Đặng Kim sơn - Hoàng Thu Hoà
(Chủ biên)
Một số vấn đề về phát triển
nông nghiệp và nông thôn
Tham gia biên soạn
Đặng KIm Sơn
Phan Sĩ HIếu
Đinh Trọng Thắng
Ngô Văn Giang
Trần Hồng Minh
Hoàng Thu HOà
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW
Trung tâm Thông tin-T liệu
Nhà xuất bản Thống kê
Hà nội- 2002 1
Báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng, trong phần nói về nhiệm vụ trung
tâm là phát triển kinh tế, đã đặt lên hàng đầu chủ trơng "tăng cờng chỉ đạo và
huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp và nông thôn".
Chiến lợc phát triển kinh tế và xã hội 10 năm 2001-2010, trong phần
định hớng phát triển các ngành kinh tế và các vùng, cũng nhấn mạnh trớc hết
định hớng phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp, và kinh tế nông
thôn.
Những điều trên đây thể hiện tầm quan trọng rất to lớn của nông nghiệp
và nông thôn đối với nông dân ta, đất nớc ta.
Cuốn sách này nhằm cung cấp những thông tin và gợi ra một số ý kiến
của các nhà nghiên cứu mong góp phần nhỏ bé vào việc triển khai thực hiện
thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp và nông thôn.
Sau phần mở đầu chừng nào có tính chất tổng quan, Phần II của cuốn
sách giới thiệu một số kiến thức và kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông
nghiệp và nông thôn. Tiếp đó, Phần III của cuốn sách phân tích tiến trình đổi
mới vừa qua trong nông nghiệp, nông thôn nớc ta, và đề xuất giải pháp tiếp tục
đổi mới trong những năm tới.
Tập thể tác giả 3
Phần mở đầu:
m
ột số quan niệm mới về
Nền Nông
có năng suất và hiệu quả cao, có giá trị sử dụng thiết yếu không gì thay thế
đợc, tạo ra giá trị gia tăng lớn, có thể, cần phải và đang trở thành một ngành rất
quan trọng của kinh tế tri thức.
4
2. Về nông thôn : Nông thôn không phải là địa bàn thứ yếu và hậu phơng
phụ thuộc vào thành thị, có trình độ phát triển về các mặt đều thấp hẳn so với
thành thị, cổ hủ, lạc hậu, lỗi thời về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nơi con
ngời, nhất là lớp trẻ, luôn hớng ra thành thị.
Trái lại, nông thôn hiện đại là một dạng của thành thị, sự phân biệt giữa
thành thị và nông thôn đang mất dần, trong nông thôn có các thành phố và thị
trấn văn minh, sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn là u việt hơn cho nông
thôn, chứ không phải cho thành thị:
- Nông thôn hiện đại là địa bàn để giữ gìn và tô điểm môi trờng sinh thái
của loài ngời, chứa đựng ''lá phổi và trái tim'' của sự sống trên trái đất.
- Nông thôn hiện đại là không gian rộng lớn tại đó con ngời đợc sống
gắn bó, hài hòa với thiên nhiên, cây cỏ, chim muông, sông núi, đất trời, không
ngột ngạt trong những thành phố đầy nhà chọc trời, bê tông, kính và sắt thép.
- Nông thôn hiện đại là nơi nghỉ ngơi lành mạnh, là nguồn giải trí phong
phú, là vùng du lịch sinh thái đa dạng, yên tĩnh, thanh bình.
Nh vậy, theo quan điểm này, rõ ràng là vai trò trong tơng lai của nông
nghiệp và nông thôn đã đợc mở rộng và nâng cao nhiều so với trớc.
II. Một số quan điểm mới về nền nông nghiệp bền vững, về kinh
tế nông thôn, về phát triển nông thôn.
A. Nền nông nghiệp bền vững.
Nh một số tổ chức quốc tế và nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích, nền
nông nghiệp hiện đại không đóng vai trò thụ động, cung cấp một số nguồn lực,
phơng tiện và điều kiện cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà có
một vai trò rất chủ động, là động cơ phát lực cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội.
1. Sự tham gia chủ động, tích cực của các cộng đồng nông thôn, bao gồm
các nông hội, các tổ chức phi Chính phủ, khu vực t nhân và các cơ quan Nhà
nớc.
2. Môi trờng chính sách quốc gia thuận lợi, giàu tính khuyến khích, hỗ
trợ.
3. Thông tin minh bạch, thông suốt và có hiệu quả giữa các tác nhân có
liên quan.
