TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC QUẢN LÝ XÃ HỘI BẰNG PHÁP LUẬT - Pdf 27


TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC
QUẢN LÝ XÃ HỘI BẰNG PHÁP LUẬT

HV: Trần Ngọc Huy
MSHV: CH1301027
8/2014

Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Trường Đại học Công Nghệ Thông Tin
Mục lục
1
Phần mở đầu 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3.Mục đích và nhiệm vụ 1
4.Phương pháp nghiên cứu 2
5.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 2
6.Kết cấu tiểu luận 2
Nội dung 3
1.Nội dung tư tưởng pháp trị của phái pháp gia 3
1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng pháp gia: 3
1.2.Nội dung cơ bản tư tưởng pháp trị của phái Pháp gia 7
2.Ý nghĩa của thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử trong việc quản lý xã hội
bằng pháp luật 12
2.1.Hoạt động của nhà nước không được vi phạm nội dung hiến pháp
và pháp luật 12
2.2.Pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh, chí công vô tư, phải

nghiên cứu và dịch thuật về việc xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật và
phương thức quản lý xã hội bằng pháp luật thông qua việc nghiên cứu và kế thừa
tinh hoa di sản tư tưởng và học thuyết chính trị - xã hội của nhân loại trong đó có
các nghiên cứu về thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều đã làm rõ lên được những ưu
điểm của các tư tưởng pháp trị trong việc quản lý xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ
Tiểu luận này có mục đích nghiên cứu những nội dung cơ bản trong thuyết
Pháp trị của Hàn Phi Tử và ý nghĩa của nó đối với việc quản lý xã hội bằng pháp
luật ở Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, tiểu luận có nhiệm vụ:
1
- Trình bày những nội dung cơ bản trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi
Tử.
- Làm sáng tỏ giá trị lịch sử của thuyết Pháp trị đối với việc quản lý
xã hội bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay ở Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu nội dung thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử
(một học thuyết chính trị – xã hội nổi bật trong xã hội Trung Quốc thời kỳ cổ đại)
thông qua bộ Hàn Phi Tử.
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tiểu luận sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phân tích, tổng hợp, lôgic,… trong quá
trình giải quyết các vấn đề nêu ra.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Những kết quả đạt được trong tiểu luận là sự bổ sung cho quá trình
nghiên cứu về thuyết pháp trị.
Tiểu luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo khi nghiên các đề tài khoa
học có liên quan.
6. Kết cấu tiểu luận

nước bằng pháp luật. Đóng góp của Quản Trọng về tư tưởng hình pháp có 3 điểm:
*Yêu cầu chung của phương pháp trị nước:
3
- Tôn quân: tôn quân không phải vì vua hiền mà vì vua là người đặt ra pháp
luật, vua có quyền quyết định sự sống chết của dân, nếu không tôn quân thì nước
sẽ không yên.
- Yêu dân không phải là vì dân mà là vì vua. Bởi vì nếu yêu dân, dân sẽ qui
thuận đông, tuân theo lời vua như vậy vua sẽ mạnh và sẽ cai trị được thiên hạ.
*Trong phương pháp trị nước Quản Trọng đề cao “luật, lệnh, hình, chính”
- Luật: để phân phận sự cho dân, để cho dân không tranh giành nhau nữa
- Lệnh: để dân biết việc mà làm
- Hình: trừ trị những kẻ làm trái luật và lệnh
Quản Trọng đưa ra mấy cách trừ trị: một tội chết, hai tội bị đày có thời hạn, ba
tội giam, bốn tội đày không thời hạn, năm phạt tiền
- Chính: là để sửa cho dân theo đường ngay lẻ phải.
*Các nguyên tắc trong hành pháp và lập pháp: bên cạnh yêu cầu chung của
phương pháp trị nước bằng “luật lệnh, hình, chính” Quản Trọng còn đưa ra năm
nguyên tắc hành pháp và lập pháp như sau:
- Luật pháp phải rõ ràng, minh bạch tùy theo thiên thời địa lợi, nhân hòa;
- Phải dạy cho dân hiểu rõ pháp luật rồi mới thi hành;
- Thủ tín: pháp luật phải nghiêm minh đối với người trên kẻ dưới;
- Không được tư lợi, mọi người phải công bằng trước pháp luật
- Lệnh trong hình pháp quý hơn châu báo, xã tắc quý hơn người thân, vi trọng
quý hơn tước lộc, không vì vua muốn mà thay đổi lệnh.
Tóm lại Quản Trọng là người đưa ra tư tưởng về luật pháp, cụ thể ông đưa ra
các yêu cầu về phương pháp trị nước. Đồng thời đưa ra các nguyên tắc hành pháp
và lập pháp. Đó là những tư tưởng đóng góp đầu tiên về tư tưởng hành pháp trong
lịch sử triết học Trung Quốc bên cạnh những tư tưởng nhà Chu.
Sau Quản Trọng phải kể đến Thân Bất Hại (401-337 TCN), là người nước
Trịnh chuyên học về hình danh, làm quan đến bậc tướng quốc. Thân Bất Hại đưa

