Câu hỏi ôn tập và gợi ý viết tiểu luận theo những vấn đề của môn tài chính công - Pdf 14

Câu hỏi ôn tập và gợi ý viết tiểu luận theo những vấn đề của môn TCC
1. Phân tích bản chất của Tài chính công?
2. Thực tế chức năng tạo lập vốn của tài chính công được thực hiện như
thế nào ở nước ta?
3. Để quản lý tài chính công phải tuân theo các nguyên tắc nào?
4. Phân tích vai trò của NSNN, trong thực tế vai trò là công cụ thúc đẩy
tăng trưởng được thực hiện như thế nào ở nước ta?
5. Để quản lý NSNN bền vững phải chú ý những vấn đề gì?
6. Phân tích các nguyên tắc cơ bản khi đánh thuế, trong thực tế ở nước ta
các nguyên tắc trên được thực hiện như thế nào?
7. Có thể học tập được những kinh nghiệm gì từ các nước phát triển
trong cải cách thuế?
8. Phân tích mục tiêu của quản lý chi tiêu công hiện đại, liên hệ với thực
tiễn Việt Nam về thực hiện mục tiêu quản lý chi tiêu công hiện đại?
9. Phân tích các thể chế và yêu cầu của quản lý chi tiêu công hiện đại,
liên hệ với thực tiễn Việt Nam?
Bài 1
TÀI CHÍNH CÔNG VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG

1 - Lý luận chung về Tài chính và Tài chính công
1.1 - Bản chất của tài chính
1.1.1 Sự ra đời của tài chính
Tài chính ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử và kinh tế, xã
hội nhất định. Khi xã hội bắt đầu có sự phân công lao động, sự chiếm hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất, về sản phẩm lao động thì nền sản xuất hàng
hoá ra đời. Tiền tệ xuất hiện như một tất yếu khách quan và là môi giới trung
gian giúp cho việc trao đổi hàng hoá được tiến hành một cách dễ dàng. Tiền
tệ trở thành phương tiện trao đổi và phương tiện tích luỹ trong quá trình
phân phối tổng sản phẩm xã hội. Các quỹ tiền tệ cũng được hình thành nhằm
1
mục đích tiêu dùng và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Các quỹ tiền tệ này

giữa các chủ thể trong quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thái giá
trị.
Từ đó có thể thấy bản chất của tài chính như sau: Tài chính phản ánh
hệ thống các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các
nguồn tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp
ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
Các nguồn tài chính khi tập trung tại một điểm nhất định sẽ tạo thành
quỹ tiền tệ. Mỗi lĩnh vực hoạt động nhất định gắn với một loại quỹ tiền tệ
đặc thù được tổ chức thành một bộ phận và hình thành nên một khâu tài
chính độc lập. Giữa các khâu tài chính có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc,
phụ thuộc lẫn nhau trong sự vận động không ngừng của các nguồn tài chính.
Điều đó khiến chúng kết hợp với nhau và cấu thành hệ thống tài chính thống
nhất.
Cơ cấu hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam bao
gồm các bộ phận cấu thành như sau:
- Tài chính công
- Tài chính doanh nghiệp
- Tài chính của các tổ chức tài chính
- Tài chính dân cư
3
- Tài chính các tổ chức xã hội.
1.2. Khái niệm và bản chất tài chính công
Tài chính công là một bộ phận hữu cơ của nền tài chính quốc gia. Sự
ra đời và phát triển của tài chính công gắn liền với sự ra đời và phát triển của
Nhà nước.
Tài chính công là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi tiêu
của Nhà nước; vừa là nguồn lực để Nhà nước thực hiện các chức năng vốn
có của mình, vừa là công cụ để Nhà nước chi phối, điều chỉnh các hoạt động
khác của xã hội; vừa là công cụ quan trọng của Nhà nước để thực hiện
những nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.

- Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước
- Tài chính phục vụ hoạt động công ích do Nhà nước tài trợ (các
doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích).
- Các quỹ tài chính ngoài ngân sách của nhà nước
1.3. Các chức năng của Tài chính công
Chức năng của tài chính là các thuộc tính khách quan vốn có, là khả
năng bên trong thể hiện tác dụng xã hội của tài chính.
Tài chính nói chung có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối
và chức năng giám đốc. Tài chính công là một bộ phận cấu thành quan trọng
của tài chính, có nét đặc thù là gắn với thu nhập và chi tiêu của Chính phủ.
5
Do đó, các chức năng của tài chính công cũng xuất phát từ hai chức năng
của tài chính, đồng thời có mở rộng thêm căn cứ vào nét đặc thù của tài
chính công. Có thể nêu lên ba chức năng của tài chính công là:
1.3.1. Chức năng tạo lập vốn
Trong nền kinh tế thị trường, vốn tiền tệ là điều kiện và tiền đề cho
mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Bất kỳ một khâu tài chính nào về thực chất
cũng có chức năng tạo lập vốn. Thực ra, chức năng tạo lập vốn là một khâu
tất yếu của quá trình phân phối, nên khi nói về chức năng của tài chính nói
chung, người ta thường không tách riêng ra thành một chức năng. Tuy nhiên,
đối với tài chính công, vấn đề tạo lập vốn có sự khác biệt với việc tạo lập
vốn của các khâu tài chính khác, nó giữ một vai trò quan trọng và có ý nghĩa
quyết định đối với toàn bộ quá trình phân phối, vì vậy có thể tách ra thành
một chức năng riêng biệt.
Chủ thể của quá trình tạo lập vốn là Nhà nước. Đối tượng của quá
trình này là các nguồn tài chính trong xã hội do Nhà nước tham gia điều tiết.
Đặc thù của chức năng tạo lập vốn của tài chính công là quá trình này gắn
với quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị
của mình để hình thành các quỹ tiền tệ của mình thông qua việc thu các
khoản có tính bắt buộc từ các chủ thể kinh tế xã hội.

chung. Tài chính công thực hiện sự giám đốc bằng đồng tiền đối với mọi sự
vận động của các nguồn tài chính công, thông qua đó biểu hiện các hoạt
động của các chủ thể thuộc nhà nước. Còn chức năng điều chỉnh của tài
7
chính công được thực hiện trên cơ sở các kết quả của giám đốc, là sự tác
động theo ý chí của Nhà nước nhằm điều chỉnh các bất hợp lý trong quá
trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc tài chính công.
1.4. Vai trò của tài chính công
- Huy động nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước
Bất cứ một nhà nước nào cũng cần có các nguồn lực tài chính để duy
trì bộ máy nhà nước và phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế. Các
nguồn tài chính này có thể được huy động từ mọi lĩnh vực, mọi thành phần
kinh tế trong xã hội dưới nhiều hình thức, biện pháp khác nhau.
Một trong những hình thức huy động nguồn vốn chủ yếu của nhà
nước hiện nay là thuế. Các khoản thuế này là một phần thu nhập của các cá
nhân, tổ chức có nghĩa vụ đóng góp theo luật định, được tập trung vào ngân
sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước theo các mục
tiêu đã định đối với từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển. Đây là vai trò
mang tính lịch sử của tài chính công gắn liền với sự ra đời của Nhà nước.
Tài chính công phải thực hiện vai trò này trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ
chế kinh tế nào.
- Đảm bảo sự tăng trưởng ổn định và bền vững
Nhà nước có vai trò đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, bền
vững và tạo động lực cho sự phát triển. Chức năng phân bổ và ổn định của
tài chính công được sử dụng một cách hữu hiệu để thực hiện vai trò này
trong quá trình quản lý vĩ mô về kinh tế xã hội của Nhà nước.
Thông qua chức năng phân bổ, các nguồn lực của Nhà nước được
phân bổ một cách cân đối, hợp lý, hiệu quả đối với mọi lĩnh vực, mọi thành
8