4. Tập trung hoạt động nghiên cứu ứng dụng vào những cách làm, những
kỹ thuật thích đáng của từng địa phơng.
Điều đáng chú ý là ngay trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế và cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện nay, nhiều công nghệ mới đợc coi là có giá
trị toàn thế giới, thì cả 4 đặc trng và 4 nhân tố thiết yếu của một nền nông
nghiệp bền vững trên đây đều nêu ra và nhấn mạnh hai điểm :
Một là, mở rộng dân chủ, phát huy vai trò chủ động, tích cực của đông đảo
nông dân và cộng đồng nông thôn.
Hai là, coi trọng vận dụng (và nâng cao) những cách làm, những kỹ thuật
nông nghiệp của từng địa phơng. (Một số chuyên gia kinh tế và khoa học kỹ
thuật của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã xây dựng
và điều hành một số dự án nông nghiệp theo ''đúng bài bản khoa học hiện đại'' ở
6
một số nớc châu Phi và Nam á, và đã thất bại chính vì bỏ qua truyền thống của
các dân tộc bản địa mà không biết đến những kiến thức, kỹ thuật và kinh
nghiệm dân gian tại địa phơng).
B. Phát triển kinh tế nông thôn và phát triển nông thôn toàn diện
Từ khá sớm, ở nhiều nớc trên thế giới, ngời ta đã xác định tầm quan
trọng của kinh tế nông thôn, bao gồm cả hoạt động nông nghiệp và cả các hoạt
động phi nông nghiệp rất phong phú, đa dạng tại nông thôn. Những hoạt động
phi nông nghiệp này, từ các loại ngành, nghề thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp,
công nghiệp nhỏ và vừa, đến các loại dịch vụ kinh tế, khoa học, công nghiệp và
Thế giới đã triển khai một chiến lợc phát triển nông thôn rộng lớn có tên gọi là:
"Từ tầm nhìn đến hành động". Bốn năm sau, vào năm 2000, Ngân hàng Thế giới
kiểm điểm chiến lợc đó, và thấy rằng từ quan niệm đến thực hiện đều cha tốt,
cha thể coi là thành công, phải đợc hiệu chỉnh nhiều và thúc đẩy mạnh hơn.
Đặc biệt, một khuyết điểm lớn đáng nêu lên là không chú ý đúng mức những
mặt phi nông nghiệp trong sự phát triển nông thôn.
Khi kiểm điểm, Ngân hàng Thế giới đã đặt ra một câu hỏi hay: Nếu phát
triển nông thôn quan trọng đến nh vậy, thì vì sao nó lại không diễn ra? Ngân
hàng Thế giới đã liệt kê một loạt nguyên nhân, gồm những khiếm khuyết của
các quốc gia đối tác và của bản thân Ngân hàng Thế giới, nh sau:
1. Quan niệm sai lầm rằng nông nghiệp và nông thôn là những lĩnh vực đi
xuống trong nền kinh tế hiện đại.
2. Có thái độ thoả mãn sai lầm trớc tình hình giá lơng thực, thực phẩm
giảm trong 2 thập kỷ vừa qua.
3. Ngời dân ở nông thôn, đặc biệt là ngời nghèo, không có tiếng nói hoặc
thiếu quyền để nói. Các chơng trình, kế hoạch đều theo kiểu "dội từ trên
xuống", quá ít sự tham gia của ngời dân. Các nguồn lực trong nông nghiệp và
nông thôn thờng tập trung trong tay một số ít ngời.
4. Vai trò của Nhà nớc và các thiết chế "nửa Nhà nớc", "gần nh Nhà
nớc" thờng không rõ ràng. ở nhiều quốc gia, Nhà nớc hoạt động kém hiệu
quả, ban hành những chính sách gây thiệt hại cho nông nghiệp, bất công đối với
ngời nông dân, tạo đặc quyền, đặc lợi cho một vài giới đợc u đãi.
5. Những ngời hoạt động trong lĩnh vực phát triển nông thôn của Ngân
hàng Thế giới và của nhiều quốc gia chỉ đợc đào tạo về nông nghiệp, chỉ có
kiến thức và kinh nghiệm về nông nghiệp, nên thờng thiên lệch và phiến diện.
Nh vậy, phát triển nông thôn ở từng quốc gia cũng nh trên toàn thế giới
theo quan niệm mới mở ra triển vọng tốt đẹp, song quả thực là một công cuộc
khó khăn, lâu dài và gian khổ.