khắc đối hình phạt đã ban ra chủ trương chỉ có phạt không có thưởng. Vì việc thực
5
hiện luật là bổn phận công dân. Ngoài cải cách về luật pháp ông còn đưa ra cải
cách về kinh tế. chính nhờ cải cách về luật pháp và kinh tế làm nước Tần từ nước
yếu trở thành nước mạnh thôn tính bảy nước còn lại thống nất đất nước Trung
Quốc thiết lập thành công nhà nước Trung ương tập quyền.
Về kinh tế ông đưa ra những cải cách như sau:
- Ông xóa bỏ chế độ công hữu vê ruộng đất công xã nông thôn, thừa nhận
chế độ tư hữu về ruông đất, cho tư do mua bán ruộng đất khuyến khích khai hoang
phát triển sản xuất nông nghiệp nhà nước trực tiếp thu thuế, tô của nông dân.
- Lập ra hộ tịch: lệnh cho bá tính cứ năm nhà lập thành một ngũ, hai ngũ
lập thành thập, để trong coi lẫn nhau nếu có kẻ gian thì tố cáo, giết kẻ loạn thì
được thưởng như nhau, nếu giấu thì phạt như nhau, một nhà giấu thì chín nhà kia
chịu vạ lây, nhà có hai tráng đinh phải ở riêng để phát triển sức lao động nếu
không ở riêng thì đóng thuế gấp đôi.
- Khuyến khích nông dân cày cấy, nuôi tằm dệt vải kéo tơ, nhà nào sản xuất
ra nhiều được miễn lưu dịch, bỏ ruộng đất đi buôn làm gia đình nghèo khổ thì bị
bắt làm nô lệ.
- Xóa các đặc quyền, đặt lợi của giai cấp quý tộc đặc ra các tước quân, bất
cứ ai có quân công thì được ban tước vị, được cấp đất, công càng to thì chức vị
càng cao. Tùy theo chức vị cao thấp mà chiếm được nhiều ruộng đất và nô lệ.
- Hợp nhất nhiều làng thành phủ huyện, đặt ra tước huyện lệnh để cai trị, tổ
chức lại hệ thống hành chính, thống nhất các đơn vị đo lường.
Tư tưởng cải cách của Thương Ưởng bị giai cấp quý tộc phản đối nhưng
được nhà vua ủng hộ nên hiệu quả cải cách rất là cao. Nhờ đó nước Tần trở nên
hùng mạnh, thống nhất được đất nước Trung Hoa.
Cuối cùng phải kể đến Hàn Phi (280-233 TCN) là công tử nước Hàn. Phi
cùng với Lý Tư theo học Tuân Tử. Hấp thụ tư tưởng của người thầy Tuân Tử, Hàn
Phi cho rằng tính người là ác nhưng ông không chủ trương dùng đạo đức để đưa
con người về chính đạo như thầy, mà chủ trương dùng hình pháp. Ông là người có

