Triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích việt nam và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng con người mới hiện nay - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------

TRẦN THỊ HOA

TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------------

TRẦN THỊ HOA

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số

: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

được học tập, nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt, với tất cả tình cảm, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
tới GS. TS Đào Văn Dũng - Người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và hết
lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn. Thầy
đã giúp tôi tìm hiểu được nhiều tri thức mới và rèn luyện kỹ năng trong nghiên cứu
khoa học.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và
những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
luận văn của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn

Trần Thị Hoa


3

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Người Việt Nam ai cũng biết truyện cổ tích qua lời kể của bà, của mẹ, của
những bài học đã được tiếp thu qua bao thế hệ, trở thành định hướng sống cho
con người trong cuộc đời. Nó chắp cánh cho những ước mơ, đem lại cho con
người tinh thần lạc quan, niềm vui, hạnh phúc. Nó nâng đỡ cho những khát vọng
lãng mạn và cao cả, nối liền với hiện thực, trở thành hiện thực của con người.
Truyện cổ tích là một trong những thể loại chủ yếu của văn học dân gian,
nó cũng là thể loại có nhiều vấn đề khá phức tạp và phong phú. Thông qua
những sáng tạo nghệ thuật cổ tích, tác giả dân gian - những người lao động Việt
Nam và thế giới đã gửi gắm quan điểm của mình về thế giới, về con người và

Nam và triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam.
Nhóm thứ hai, vấn đề xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay
Nhóm thứ nhất: Trước hết phải kể đến sự dày công tìm hiểu và biên soạn
của tác giả Nguyễn Đổng Chi. Ông đã sưu tầm và viết lại gần 2.000 truyện cổ


6

Việt Nam. Số truyện trên được ông sử dụng để soạn bộ sách “Kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam” gồm 5 tập. Đây là bộ sách nghiên cứu được biên soạn và in
trong thời gian 25 năm (1957-1982) với tổng cộng 5 lần in bởi Nxb Khoa học xã
hội. Bộ sách là tài liệu quý báu để các nhà nghiên cứu tham khảo khi tìm hiểu về
truyện cổ tích Việt Nam [2].
Ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu đã đưa ra
nhiều vấn đề về truyện cổ tích Việt Nam.
Truyện cổ tích dưới góc độ nhân sinh quan được phản ánh trong công
trình nghiên cứu của tác giả Vũ Tố Hảo và Hà Châu,“Tư tưởng tiến bộ - Triết lý
nhân sinh thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân
gian”, Nxb Thời đại. Tác phẩm đã giới thiệu tư tưởng dân chủ tiến bộ và triết lý
nhân sinh thực tiễn của nhân dân qua văn học dân gian, truyện kể và vè trong đời
sống văn hóa dân tộc [27].
Tác giả Bùi Văn Nguyên cũng nghiên cứu truyện cổ tích ở khía cạnh
những triết lý cuộc sống trong công trình “Việt Nam truyện cổ triết lý và tình
thương” (1991), Nxb Khoa học xã hội [53]. Dưới góc độ thẩm mỹ, có công trình
nghiên cứu của tác giả Hà Châu (tháng 5/1972), “Về đặc điểm thẩm mỹ của
truyện cổ tích thần kỳ ở Việt Nam”, tạp chí Văn học [1].
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về truyện cổ tích thông qua các
câu chuyện cụ thể như công trình của Đỗ Lan Phương (2003),“Đạo giáo dân
gian Việt Nam qua biểu tượng Chử Đồng Tử”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3
(87). Qua truyện cổ tích Chử Đồng Tử, tác giả chỉ ra những giá trị triết lý của