II. Tác động của các xu thế lớn của thời đại- Cơ hội và thách thức
đối với nông nghiệp và nông thôn.
gen, sinh sản vô tính ) chứa đựng những nguy hại thực tế đã xảy ra và những
hiểm họa tiềm tàng khủng khiếp đối với chất lợng và sự đa dạng của môi trờng
sinh thái, thậm chí đối với sự tồn vong của loài ngời. Việc vận dụng công nghệ
tin học chứa đựng khả năng của một số thế lực có thể thao túng nhiều mặt cuộc
sống con ngời, truyền bá những văn hoá, t tởng xa lạ.
Việc phân phối những hiểu biết và thành quả công nghệ cao trên thế giới,
giữa các nớc và trong từng nớc, hiện rất bất công, có lẽ là sự bất công vào loại
lớn nhất, từ đó sinh ra hoặc làm trầm trọng thêm nhiều loại bất công khác.
Những nớc và những ngời cần công nghệ cao nhất lại không có hoặc chỉ có
quá ít công nghệ cao. Ngời ta nói nhiều đến sự phân cách (hoặc khoảng cách)
số hoá. Cần nói thêm rằng sự phân cách (hoặc khoảng cách) sinh học cũng sâu
rộng và đáng phẫn nộ không kém.
Đứng trớc những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,
nớc nào sáng suốt và khéo léo kết hợp đợc các khả năng của các chặng đờng
9
công nghiệp hoá nông nghiệp trong 100 năm qua thì thành công lớn. Trái lại, nếu
ở đầu thế kỷ 21 mà còn kh kh bám lấy cách nghĩ, cách làm của đầu thế kỷ 20,
hoặc vội vã, hồ đồ nhẩy vào công nghệ cao nhất một cách sai lầm, thì lãng phí
công của và thời gian, không tránh khỏi thất bại.
B. Toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Nói vắn tắt, toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập quốc tế và khu vực có đặc trng
nổi bật là tự do hoá mạnh thơng mại quốc tế, đầu t quốc tế, các dịch vụ quốc
tế, đợc thúc đẩy bởi cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ
tin học và viễn thông.
Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế là một quá trình đang biến
chuyển, gồm hai mặt vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các quốc gia, các tổ chức
kinh tế có mục tiêu và quyền lợi phần nào giống nhau hoặc gần nhau, phần nào
khác nhau, thậm chí đối lập nhau. ở từng thời điểm, trong hai mặt hợp tác và
đấu tranh, mặt nào nổi lên giữ vị trí chủ yếu tuỳ thuộc vào từng quan hệ đối tác,
quan và giảm hẳn hàng rào phi thuế quan đối với nông sản, nhng chính họ lại
không làm nh thế.
Mỹ và nhiều cờng quốc khác nêu ra đòi hỏi cao về tiêu chuẩn lao động
trong nông nghiệp và trong kinh tế nói chung, nh cấm không đợc dùng lao
động trẻ em, bảo đảm phụ nữ đợc hởng thù lao nh nam giới nếu làm việc
ngang nhau, chăm lo bảo hiểm xã hội cho nông dân Những tiêu chuẩn nh vậy
là có lẽ phải, song lẽ phải ấy trong trờng hợp này lại đợc dùng để gây cản trở
cho sự phát triển nông nghiệp của các nớc đang phát triển. Những đòi hỏi về
tiêu chuẩn lao động, cộng với những tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe, thực tế khiến
cho nông sản của các nớc đang phát triển khó tiếp cận thị trờng các nớc phát
triển khác, trong khi hàng nông sản chế biến tinh và chất lợng cao của các
nớc phát triển có thể dễ dàng tràn vào các nớc đang phát triển.
Chính vì thế, cuộc đấu tranh của các nớc đang phát triển và các lực
lợng tiến bộ trong các cuộc đàm phán về thơng mại nông sản là rất quan
trọng, và đang diễn ra quyết liệt. Đồng thời, việc phấn đấu của các nớc đang
phát triển để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản nớc mình có ý nghĩa quyết
định.
2. Các nớc đang phát triển, ngoài phần phát huy nội lực, cần có thêm
nguồn đầu t từ nớc ngoài để phát triển nông nghiệp.
Nguồn ODA (viện trợ của chính phủ, thờng đợc dịch một cách khó
hiểu theo nghĩa đen của từ tiếng Anh là "viện trợ chính thức"), gồm phần rất
nhỏ là viện trợ không hoàn lại và phần rất lớn là cho vay lãi suất tơng đối thấp
với ân hạn tơng đối dài. Hiện nay, luồng ODA toàn cầu đang trong xu hớng
giảm.