chính công có vai trò quan trọng và chủ đạo giúp nhà nước duy trì sự hoạt
động và thực hiện các chức năng kinh tế- xã hội mà Nhà nước đảm nhận.
2. Quản lý tài chính công
2.1. Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý tài chính công
2.1.1. Khái niệm
Nhìn chung, có thể thấy quản lý tài chính công là sự tác động của hệ
thống các cơ quan của nhà nước đến những mặt hoạt động của tài chính
công nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Thực chất của
Quản lý tài chính công là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành
và kiểm soát hoạt động thu, chi của Nhà nước nhằm phục vụ thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước hiệu quả nhất.
Từ khái niệm trên, có thể nêu đặc điểm của quản lý tài chính công là:
- Quản lý tài chính công là một loại quản lý hành chính nhà nước.
- Quản lý tài chính công được thực hiện bởi một hệ thống những cơ
quan của nhà nước và tuân thủ những quy phạm pháp luật của nhà nước.
- Quản lý tài chính công là một phương thức quan trọng trong việc điều
tiết các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà
nước đối với xã hội.
2.1.2. Mục tiêu và yêu cầu của quản lý tài chính công
10
Mục tiêu tổng quát của quản lý tài chính công là tạo ra sự cân đối và
hiệu quả của tài chính công, tạo môi trường tài chính công thuận lợi cho sự
ổn định và phát triển kinh tế, xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước.
* Các mục tiêu cụ thể của quản lý tài chính công là:
- Thứ nhất, bảo đảm kỷ luật tài khoá tổng thể. Chính phủ quản lý các
nhu cầu có tính cạnh tranh nhau trong giới hạn nguồn lực tài chính công cho
phép, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
- Thứ hai, bảo đảm hiệu quả phân bổ và huy động nguồn lực. Chính phủ
phải xác định được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn lực; phù hợp với các

nguồn lực của xã hội, của nền kinh tế được sử dụng tập trung và phân phối
hợp lý.
- Nguyên tắc hiệu quả: Nguyên tắc hiệu quả là nguyên tắc quan trọng
trong quản lý tài chính công. Hiệu quả trong quản lý tài chính công được thể
hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội. Khi thực hiện các
nội dung chi tiêu công, Nhà nước luôn hướng tới việc thực hiện các nhiệm
vụ và mục tiêu trên cơ sở lợi ích của toàn thể cộng đồng. Ngoài ra, hiệu quả
về kinh tế cũng là thước đo quan trọng để Nhà nước cân nhắc khi ban hành
các chính sách và các quyết định liên quan tới chi tiêu công. Hiệu quả về xã
12
hội là tiêu thức rất cần quan tâm trong quản lý tài chính công. Mặc dù rất
khó định lượng, song những lợi ích của xã hội luôn được đề cập, cân nhắc
thận trọng trong quá trình quản lý tài chính công. Hiệu quả xã hội và hiệu
quả kinh tế là hai nội dung quan trọng phải được xem xét đồng thời khi hình
thành một quyết định, hay một chính sách chi tiêu ngân sách.
- Nguyên tắc thống nhất: Thống nhất quản lý theo những văn bản
pháp luật là nguyên tắc không thể thiếu trong quản lý tài chính công. Thống
nhất quản lý chính là việc tuân thủ theo một quy định chung từ việc hình
thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý những vướng
mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Thực hiện nguyên tắc quản lý thống
nhất sẽ đảm bảo tính bình đẳng, công bằng, đảm bảo hiệu quả, hạn chế
những tiêu cực và những rủi ro khi quyết định các khoản chi tiêu công.
- Nguyên tắc công khai, minh bạch: Công khai minh bạch trong động
viên, phân phối các nguồn lực tài chính công là nguyên tắc quan trọng nhằm
đảm bảo cho việc quản lý tài chính công được thực hiện thống nhất và hiệu
quả. Thực hiện công khai minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng
đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi trong quản lý tài
chính công, hạn chế những thất thoát và đảm bảo hiệu quả của những khoản
thu, chi tiêu công.
2.2. Phạm vi quản lý tài chính công và mối liên hệ giữa các bộ phận

và huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân. Việc sử dụng quỹ tài chính
14
nhà nước này không hạch toán theo kiểu quản lý ngân sách nhà nước mà
được quản lý theo các quy định riêng biệt.
Tuy nhiên, nếu có quá nhiều quỹ ngoài ngân sách nhà nước thì có thể
làm phân tán nguồn lực trong quản lý tài chính công. Thông thường thì các
hoạt động thu, chi được thực hiện từ các quỹ này không được phân loại theo
các tiêu chí như các khoản thu - chi ngân sách, từ đó làm ảnh hưởng đến tính
đầy đủ, chính xác của việc phân tích và đánh giá hiệu quả của các chương
trình chi tiêu của Nhà nước.
- Quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước: Cơ quan
hành chính là hệ thống cơ quan công quyền thực hiện chức năng quản lý nhà
nước và cung cấp các dịch vụ hành chính cho các tổ chức và công dân.
Ở những cấp độ quản lý khác nhau, các cơ quan hành chính nhà nước
đều tổ chức những bộ phận tài chính tương ứng để phục vụ cho việc thực
hiện các nhiệm vụ của cơ quan mình. Nguồn tài chính cho các đơn vị này
hoạt động chủ yếu dựa vào cấp phát từ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc
không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện những nhiệm vụ mà nhà nước giao.
Nguồn tài chính của các đơn vị hành chính nhà nước được sử dụng
tuân thủ theo các quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản đặc
thù cho từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương.
- Quản lý tài chính trong các đơn vị cung ứng dịch vụ công của Nhà
nước: Một bộ phận lớn các dịch vụ công được các đơn vị trực thuộc nhà
nước cung ứng. Đơn vị cung ứng dịch vụ công thuộc nhà nước là những đơn
vị thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ (ví dụ như các đơn vị sự
nghiệp thuộc ngành giáo dục, y tế, khoa học, thể dục thể thao,) hoặc các đơn
15
vị thực hiện các hoạt động công ích (ví dụ cung ứng điện, nước, xây dựng
đường xá) không vì mục đích kinh doanh lợi nhuận
Các đơn vị này cung cấp những dịch vụ công nhằm thỏa mãn nhu cầu