1- Pháp luật phải hợp thời;
2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ thi hành;
3- Pháp luật phải công bằng;
4- Pháp luật có tính cách phổ biến.
Với Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh
phận, phải trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một
mối, đều lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
Cùng với "Pháp", "Thế", là yếu tố không thể thiếu được trong pháp trị.
Pháp gia cho rằng muốn có luật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt đối tôn
trọng thi hành thì nhà vua phải có "Thế". Trọng Thế tức trọng sự cưỡng chế, cho
nên chủ trương:
1- Chủ quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào một người là
vua;
2- Vua phải được tôn kính tuân theo triệt để: dân không được quyền làm
cách mạng, không được trái ý vua, vua bắt chết thì phải chết, không chết tức là bất
trung. Điều này gần với tư tưởng Trung quân của Nho gia, Hàn Phi chê việc vua
Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn là trái đạo quân thần, ý này trái hẳn chủ
trương của Khổng.
3- Đưa sự thưởng phạt lên hàng quốc sách vì thưởng và phạt là phương tiện
hiệu nghiệm nhất để cưỡng chế. Muốn trị nước thì vua chỉ cần dùng thưởng phạt
chứ không cần dùng giáo hóa, lễ nhạc.
Hàn Phi cho cách thưởng phạt là mầm trị hay loạn của quốc gia, trong đó
dựa theo nguyên tắc: Thưởng thì phải tín, phạt thì phải tất; Thưởng thì phải trọng
hậu, phạt thì phải nặng; Sự thưởng phạt phải theo đúng phép nước, chí công vô tư;
Vua phải nắm hết quyền thưởng phạt.
"Thế" có vị trí quan trọng đến mức có thể thay thế được hiền nhân: "Chỉ có
bậc hiền trí không đủ trị dân, mà địa vị quyền thế lại đủ đóng vai trò của bậc hiền
vậy Kiệt làm thiên tử chế ngự được thiên hạ không phải vì hiền mà vì có quyền
8
thế. Nghiêu thất phu không trị nổi ba nhà không phải vì không hiền mà vì địa vị

Nếu dùng những cách đó mà vẫn không cảm hóa được họ thì phải trừ họ,
bằng cách mượn tay kẻ thù của họ hoặc đầu độc để mình không bị thương tổn
danh tiếng. Nhưng cách tốt nhất là không nên dùng để khỏi phải đề phòng họ. Hàn
Phi cho biết một số hạng người không nên dùng: hạng người coi khinh tước lộc,
dễ dàng bỏ chức vụ mà đi nơi khác; hạng đặt lời giả dối trái pháp luật; hạng người
lánh đời, ở ẩn, chê bai vua; hạng vì tư lời mà làm thân các chư hầu; hạng vì người
thân quen mà làm việc riêng tư… Tuy nhiên Hàn Phi cũng cho rằng có kẻ rất tài
giỏi lại là gian thần, nếu vua có thuật để khống chế họ thì vẫn có thể dùng
"Thuật" còn thể hiện trong "thuật dùng người". Quy tắc cơ bản của thuật
dùng người theo Pháp gia là thuyết Hình danh. Thuyết này là Pháp gia kế thừa từ
Khổng Tử, và Phái Danh gia. Nhưng Hàn Phi có óc thực tế, không bàn về tri thức
luận mà đem học thuyết của Nho gia vào chính trị, ông chỉ thu hẹp vào việc dùng
người, gạt bỏ những vấn đề về đạo đức, luân lí. Ông không nói đến "Chính danh",
mà chỉ nói đến "Hình danh", hay là "Thực danh". Danh và hình phải hợp nhau. Ví
như một người hứa đến thăm ta, lời hứa đó là "Danh" và hành động tới thăm là
"Hình" hay "Thực" vậy. Nếu người đó đến thăm thực thì chứng tỏ danh và hình
hợp nhau, nếu không thì chỉ có danh mà không có hình hay không có thực. Nếu
pháp luật là danh thì sự việc là hình, sự việc hợp pháp luật thì danh và thực hợp
nhau. Nếu quan vị là danh thì chức vụ là hình, chức vụ không hợp với quan vị thì
danh và hình không hợp nhau. Hàn Phi cho quy tắc hình và danh hợp nhau là quan
trọng nhất trong việc trị quan lại, nếu không theo thì sao có thể phân biệt được kẻ
hay người dở, người giỏi kẻ gian, khó thưởng phạt đúng được, như vậy nước khó
mà trị được. Muốn dùng quy tắc hình danh hợp nhau để thu phục bề tôi thì vua
phải tự mình kiểm xét xem có chính đáng không, vì nếu chỉ nghe lời giới thiệu thì
có thể người giới thiệu hoặc vì tư lợi hoặc vì tình riêng hoặc vì bè phái mà đề cử
kẻ bất tài hay gian thần. Để không bị lừa gạt thì phải thận trọng, tham bác ý kiến
nhiều người, rồi đích thân xét tài đức, sau đến mới giao việc. Hàn Phi không chỉ
đưa ra cách xét người, mà còn chỉ ra phương pháp “Thỉnh ngôn”, “Tham nghiệm”,
10
và “Thí chi giao chức”. Thính ngôn tức phương pháp nghe, là: khi bề tôi nói thì