Nguồn đầu t trực tiếp và gián tiếp của các công ty t nhân vào nông
nghiệp thờng không dễ tranh thủ và ít hơn hẳn so với phần hớng vào công
nghiệp chế tác tại các thành thị và khu công nghiệp, vì đầu t vào nông nghiệp
thờng có lãi suất thấp hơn và rủi ro nhiều hơn. Các nớc đang phát triển cần có
chính sách hấp dẫn, môi trờng thuận lợi, cách làm đáng tin cậy để thu hút đợc
FDI vào nông nghiệp.
rộng dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp một cách thực sự chứ không phải
hình thức.
Ba biến chuyển trên đây, tức là vai trò mới của Nhà nớc, vai trò mới của
các tổ chức phi chính phủ và vai trò mới của quần chúng nhân dân, tạo nên
những hệ quả sâu xa, gồm cả cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp.
Thách thức lớn là làm sao xác định đúng và thực hiện tốt từng vai trò
trong sự kết hợp hài hoà chung. Làm đợc nh vậy mới tranh thủ đợc cơ hội,
đạt thành công rực rỡ trong việc phát triển nền nông nghiệp bền vững, và phát
triển nông thôn toàn diện.
12
Vai trò của Nhà nớc với nông nghiệp (và nông thôn) thể hiện trên 3
điểm:
1. Nhà nớc đảm nhận một phần quan trọng (nhng không phải tất cả)
công việc xây dựng kết cấu kinh tế hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn.
2. Nhà nớc hớng dẫn (mà không can thiệp vào) hoạt động nông nghiệp
từ cung ứng đầu vào, tiến hành sản xuất, đến tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Trong
thời gian và mức độ hợp lý, Nhà nớc không chỉ hớng dẫn mà còn trợ cấp và
giúp đỡ hoạt động nông nghiệp bằng những cơ chế và phơng pháp thích hợp.
3. Nhà nớc đảm nhận một phần quan trọng (nhng không phải tất cả)
công việc tổ chức và cung ứng các dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá cho
nông dân.
Mức độ có hiệu quả cao (cha nói đến tối u) của việc xác định và thực
hiện 3 điểm trên đây là tế nhị. Quá ôm đồm, nặng là đến bao cấp, hoặc ngợc lại
quá rút lui, nặng là đến rũ sạch, phó thác cho thị trờng đều đa lại thua thiệt và
thất bại. Đó chính là nguy cơ nằm ngay trong cơ hội.
Nhận thức khá phổ biến hiện nay về vai trò của Nhà nớc là nh sau: Do
kết quả của cải cách kinh tế trong từng nớc cũng nh do yêu cầu tuân thủ các
quy tắc của Tổ chức Thơng mại thế giới, nên việc hình thành hệ thống giá cả
ngày càng dựa vào thị trờng, dẫn tới sự chuyển biến cơ bản vai trò của Nhà
giới tăng nhanh hơn mức tăng của dân số thế giới. Sang thế kỷ 21, với việc các
quốc gia tăng cờng thực hiện chính sách dân số, chắc rằng mức tăng hàng năm
của dân số thế giới sẽ tiếp tục giảm, trong khi đó nhờ các công nghệ cao, mức
tăng trởng hàng năm của sản lợng nông nghiệp chẳng những đợc giữ vững,
mà còn đợc nâng cao.
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng trong nền nông nghiệp
thế giới đã bắt đầu diễn ra một cuộc cách mạng xanh mới, đợc gọi là "cuộc
cách mạng xanh kép", với ba cách hiểu:
- Cách hiểu thứ nhất: đây là cuộc cách mạng xanh về giống cây trồng và
cuộc cách mạng xanh về nớc cho nông nghiệp (cấp nớc và tiêu nớc kịp thời,
đầy đủ, đúng cách), khắc phục mối lo lớn của loài ngời trong thế kỷ 21 là thiếu
nớc, đặc biệt là thiếu nớc cho nông nghiệp, mà những nớc đã và sẽ thiếu
nớc nhất lại là những nớc nghèo đói nhất.
- Cách hiểu thứ hai: đây là cuộc cách mạng xanh về kinh tế và cuộc cách
mạng xanh về xã hội (với nội dung công bằng xã hội, tiến bộ xã hội trong phân
phối sản phẩm nông nghiệp và tổ chức đời sống ở nông thôn).
- Cách hiểu thứ ba: đây là cuộc cách mạng xanh về kỹ thuật và cuộc cách
mạng xanh về môi trờng.