độ đó, một bộ phận tài sản công chính là biểu hiện của thu, chi bằng tiền của
Nhà nước. Giá trị các tài sản công chiếm một phần rất lớn trong chi ngân
sách nhà nước hàng năm. Vì vậy, việc quản lý các tài sản công là một nội
dung liên quan mật thiết đến quản lý tài chính công.
2.2.2. Mối quan hệ giữa các bộ phận trong quản lý tài chính công
Trong quản lý tài chính công, Ngân sách nhà nước, các quỹ tiền tệ của
nhà nước, tài chính các cơ quan hành chính, các đơn vị cung ứng dịch vụ
công và tài sản công luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó Ngân sách
nhà nước giữ vai trò quan trọng và chi phối các bộ phận khác.
Việc quản lý các quỹ tài chính nhà nước có đặc điểm riêng. Các quỹ
này thường có tính linh hoạt trong sử dụng, vì vậy các quỹ này giữ vai trò bổ
sung cho những hạn chế của Ngân sách nhà nước.
Một bộ phận rất lớn của Ngân sách nhà nước là chi cho các cơ quan
hành chính và đơn vị sự nghiệp. Do đó, hiệu quả của quản lý tài chính trong
các cơ quan hành chính và đơn vị cung ứng dịch vụ công có ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả của chi Ngân sách nhà nước. Quy mô và hiệu quả của
Ngân sách nhà nước cũng có tác động đáng kể đến quy mô và hiệu quả tài
chính của các cơ quan hành chính và đơn vị cung ứng dịch vụ công.
17
Việc thu và chi từ các quỹ tiền tệ của nhà nước, đặc biệt là Ngân sách
nhà nước gắn với việc hình thành và sử dụng tài sản công. Việc thu thuế,
phí, lệ phí từ sử dụng các tài sản công đóng góp một phần không nhỏ cho
Ngân sách nhà nước. Việc mua sắm các tài sản công theo đúng các quy định
về tài chính cũng chính là góp phần quản lý tốt ngân sách nhà nước ở trung
ương, ở các địa phương cũng như trong từng cơ quan, đơn vị trực thuộc nhà
nước.
2.3. Cải cách Tài chính công trong công cuộc cải cách hành chính.
Trong quá trình thực hiện cải cách hành chính, thực tế đã cho chúng ta
thấy chỉ có thể thực hiện cải cách hành chính thành công khi tiến hành đồng
thời với việc cải cách tài chính công. Thông qua các hoạt động thu, chi bằng

định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước và
phần còn lại do các đơn vị tự trang trải.
Thứ năm, thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài
chính mới như cho thuê đơn vị sự nghiệp công, thực hiện cơ chế khoán một
số loại dịch vụ công cộng; thực hiện cơ chế hợp đồng một số dịch vụ công
trong cơ quan hành chính.
Thứ sáu, đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành chính
đơn vị sự nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí
từ ngân sách nhà nước.
19
Những nội dung cải cách tài chính công được trình bày ở trên có tác
động trực tiếp đến hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, làm tăng tính
tự chủ của các đơn vị gắn với sự chủ động về tài chính; tạo ra cơ chế tài
chính khuyến khích các đơn vị chi tiêu có hiệu quả, hướng vào kết quả đầu
ra và tiết kiệm ngân sách, trên cơ sở đó tăng thu nhập cho người lao động.
Đó chính là những động lực thúc đẩy các cơ quan trong bộ máy nhà nước
đổi mới về tổ chức, phương thức hoạt động và nâng cao năng lực của đội
ngũ cán bộ, công chức, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và
hiệu quả hơn, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính ở
nước ta.
20
Bài 2
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm ngân sách nhà nớc
Ngân sách nhà nước ra đời và phát triển cùng với Nhà nước nhưng
quan niệm về NSNN còn nhiều điểm chưa được thực sự thống nhất, cả trong
và ngoài nước, chẳng hạn:
Từ điển Bỏch khoa toà n thư về kinh tế của Phỏp: "Ngõn sỏch là văn
kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩ n về các
nghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền

NSNN đảm bảo tài chính cho bộ máy của nhà nước bằng cách khai
thác, huy động các nguồn lực tài chính từ mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh
tế, dới các hình thức bắt buộc, tự nguyện. Trong đó, quan trọng nhất vẫn là
nguồn thu từ thuế. Việc khai thác, tập trung các nguồn tài chính này phải
tính toán sao cho đảm bảo được sự cân đối giữa nhu cầu của nhà nước với
doanh nghiệp và dân cư, giữa tiêu dùng và tiết kiệm.
Từ các nguồn tài chính tập trung được, tiến hành phân phối các nguồn
tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước theo tỷ lệ hợp lý nhằm
vừa đảm bảo duy trì hoạt động và sức mạnh của bộ máy nhà nước, vừa đảm
22
bảo thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước đối với các lĩnh
vực khác nhau của nền kinh tế.
Kiểm tra giám sát việc phân phối và sử dụng các nguồn tài chính từ
NSNN đảm bảo việc phân phối và sử dụng được tiến hành hợp lý, tiết kiệm
và có hiệu quả, đáp ứng các nhu cầu của QLNN và phát triển kinh tế xã hội
2.2. Vai trò của ngân sách phát triển: là công cụ thúc đẩy tăng
trưởng, ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
- Thông qua NSNN, Nhà nước định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu
của nền kinh tế theo các định hướng đã đặt ra cả về cơ cấu vùng, cơ cấu
ngành.
- Thông qua chi NSNN, Nhà nước đầu tư cho kết cấu hạ tầng - lĩnh
vực mà tư nhân sẽ không muốn tham gia hoặc không thể tham gia; tạo điều
kiện thuận lợi cho sản xuất – kinh doanh phát triển, thúc đẩy tăng trởng kinh
tế, nâng cao đời sống dân cư.
- Bằng nguồn chi NSNN hàng năm, tạo lập các quĩ dự trữ về hàng hoá
và tài chính, trong trường hợp thị trường biến động, giá cả tăng quá cao hoặc
xuống quá thấp, nhờ vào lực lợng dự trữ hàng hoá và tiền, Nhà nước có thể
điều hoà cung cầu hàng hoá để bình ổn giá cả, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
và người sản xuất.
- Nhà nước cũng có thể chống lạm phát bằng việc cắt giảm chi NSNN,

24
Là việc nhà nước dùng quyền lực của mình tập trung một phần nguồn
tài chính quốc gia để hình thành quĩ NSNN
Đặc điểm cơ cấu các khoản thu gắn với chức năng nhiệm vụ và quyền
lực chính trị của nhà nước- các khoản thu dựa trên quyên lực nhà nước. Sự
tồn tại, phát triển của nhà nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu ngân
sách và ngược lại các khoản thu ngân sách là tiền đề vật chất tài chính để
nhà nước thực hiện nhiệm vụ của mình.
Các khoản thu ngân sách nhà nước bao gồm:
-Thu từ khai thác và bán các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Thu từ thuế và phần nộp ngân sách từ các khoản phí, lệ phí
- Từ kết quả hoạt động sản xuất kinh tế của Nhà nước: thu hồi vốn, thu
hồi tiền vay, thu nhập từ vốn góp)
- Thu từ mở rộng cung tiền.
- Vay nợ
- Các khoản thu từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân
- Các khoản thu khác
3.2. Chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước là việc chi tiêu của nhà nước cho các mục tiêu
công theo những định hướng nhất định.
Là việc phân chia và sử dụng quĩ NSNN nhằm thực hiện các chức năng
của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Các khoản chi bao gồm:
- Chi thường xuyên
- Chi đầu tư phát triển
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status