8

Triết học, số 4, trang 8 – 11 [30]; Trần Hồng Kì (1996), “Về vấn đề xây dựng
đạo đức mới”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 4, trang 42 – 44 cũng đề cập đến
vấn đề con người mới và việc xây dựng con người mới ở Việt Nam [23]. Đây
cũng là đề tài được lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện trong Di chúc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 10-5-1969, t.12 [47]; trong văn kiện của Đảng Cộng
sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự
thật [13]; Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật [9]; Đảng Cộng sản Việt Nam
(2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước [10].
Tóm lại, có nhiều công trình nghiên cứu về truyện cổ tích Việt Nam.
Các công trình này đã nghiên cứu sâu các vấn đề: nội dung, kết cấu, sưu tầm,
nhân vật… dưới nhiều góc độ: văn học, mỹ học, giáo dục học… Đây là nguồn
tư liệu quý cho tác giả kế thừa, phát huy giá trị trong quá trình nghiên cứu về
truyện cổ tích. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn rất ít công trình tìm hiểu các triết
lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam một cách hệ thống chuyên sâu và
vận dụng nó vào xây dựng con người mới ở Việt Nam. Đây là một khoảng
trống để tác giả có thể đi sâu, làm rõ. Việc kế thừa và bổ sung, góp phần làm
rõ triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam và vận dụng trong việc xây
dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay là việc làm có ý nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu


9


duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời đề tài sử dụng những
phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương
pháp tham vấn chuyên gia, phương pháp sử học, phương pháp logic và lịch sử…
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1. Những luận điểm cơ bản
- Truyện cổ tích Việt Nam là một loại hình văn học chứa đựng triết lý
nhân sinh hết sức sâu sắc, nếu được khai thác sẽ góp phần tích cực vào việc xây
dựng con người mới trong xã hội hiện nay.
- Triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Việt Nam rất phong phú, song
được tập trung ở vấn đề mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con
người với cộng đồng xã hội.
10.2. Đóng góp mới của luận văn


11

Về lý luận, luận văn góp phần làm rõ hệ thống những vấn đề lý luận về nội
dung, giá trị triết lý nhân sinh hàm chứa trong truyện cổ tích Việt Nam, góp một
cái nhìn mới về sự vận dụng giá trị của nó vào việc xây dựng con người mới
trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Về thực tiễn, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy văn học dân gian, Lịch sử triết học Việt Nam, Văn hóa Việt Nam...

NỘI DUNG
Chương 1
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM – MỘT
SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

triết học đều cùng một phạm trù, đó là thế giới quan và nhân sinh quan. Nhưng
triết lý là thế giới quan kinh nghiệm nó khác với triết học là thế giới quan lý
luận” [32]. Trong bài viết “Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý” trên Tạp chí
Triết học số 3/1998, theo Hồ Sỹ Quý: “ Mặc dù ở nước ta có một số người dịch
philosophy là triết lý nhưng trong tiếng Việt, chúng ta đều biết triết lý và triết
học là các khái niệm khác nhau, dùng để biểu đạt phản ánh những đối tượng
khác nhau. Nếu như trong đời sống xã hội thuật ngữ triết học chỉ được sử dụng
như một danh từ và đôi khi được sử dụng như một tính từ, thì triết lý thường
xuyên được sử dụng với cả ba tư cách danh từ, tính từ và động từ” [60;tr.57].
Khi bàn luận về giá trị của triết lý người, ông đã chỉ ra điểm hạn chế của
triết lý so với triết học: “Nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn ở
trình độ thấp hơn về tính hệ thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc


13

giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy. Nói một cách khác, nếu
không phải là tất cả thì trong đa số các trường hợp, triết lý thường thiếu chặt chẽ
hơn, phiến diện hơn và có khả năng chứa đựng mâu thuẫn so với triết học”
[60;tr.57]. Tuy nhiên, Hồ Sĩ Quý vẫn nhấn mạnh tính độc lập của triết lý: “Triết
lý với tính cách là những định hướng cho hành động thì những khái quát đó
thường không chịu sự ràng buộc hay quy định của bất kỳ hệ thống tư tưởng nào.
Trong thành phần của mỗi triết lý, các khái niệm và các quan điểm không bắt
buộc phải tuân theo một học thuyết hay một hệ tư tưởng nào. Thật khó có thể bắt
bẻ một khái niệm trong một triết lý xem khái niệm ấy có phù hợp với một học
thuyết cụ thể nào không” [60; tr.57].
Để định nghĩa về khái niệm triết lý, Hồ Sĩ Quý cho rằng: “Triết lý có thể và
nên được hiểu là những tư tưởng, quan điểm hay quan niệm… mang tính khái
quát cao; được phản ánh một cách cô đúc dưới dạng các mệnh đề hoặc các phán
đoán thường là trau chuốt về mặt ngôn ngữ; và được sử dụng trong đời sống xã