Có lẽ nên kết hợp cả ba cách hiểu trên đây, và nh vậy cuộc cách mạng
xanh mới không chỉ có hai chiều cạnh, mà có đến nhiều chiều cạnh. Dẫu sao, về
mặt sản xuất, loài ngời trong thế kỷ 21 bảo đảm đợc an ninh lơng thực, kể cả
khi dân số thế giới lên tới 12 đến 14 tỷ ngời vào nửa cuối thế kỷ 21.
Phân phối sản lợng lơng thực, thực phẩm mới là vấn đề lớn và nan giải.
Không thể có ảo tởng dựa vào tình đoàn kết quốc tế, lòng nhân đạo, hoặc sự
14
hảo tâm của con ngời để thờng xuyên cứ mỗi mùa vụ lại viện trợ lơng thực,
thực phẩm từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Cách duy nhất là các nớc đang thiếu thốn phải phấn đấu vơn lên, và các
nớc phát triển phải giúp đỡ các nớc thiếu thốn tự bảo đảm an ninh lơng thực
và tăng thu nhập cho dân c nông thôn, phát triển hài hoà công nghiệp và nông
nghiệp, không tạo nên những luồng đông đảo dân nông thôn ồ ạt chạy ra thành
15
thị, không đô thị hoá tập trung vào một số ít thành phố lớn (là kiểu đô thị hoá
dẫn đến nhiều nguy haị nhất).
Công nghiệp và dịch vụ nông thôn là loại công nghiệp và dịch vụ xuất
phát từ nông thôn, luôn luôn gắn bó hữu cơ với nông thôn, dùng nguồn lực của
nông thôn, đáp ứng nhu cầu của nông thôn và nhu cầu cả nớc, kể cả nhu cầu
xuất khẩu, coi trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết hợp công nghệ truyền thống
với công nghệ cao, kinh nghiệm thực tiễn bản địa với kiến thức và kỹ năng hiện
đại của thế giới.
Xem nhẹ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, chỉ chăm chú phát triển công
nghiệp và dịch vụ ở thành thị và các khu kinh tế, khu công nghiệp là một sai lầm
tai hại mà một số nớc đã mắc vào, và đã phải trả giá.
C. Phát triển dân chủ trong nông nghiệp và nông thôn.
Đây là vấn đề quyết định của những vấn đề quyết định. Cuộc đấu tranh bi
tráng của loài ngời để phát triển nền dân chủ nói chung cũng nh nền dân chủ
trong nông nghiệp và nông thôn nói riêng đã diễn ra mấy nghìn năm nay, mà
cha thời nào, cha ở đâu đạt đợc kết quả thật sự mỹ mãn, đáng hài lòng.
Từ khoảng giữa thế kỷ 20 và nhất là từ vài chục năm gần đây cho đến
nay, khi nói về nền dân chủ trong nông nghiệp và nông thôn, những việc sau đây
thờng đợc nhắc đi nhắc lại nhiều:
1. Mở mang giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo ngời lao động nông
nghiệp, thực hiện xã hội học tập ở nông thôn.
2. Phát triển dân chủ (bao gồm cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp),
dành trọng lợng lớn cho vai trò của quần chúng nông dân trong việc ra các
quyết định và thực hiện quyết định.
3. Phi tập trung hoá (phân cấp) thẩm quyền và hoạt động của Nhà nớc,
mở rộng quyền hạn, trách nhiệm và phơng tiện cho chính quyền cơ sở ở nông
cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu đợc trên đơn vị diện tích; giải quyết
tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá. Đầu t nhiều hơn cho phát triển kết cấu
hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các
ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông
nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp
sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới; nâng cao chất
lợng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân c ở nông thôn".
Qua đoạn vừa trích, có thể thấy hầu hết những điều đã đợc nêu lên trong
những mục trên.
ở đây, chỉ xin nhấn mạnh hai điểm:
1. Đảng ta và Nhà nớc ta chủ trơng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn. Cả nông nghiệp và nông thôn. Phát triển nông nghiệp là
phát triển một bộ phận rất quan trọng của kinh tế nông thôn, chứ không phải tất
cả kinh tế nông thôn. Còn phát triển nông thôn thì bao quát rộng lớn hơn nhiều,
chẳng những về kinh tế, mà cả về chính trị, văn hoá, xã hội, con ngời.
Phát triển nông nghiệp tạo ra một cơ sở và tiền đề thiết yếu để phát triển
nông thôn; mặt khác phát triển nông thôn có tác động quyết định đến phát triển
17
nông nghiệp. Nếu nông thôn kém phát triển thì không thể có nông nghiệp phát
triển.