việc quản lý xã hội bằng pháp luật
2.1. Hoạt động của nhà nước không được vi phạm nội dung
hiến pháp và pháp luật
Đây cũng chính là những yêu cầu của nhà nước pháp quyền. Trong việc
xây dựng nhà nước Việt nam hiện nay, những tư tưởng đó rất có ý nghĩa.
Trong nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động của nhà nước phải dựa trên các
quy định của pháp luật. Pháp luật do nhà nước đặt ra nhưng chính nhà nước
cũng phải quản lý xã hội theo pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi việc tổ
chức và thực thi quyền lực nhà nước phải dựa trên nền tảng pháp lý. Pháp luật
là cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai, mọi chủ thể trong xã
hội trong đó có cả những cơ quan nhà nước bất kê cương vị nào đều phải tuân
theo pháp luật. Mọi đường lối, chính sách và quyết định của nhà nước đều phải
dựa trên cơ sở của pháp luật. Đó chính là yêu cầu về tính hợp pháp trong hoạt
động của chính quyền trong nhà nước pháp quyền.
Nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là khẳng định cội nguồn
quyền lực nhà nước là ở nhân dân. Để bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân chứ không phải nhân dân là của
nhà nước, Nhà nước pháp quyền đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ chức
và hoạt động của nhà nước, nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho
phép, còn nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm, pháp luật
bảo đảm cho sự phát triển tự do tối đa của nhân dân. Vai trò của pháp luật
trong việc xây dựng và duy trì một xã hội trật tự ổn định, trong đó không chỉ
mỗi công dân, mỗi cá nhân, mà bản thân nhà nước và những người đứng đầu
chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật đã được khẳng định.
12
2.2. Pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh, chí công vô
tư, phải đảm bảo tính khách quan, thống nhất, minh bạch và
công bằng
Tư tưởng pháp trị đề cao vai trò pháp luật trong quản lý nhà nước, “Thế”
phải được thực thi trên cơ sở của pháp, tức là nhà nước phải hoạt động dựa trên cơ