Nói đến “nhân sinh” tức là nói đến sinh mệnh con người, đến cuộc sống
con người và cả nhân tính của con người trong xã hội. Sinh mệnh là yếu tố cơ
bản duy trì sự sinh tồn của con người. Cuộc sống ở đây là cuộc sống nội tâm và
cuộc sống ngoại tâm, nói cách khác là đời sống tinh thần và đời sống vật chất
của con người. Nhân tính giúp con người chỉ ra phương hướng hay mục đích
sống của mình, hướng về một mục tiêu nhất định. Nghiên cứu về vấn đề nhân
sinh tức là đi nghiên cứu về bản chất của mỗi con người thể hiện như thế nào
trong cuộc sống, mục đích, thái độ, hành vi của đời sống con người.
Về bản chất, vấn đề nhân sinh là cốt lõi nội tại của triết học. Mọi hoạt
động triết học từ các cấp độ khác nhau, trong các mức liên ngành, lý thuyết hay


15

ứng dụng triết học đều phản ánh một khát vọng chung nhất của con người là
mưu cầu một cuộc sống hoàn thiện hơn, tốt hơn, hạnh phúc hơn (Chân, Thiện,
Mỹ) trên cơ sở hiểu biết sâu sắc hơn về mục đích, giá trị, hoàn cảnh cuộc sống
cũng như khả năng và giới hạn của các kỹ thuật và phương thức sống (tư duy và
hành động) của chính con người.
Trong cuốn “Lịch sử triết học”, Trần Đăng Sinh cho rằng, tư tưởng về
nhân sinh bao gồm những vấn đề cơ bản như: bản chất của con người, đạo làm
người, đường lối trị nước, mối quan hệ giữa “trị” và “loạn”, mối quan hệ giữa
vua và quan, mối quan hệ giữa vua và dân, vấn đề sử dụng nhân tài … được đặc
biệt chú trọng trong tư tưởng triết học Việt Nam. Mặc dù chịu ảnh hưởng khá
nhiều của tư tưởng “Tam cương” “Ngũ thường” của Nho giáo nhưng nhân sinh
quan của người Việt vẫn mang trong mình những nét riêng không pha trộn. Sự
gia trưởng và quan niệm nam tôn nữ ti không làm mất đi sự trân trọng đối với
người phụ nữ trong đời sống xã hội [62; tr. 55].
Như vậy, qua sự phân tích về triết lý và nhân sinh, có thể hiểu triết lý nhân sinh
là hệ thống những tư tưởng, quan niệm, cách nhìn nhận của con người về ý

Nhân sinh quan là cách nhìn nhận đời sống, công tác, xã hội, lịch sử, dựa
theo lợi ích của giai cấp mình. Có nhiều loại nhân sinh quan, chẳng hạn như:
Nhân sinh quan cách mạng: nhân sinh quan của giai cấp công nhân đấu
tranh để cải tạo xã hội.
Nhân sinh quan cộng sản: nhân sinh quan của những người cộng sản đấu
tranh để thực hiện chủ nghĩa cộng sản, đầy lòng tin tưởng ở tương lai tốt đẹp của
loài người và sẵn sàng hi sinh chiến đấu cho tương lai ấy.