Do cách t duy và hành động quá thiên lệch về kinh tế, hoặc do quan
niệm hẹp hòi về một sự phân công chức năng, mà quá chăm chú vào phát triển
nông nghiệp, coi nhẹ phát triển nông thôn, thì ngay chỉ riêng về nông nghiệp
cũng không thể có thành công bền vững.
2. Trong việc phát triển nông nghiệp và nông thôn, để xác định chủ
trơng, chính sách và thực sự tiến hành mọi công việc, nói một cách giản đơn,
nguồn căn cứ của chúng ta gồm có hai phần:
Một là, những kiến thức và kinh nghiệm do ông cha ta để lại qua mấy
nghìn năm lịch sử của đất nớc, và những hiểu biết tích luỹ đợc thêm từ khi
liền với thời gian con ngời bắt đầu chuyển từ cuộc sống hoang dã sang trồng
trọt và thuần hoá thú hoang, từ một vạn đến 7 ngàn năm TCN. Trong thời kỳ thứ
2, từ 7 ngàn năm TCN đến thế kỷ XVIII SCN, sản xuất nông nghiệp ngày càng
phát triển, con ngời sáng tạo ra các công cụ sản xuất tiện lợi hơn, cho năng
suất cao hơn nh cầy, cuốc, liềm làm bằng đồng, bằng sắt. Sức kéo gia súc, máy
sử dụng sức nớc và sức gió dần thay thế cho lao động bằng tay của con ngời.
Đặc trng cơ bản của kỹ thuật sản xuất giai đoạn thứ nhất là phụ thuộc nhiều
vào sức cơ bắp của ngời, gia súc, và năng lợng tự nhiên nh gió và nớc. Do
đó, sức sản xuất của con ngời cha vợt qua giới hạn tự cung, tự cấp. Trong
những thế kỷ cuối của thời kỳ này, nhiều thành tựu khoa học quan trọng thuộc
nhiều lĩnh vực ở phơng tây đã đợc phát minh và tạo tiền đề cho cuộc cách
mạng nông nghiệp lần thứ 2.
Giai đoạn thứ hai là thời kỳ sản xuất nông nghiệp gắn liền với quá trình
cơ khí hoá nông nghiệp, từ đầu thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX. Quá trình này
tiếp thu những thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỉ
XVIII ở Anh. Rất nhiều phát minh công nghiệp đợc đa vào sản xuất nông
nghiệp nh máy gieo hạt, máy gặt, máy cầy v.v Các máy móc này ban đầu
chạy bằng động cơ hơi nớc và đến cuối thế kỉ XIX, thay thế bằng các động cơ
chạy bằng dầu diesel, điện. Cuộc cách mạng kỹ thuật này nâng cao hiệu quả sản
xuất và giúp con ngời mở rộng diện tích canh tác, chinh phục thiên nhiên, vợt
qua giới hạn của nền văn minh nông nghiệp với các công cụ sản xuất thô sơ.
Quá trình cơ giới hoá nông nghiệp đem lại năng suất lao động cao, cho phép con
19
ngời mở rộng qui mô sản xuất nhng vẫn cha nâng cao năng suất đất nông
nghiệp. Thực tế này đã dẫn đến sự ra đời quan điểm của nhà kinh tế học ngời
Anh Thomas Malthus: sớm muộn sản lợng nông nghiệp sẽ ngừng tăng trởng
vì trong thời gian dài, tài nguyên đất đai là giới hạn so với dân số liên tục tăng
trởng không ngừng.
Giai đoạn thứ 3 kéo dài từ giữa cho đến cuối thế kỉ XX. Sản xuất nông
1
Quang Huy, 1999, trang 1941.
20
Trong thời kỳ đồ đá, con ngời sinh sống thành từng bầy trong các hang
động. Công việc tìm kiếm lơng thực thực phẩm là hoạt động rất quan trọng của
nhân loại trong thời kỳ này. Đàn ông thờng lo việc săn bắn, phụ nữ chuyên
chọn lựa những loại thực vật gần nơi ở có thể chế biến thành lơng thực. Con
ngời thời kỳ này chủ yếu sử dụng đá làm công cụ sản xuất và săn bắn. Cùng
với thời gian, dân số ngày một tăng, các công cụ sản xuất cũ không đáp ứng
đợc nhu cầu của con ngời. Trong khoảng thời gian từ 1 vạn đến 7 ngàn năm
TCN, con ngời đã biết chọn lựa những hạt giống tốt và những vùng đất tốt để
trồng ngũ cốc. Họ cũng dần biết cách thuần hoá thú rừng. Nền văn minh nông
nghiệp thứ nhất bắt đầu phát triển từ đó.