pháp luật ban hành không phù hợp với thực tiễn nên thiếu khả năng đi vào cuộc
sống; một văn bản pháp luật vừa ban hành đã có những điều khoản phải sửa đổi.
Cho nên vấn đề đặt ra là việc ban hành mới hay sửa đổi các văn bản pháp luật phải
phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Điều này đòi hỏi việc ban hành các quy định pháp
luật phải có sự hiểu biết đầy đủ về thực tiễn khách quan. Các kế hoạch ban hành
văn bản pháp luật phải dựa vào những thông số về thực tiễn của vấn đề cần điều
chỉnh bằng pháp luật. Pháp luật được ban hành phù hợp với nhu cầu thực tiễn
khách quan mới có thể đảm bảo cho khả năng thực thi cao và sức sống lâu dài của
các văn bản pháp luật, sự an toàn pháp lý của xã hội. Đối với những văn bản pháp
luật vấp phải những khúc mắc khi thực hiện trong thực tiễn thì nên sửa đổi.
Pháp luật phải thống nhất. Pháp luật phải được hiểu và áp dụng thống nhất
trên toàn lãnh thổ, không thể mỗi nơi áp dụng một kiểu. Sự thống nhất của pháp
luật không chỉ là trong sự áp dụng pháp luật mà trong cấu trúc nội tại của pháp
luật.
Tính thống nhất của pháp luật của Việt nam hiên nay chưa thực sự đảm
bảo. Việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung qua các văn bản pháp luật của các cấp
chính quyền nhiều khi dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất trong
pháp luật. Văn bản của ngành này lại phủ nhận văn bản của ngành kia.
Trong pháp luật kinh doanh Việt Nam hiện nay tính không nhất quán có thể
nhận thấy rất rõ : mỗi loại hình doanh nghiệp có một loại luật, mỗi loại hợp đồng
có một loại luật, mỗi cách giải quyết tranh chấp kinh doanh có một loại luật và
giữa chúng không có quan hệ gì. Khi một người kinh doanh giao dịch trên thị
trường, họ cần nhiều pháp luật về hợp đồng khác nhau và bối rối không biết dùng
hợp đồng nào cho đúng ( kinh tế, dân sự, thương mại…). Sự thiếu nhất quán làm
14
cho văn bản pháp riêng trở nên manh mún, chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau. Đã đến
lúc cần xây dựng lại nền tảng dân luật, để từ đó xây dựng các luật riêng. Pháp luật
phải có tính cố định. Nói cách khác hơn, pháp luật phải có tính ổn định lâu dài.
Điều này có ý nghĩa đảm bảo sự ổn định của các quan hệ pháp luật. Pháp luật
không nên thay đổi quá nhiều.

bản thân vốn có của pháp luật. Một khi pháp luật là công cụ để chính quyền áp
bức nhân dân, tham nhũng, vơ vét của cải nhân dân, của nước thì đó không phải
pháp luật đúng với bản chất của nó, đó không là pháp luật chân chính. Pháp luật
phải là công cụ của mọi chủ thể trong xã hội chứ không chỉ đơn thuần là công cụ
của nhà nước. Pháp luật là công cụ tốt nhất được mọi chủ thể trong xã hội tin
tưởng, trở thành lá chắn quan trọng có tác dụng bảo vệ mọi chủ thể. Một khi nhà
nước của chúng ta là nhà nước của dân do dân, vì dân thì pháp luật của chúng ta
cũng phải là pháp luật của dân do dân vì dân.
Tính công bằng pháp luật rất cần thiết cho các doanh nghiệp. Trong giai
đoạn hiện nay, pháp luật về kinh doanh của chúng ta nhiều khi chưa thực sự công
bằng với các thành phần kinh tế. Do đó các doanh nghiệp thiếu một môi trường
bình đẳng cho hoạt động của mình. Họ rất cần đến pháp luật để tạo ra một sân chơi
bình đẳng. Pháp luật phải tạo ra một hành lang pháp lý công bằng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Trong hoạt động xét xử của tòa án phải đảm bảo nguyên tắc hiến định “mọi
công dân đều phải bình đẳng trước pháp luật”. Thực hiện sự bình đẳng của pháp
luật, phải xử những quan chức nhà nước phạm tội. Mọi vi phạm đều phải được xử
lý theo đúng pháp luật, không phân biệt đối tượng là quan hay dân. Bất cứ ai vi
phạm đều đưa ra xét xử, không được giữ lại để xử nội bộ. Để đảm bảo được điều
này, Tòa án phải xét xử một cách thực sự độc lập, không thiên vị, không chịu áp
lực xã hội.
16
Kết luận
Vấn đề quản lý xã hội bằng luật pháp là một trong những chủ đề chính của
phái Pháp Gia. Điều này phát xuất từ những cơ sở nhất định của đất nước Trung
Quốc vào thời kỳ cổ đại: địa lý, tư nhiên, kinh tế chính trị xã hội. Thời Xuân Thu –
Chiến quốc là thời kỳ bách gia tranh minh, nổi lên nhiều nguồn tư tưởng khác
nhau với nhiều nhà triết học xuất sắc. Mỗi một học phái đều đưa ra những giải
pháp của mình cho vấn đề quản lý nhà nước: nhân trị của Nho gia, kiêm ái của
Mặc gia, vô vi của Đạo gia…Trong bối cảnh đó, tư tưởng Pháp trị của Pháp gia,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status