thâm nhập thị trường
thế giới, chú trọng thị trường các trung tâm kinh tế thế giới, mở rộng thị
phần trên các thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội để mở ra thị trường
mới; cải thiện môi trường đầu tư và bằng nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư
nước ngoài.
4. Thực trạng nền kinh tế thị trường ở nước ta:
dụng khoảng 70% lực lượng lao động, nhưng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP,
các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỷ trọng thấp.
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong và
ngoài nước là rất kém. Do cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động
thấp dẫn đến khối lượng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại nghèo nàn, chất lượng
thấp mà giá thành lại quá cao.
4.2. Các loại thị trường trong nước đang trong quá trình hình thành
nhưng chưa đồng bộ:
Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và
còn nhiều tiêu cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu vẫn làm rối
loạn thị trường).
24
Thị trường sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu
việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng nảy sinh nhiều hiện
tượng tiêu cực. Nét nổi bật của tinh trạng này là thừa lao động giản đơn,
trình độ thấp; nhưng lại thiếu lao động lành nghề, lao động có hàm lượng
chất xám cao. Do vậy dẫn đến tình trạng thừa lao động giản đơn, nhiều
người có sức lao động không tìm được việc làm; nhưng nhiều ngành nghề lại
không có lao động đủ trình độ đáp ứng. Ngoài ra, cơ cấu đào tạo bất hợp lý
cũng đã dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, khiến cho một lượng lớn
sinh viên được đào tạo ra trường không thể tìm được việc làm.
Thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn
rất nhiều bất cập, như nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân rất
thiếu vốn để sản xuất kinh doanh nhưng không vay được vì vướng mắc thủ
tục, trong khi đó nhiều ngân hàng thương mại huy động được tiền gửi mà
không thể cho vay để ứ đọng vốn. Trong hoạt động của các ngân hàng vẫn
còn nhiều tiêu cực và gian lận. Thị trường chứng khoán đã ra đời nhưng gần
như luôn ở trong tình trạng “đóng băng”, các giao dịch diễn ra rất ít và các