Theo các bằng chứng khảo cổ học, con ngời chuyển từ săn bắn, hái lợm
sang trồng trọt và thuần hoá thú rừng theo thời gian khác nhau tuỳ theo vùng. ở
Trung Đông, Palestin, các nhà khảo cổ học tìm thấy các loại liềm dùng để gặt
lúa đợc làm từ 7 ngàn năm TCN. Tại Shanidar, Iraq, họ cũng tìm thấy những
dấu vết cừu đợc nuôi thành từng bầy vào thời gian 7 ngàn năm TCN, chúng có
hình dáng và sinh lý gần giống với cừu hoang. ở Châu á, Thái Lan, hạt dẻ đã
đợc trồng khoảng 9 ngàn năm TCN. ở Châu Mỹ, Mexico, bí ngô và bầu đợc
trồng ở vùng Đông Bắc khoảng 7 ngàn năm TCN. ở Châu Phi, hoạt động trồng
trọt bắt đầu sớm hơn, từ 1vạn năm TCN tại thung lũng sông Nile, và dọc theo
thung lũng sông Jordan.
Cùng với số lợng vật nuôi và diện tích canh tác ngày càng nhiều, con
ngời hình thành nhu cầu sống thành từng cụm làng xã để hỗ trợ nhau trong sản
xuất, chống đỡ thiên tai và thú rừng tấn công. Những ngời sống trong các làng
xã không phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nh cha ông họ trong thời kỳ đồ
ngời ta thấy các loài động vật nh hơu nai, linh dơng, linh cẩu, cừu, đã đợc
thuần hoá và nuôi giữ. Vào thiên kỉ I TCN, ngời cổ đại đã biết đắp kênh, đào
hồ điều tiết nớc ở sông Nile phục vụ tới tiêu; Cây trồng đợc thu hoạch bằng
liềm cải tiến từ các dụng cụ có cán cong; Thóc lúa đợc dự trữ trong những hầm
trữ lớn.
Bên cạnh những nền văn minh lớn, các nhà nghiên cứu và khảo cổ học
cũng tìm thấy dấu vết của những nền văn minh nhỏ hơn. Ví dụ nh trên địa bàn
Châu thổ sông Hồng Việt Nam ngày nay, từ thời Âu Lạc, vào thế kỷ thứ 3 TCN,
đã hình thành nền văn hóa Đông Sơn. Trong đó kỹ thuật nông nghiệp đã có
những bớc tiến đáng kể. Các công cụ bằng đồng nh cày, liềm, hái rìu, các
công cụ bằng sắt nh mai cuốc và sức kéo trâu bò đã đợc sử dụng rộng rãi.
Ngời Việt cổ trồng lúa, khoai, đậu, cây ăn quả, trồng rau, nuôi trâu bò, lợn,
chó, và làm đờng, dệt lụa.
Muộn hơn một chút, ở phơng Tây đã xuất hiện nền văn minh Hy Lạp và
La Mã cổ đại. Nền văn minh Hy Lạp có cơ sở đầu tiên từ thiên kỉ thứ III TCN.
Đến thế kỉ thứ VI TCN, nền văn minh La Mã bắt đầu hình thành. Do những đặc
điểm tơng đồng giữa hai nền văn minh này nên ngời ta gọi chung là nền văn
minh Hy - La. Văn minh Hy-La rất phát triển và là cơ sở của văn minh phơng
Tây thời kỳ trung đại từ thế kỉ VI SCN cho đến thế kỉ thứ XIII SCN.
3
Trong nền
văn minh này, các công cụ sản xuất không ngừng hoàn thiện nh rìu, cầy cuốc
làm bằng sắt. Sức kéo của bò, trâu và ngựa đợc sử dụng rộng rãi cả trong sản 2
Vũ Dơng Minh, 1998, trang 9-11.
3
Vũ Dơng Minh, 1998, trang 10.
Một số ý kiến cho rằng cuộc cách mạng này bắt đầu từ thế kỉ XV thậm trí còn
sớm hơn, gắn liền với hoạt động khoanh ruộng đất của giai cấp t sản Anh để
làm đồng cỏ chăn nuôi cừu và sau đó tiếp tục mở rộng sang các nớc Châu Âu
khác cho đến những năm đầu của thế kỉ XIX. ý kiến khác đợc nhiều ngời
chấp nhận hơn cho rằng cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ hai chỉ thực sự bắt
đầu khi máy móc đợc áp dụng rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp những năm
đầu thế kỉ XIX (1837), tức là đi sau một chút so với cách mạng công nghiệp vào
cuối thế kỉ XVIII (1769).