17

Nhân sinh quan tôn giáo: nhân sinh quan của các tôn giáo khác nhau mang
đặc điểm nổi bật của tôn giáo đó nhưng cũng chứa đầy tính chất duy tâm chủ
quan.
Nhân sinh quan triết học: nhân sinh quan của các trường phái triết về
những định luật diễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống của con người.
Hai là, trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan có tính giai cấp. Giai cấp
đang đi lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực, cách mạng; nhân
sinh quan của giai cấp đang suy thoái thường mang tính bi quan, yếm thế. Nhân
sinh quan có tác dụng lớn đến hoạt động của con người; những quan niệm về
nhân sinh quan trở thành niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng, mục tiêu cho
hoạt động của con người (lí tưởng sống). Nếu phản ánh đúng khuynh hướng
khách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp
lí; nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên.
Trong lịch sử xã hội trước đây, hoạt động của con người bị tha hóa. Từ đó
sinh ra những loại hình nhân sinh quan lạc hậu hoặc phản động, phản khoa học;
hoặc mang tính tôn giáo, chuyển ý nghĩa cuộc đời ra bên ngoài cõi đời, sang thế
giới bên kia; hoặc có xuất phát từ tính người, nhưng hiểu nó một cách trừu
tượng, định hướng hoạt động vào những nhu cầu và lợi ích cá nhân (chủ nghĩa
khoái lạc; chủ nghĩa hạnh phúc; chủ nghĩa vị lợi). Có thứ nhân sinh quan yếm

ánh hiện thực khách quan qua mỗi một giai đoạn lịch sử, là cách thể hiện quan
niệm về con người, cuộc sống, số phận… của con người một cách độc đáo, rất
Việt Nam.
1.1.2. Truyện cổ tích
1.1.2.1. Khái niệm truyện cổ tích


19

Truyện cổ tích là loại hình quan trọng, phong phú nhất của truyện tự sự
dân gian. Nó có rất nhiều thể loại, nhiều kiểu nhân vật và mỗi dạng thức đều tạo
nên sức hấp dẫn riêng biệt với đông đảo tầng lớp nhân dân. Trong ngôn ngữ của
các dân tộc trên thế giới đều có những từ riêng để chỉ truyện kể dân gian có tính
chất hoang đường, kì ảo, thể hiện quan niệm của dân gian về truyện kể và ý
nghĩa của chúng trong đời sống, sinh hoạt cộng đồng. Đến với truyện cổ tích
người ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp kì ảo phong phú đầy tính bất ngờ của
chúng, tính lạc quan yêu đời, tràn đầy ước mơ bay bổng và trí tuệ sâu sắc của
nhân dân. Do đó, truyện cổ tích xứng đáng trở thành đối tượng quan tâm tìm
hiểu của nhiều nhà nghiên cứu.
Chính vì sự quen thuộc của truyện cổ tích đối với mỗi chúng ta cho nên
việc định nghĩa nó càng trở nên khó khăn. Tình hình tư liệu của truyện cổ tích rất
phức tạp, đa dạng, ranh giới của nó với các thể loại tự sự dân gian khác cũng
không thật rõ ràng (có tình trạng giao thoa với thần thoại, truyền thuyết). Vì thế,
khái niệm “truyện cổ tích” thường được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các truyện
dân gian khác. “Khi nói tới đến mấy từ truyện cổ tích, truyện đời xưa, chúng ta
thường có sẵn quan niệm rằng đấy là danh từ chung bao hàm hết thảy những loại
truyện do quần chúng vô danh sáng tác,…” [2;tr. 1]. Như vậy, khái niệm “truyện cổ
tích” bao hàm nội dung rộng lớn, thường dùng để chỉ nhiều loại truyện khác nhau
về đề tài, phương pháp sáng tác. Truyện cổ tích có thể là truyện về loài vật, về các
dũng sĩ, về người mồ côi, về người em… nhưng khác nhau về phương pháp như

nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ” [55, tr. 452].
Còn ở sách giáo khoa Văn học 10, truyện cổ tích được định nghĩa như sau:
“Truyện cổ tích là những truyện dân gian có nội dung kể lại những câu chuyện