23
Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ II ở
châu Âu. Nguyên nhân thứ nhất là sự mở rộng của thị trờng nông sản nhờ
những khám phá địa lý diễn ra từ cuối thế kỉ XV nh cuộc hành trình của Vaxco
đơ Gama men theo bờ biển Châu Phi đến điểm cực nam của Châu lục này (mũi
Hy vọng) rồi vợt qua ấn độ dơng, cập bến ấn độ; chuyến vợt Đại Tây
Dơng của Crixtốp Côlông đã phát hiện ra Châu Mỹ, khi đó đợc gọi là Tân Thế
giới hoặc nhầm lẫn với Tây ấn độ; và cuộc thám hiểm của Magenlan đi vòng
quanh thế giới.
4
Các cuộc thám hiểm này mở ra những thị trờng mới rộng lớn
cho nông sản xuất khẩu. Do đó, các phơng tiện sản xuất dựa trên sức ngời,
sức kéo gia súc, sức gió và sức nớc đến thời điểm này không thể đáp ứng đợc
nhu cầu ngày càng lớn của thị trờng. Ví dụ, năng suất lao động thời kỳ này đại
để nh sau: hai ngời đàn ông và tám con bò làm việc cả ngày chỉ có thể làm
xong khoảng 0,4 ha và nếu làm việc liên tục từ sáng sớm tới tối mịt, một ngời
chỉ có thể gieo 4 ha.
Nguyên nhân thứ 2 là công nghiệp dệt ở Anh phát triển đòi hỏi phải thay
thế những loại máy móc chạy bằng sức nớc vì các công xởng đều phải đặt gần
sông và mùa đông nớc đóng băng, các công xởng không hoạt động đợc.
Nguyên nhân thứ 3 là thắng lợi của phong trào cách mạng t sản diễn ra ở Anh
đợc xem là năm đánh dấu cuộc Cách mạng nông nghiệp lần thứ 2. Năm 1850,
máy cầy chạy bằng động cơ hơi nớc đợc đa vào sử dụng rộng rãi. Năm 1870,
một phần t các hoạt động thu hoạch ở Anh đợc thực hiện bằng máy gặt. Động
cơ hơi nớc vẫn đợc áp dụng mạnh cho đến khi nó đợc thay thế các loại động
cơ u việt hơn chạy bằng dầu diesel, và điện.
Nh vậy, cơ giới hoá nông nghiệp là đặc điểm chính của cách mạng nông
nghiệp lần thứ II. Nhờ áp dụng máy móc, con ngời có thể dễ dàng thực hiện
đợc điều mà nhân loại sinh sống trong thời gian trớc không thể làm đợc là
mở rộng diện tích canh tác. Tuy nhiên, cơ giới hoá nông nghiệp không tạo nên
tăng trởng đột biến về năng suất đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác
trong dài hạn bị hạn chế. Trong khi đó tốc độ tăng dân số ở phơng Tây trong
thời kỳ này rất cao, ở Anh năm 1800 là 10%/năm
6
, nhiều ngời đã thấy rằng cơ
giới hoá nông nghiệp không thể làm tăng sản lợng lơng thực đáp ứng đủ cho
nhu cầu tăng lên của con ngời.
7
Đây chính là điểm hạn chế của cuộc cách
mạng này.
III. Cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ 3: sản xuất nông nghiệp dựa trên
di truyền học, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin.
Sản xuất nông nghiệp thế giới, sau đại chiến lần thứ II, dựa trên cơ khí hoá
bắt đầu bộc lộ những yếu điểm, không đáp ứng đợc tốc độ tăng dân số quá
nhanh, đặc biệt ở các nớc chậm phát triển. Tháng 9 năm 1999, dân số thế giới
đạt mức 6 tỷ ngời. Trong khi đó vào năm 1930 con số này chỉ là 2 tỷ ngời.
Điều này có nghĩa là chỉ trong vòng 70 năm, dân số thế giới đã tăng thêm 4 tỷ
ngời, gấp đôi mức dân số đạt đợc từ năm 1930 trở về trớc. Đây là tốc độ tăng
dân số nhanh nhất trong lịch sử. Do đó, tình trạng suy dinh dỡng, đói nghèo rất
phổ biến. Bên cạnh đó, khoảng cách giầu nghèo ngày càng tăng giữa các nớc