21

tưởng tượng về một số nhân vật như dũng sĩ, nhân vật bất hạnh, nhân vật chàng
ngốc,…” [41; tr. 19].
Như vậy, khi nói về truyện cổ tích, có định nghĩa đầy đủ nhưng khá phức
tạp, có những định nghĩa ngắn gọn lại khá đơn giản. Khái quát lại, có thể hiểu
truyện cổ tích như sau: “Truyện cổ tích là loại truyện dân gian có tính phổ biến,
hình thành từ thời cổ đại, phát triển, tồn tại qua nhiều thời kì xã hội khác nhau,
gắn chặt với quá trình tan rã của công xã nguyên thủy, hình thành gia đình phụ
quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội. Nó hướng vào những vấn đề cơ bản,
những số phận, những quan hệ và xung đột có tính chất riêng tư và phổ biến
trong xã hội có giai cấp (ở Việt Nam chủ yếu là xã hội phong kiến). Nó dùng
một kiểu tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là “tưởng tượng và hư cấu cổ
tích”) kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù để phản ánh đời sống và khát
vọng của nhân dân, đáp ứng nhu cầu nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và tiêu khiển
của nhân dân” [67; tr. 63].
Phân loại truyện cổ tích:
- Truyện cổ tích thần kì: Ra đời vào thời kì đầu của xã hội có giai cấp,
truyện cổ tích thần kì tập trung vào việc nhận thức, phản ánh xung đột mới nảy
sinh trong xã hội. Đặc trưng nổi bật của loại truyện này là yếu tố kì ảo. Nhân vật
của truyện cổ tích thần kì là con người đời thường bé nhỏ, bất hạnh đại diện cho
cái thiện đối lập với những nhân vật đại diện cho cái ác.
- Truyện cổ tích loài vật: Truyện cổ tích về loài vật là một bộ phận quan
trọng của truyện kể dân gian có nguồn gốc từ thần thoại và vì thế chúng nằm
trong ranh giới giao thoa với thần thoại. Ở nước ta, những truyện cổ tích loài vật


23

- Không gian nghệ thuật
Theo tác giả Lê Trường Phát, trên cơ sở xét về phương diện bản thể,
không gian cổ tích thần kì có hai dạng: “Không gian cuộc sống trần thế và
không gian kì ảo phi trần thế. Không gian cuộc sống trần thế chủ yếu là không
gian làng quê. Có thể có không gian cung đình trong Tấm Cám, không gian đảo
hoang trong Sọ Dừa, không gian biển cùng với đảo vàng trong Cây khế nhưng
về cơ bản vẫn là không gian làng quê nơi nhân vật sinh ra và sống phần lớn
cuộc đời của mình. Không gian Thiên phủ (cõi tiên, thiên đình) trong truyện Từ
Thức lấy vợ tiên, không gian Âm phủ trong Sự tích sông Nhà Bè, không gian
Thủy phủ (cõi nước) trong Người thợ mộc Thanh Hoa” [56; tr. 44]. Tuy nhiên
loại không gian kì ảo ít xuất hiện trong truyện cổ tích, phần lớn là không gian đời
thường, không gian sinh hoạt, chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình.
Không gian cổ tích bao quanh hoạt động của nhân vật chính và là không
gian khép kín, không gian chỉ tồn tại xung quanh nhân vật chính mà thôi. Không
gian cổ tích khó xác định phạm vi, địa điểm, đặc điểm. Truyện nào cũng có một
không gian gần giống nhau mà ta có thể bắt gặp trong một truyện cổ tích khác.
Không gian tự nhiên và không gian xã hội kết hợp với nhau tạo nên một
“thế giới cổ tích” độc đáo. Phần không gian sinh hoạt xã hội cho thấy hơi thở
nhân sinh, còn phần không gian tự nhiên lại mở ra cho người nghe một không
gian bao la cho trí tưởng tượng vỗ cánh. Kết quả là người nghe kể chuyện cổ tích
đều bị cuốn hút vào thế giới cổ tích cho dù đó là người lớn hay trẻ em.
- Thời gian nghệ thuật
Thời gian trong truyện cổ tích luôn là thời gian quá khứ vĩnh hằng, không
bao giờ thay đổi. Thời gian không thể xác định bằng năm tháng. Thời gian trong
cổ tích không gián đoạn mà diễn biến theo hành động nhân vật. Các từ chỉ thời



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status