1
Tiểu luận
Nội dung: T tởng về con ngời trong các trào lu triết học ý nghĩa và
giá trị hiện thực của nó đối với việc xây dựng và phát huy nhân tố con ngời
ở nớc ta hiện nay.
I. những t tởng cơ bản về con ngời trong các trào lu triết
học.
T tởng về con ngời và giải phóng con ngời là một trong những nội dung cơ
bản mà các trào lu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đều tập trung giải
quyết. Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó đợc đặt ra và giải quyết trong
những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế giới quan và nhân sinh
quan của các nhà triết học.
Thời cổ đại, sản xuất cha phát triển, con ngời sống chủ yếu phụ thuộc vào
tự nhiên, săn bắt, hái lợm. Do vậy, mặc dù trong giải quyết những vấn đề thuộc
về bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan có đứng trên lập trờng thế giới
quan duy vật và biện chứng, nhng còn sơ khai, chất phác, nặng về đời sống tâm
linh. Chẳng hạn, các nhà triết học ấn Độ thờng tập trung vào việc lý giải những
vấn đề then chốt nhất - đó là vấn đề bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc
nỗi khổ của con ngời và con đờng, cách thức giải thoát cho con ngời khỏi bể khổ
của cuộc đời. Mục đích, nhiệm vụ của các trờng phái triết học ấn Độ cổ đại là
giải thoát.T tởng này luôn biến đổi và phát triển với đời sống xã hội, từ thời Vêđa
đến Brahman và phát triển trong triết lý Upanisad. Mỗi trờng phái có nôi dung
triết lý, khuynh hớng giáo lý và quan điểm đạo đức nhân tính khác nhau. Song có
thể nói tất cả nh một cuộc hành trình của con ngời tìm kiếm, phát hiện và trở về
với bản chất và lơng tâm của chính mình khi mà con ngời còn vô minh, tham dục
và lãng quên nó. Cách thức và con đờng giải thoát của kinh Vêđa là luôn tôn thờ
và cầu xin sự phù hộ của các đấng thần linh, còn kinh Upanisad là đồng nhất
giữa linh hồn mình với vũ trụ, giữa Atman với Brahman. Trong hệ thống không
chính thống, Jaina chủ trơng tu luyện đạo đức bằng phơng pháp khổ tu, không
sát sinh, không ăn cắp, không nói dối không dâm dục, không tham lam. Đỉnh
cũng không vợt qua khỏi vòng luân lý của đạo và trời.
Khi xác định vị trí, vai trò của con ngời trong mối quan hệ với trời, đất,
con ngời và vạn vật, Lão Tử cho rằng bốn yếu tố đó quan hệ tơng đồng lẫn nhau.
Nhng đối với Nho giáo, con ngời đợc đặt lên vị trí cao nhất. Con ngời do trời
sinh ra nhng sau đó con ngời cùng với trời, đất là ba ngôi tiêu biểu cho tất cả mọi
vật trong thế giới vật chất và tinh thần Trời, đất, Ngời là tam tài.
Khi bàn tới quan hệ giữa trời với ngời, các nhà duy tâm cho rằng có mệnh
trời và mệnh trời chi phối cuộc sống xã hội của con ngời, cuộc đời của mỗi con
ngời. Các triết gia tiến bộ cho rằng trời là gốc của con ngời, họ coi trời với ngời
là một, do đó đa ra chủ trơng thiên nhân hợp nhất. Tuy nhiên, trong quan hệ
với trời, con ngời phải theo trời, con ngời phải lấy phép tắc của trời làm mẫu
mực, coi thiên đạo là nhân đạo, ngời đời ăn ở phải hợp với đạo trời.
Khi bàn tới bản tính con ngời, Khổng Tử cho rằng tính mỗi con ngời là
gần nhau, do tập tành và thói quen mới hoá ra xa nhau. Từ quan điểm này ngời
ta suy luận tranh cãi đa ra nhiều thuyết khác nhau. Mạng Tử cho răng bản tính
con ngời là thiện, còn Tuân Tử cho rằng bản tính con ngời là ác. Cáo Tử cho rằng
3
bản tính con ngời không thiện cũng không ác. Còn Vơng Sung cho rằng bản tính
con ngời có thiện có ác. Song, nổi bật trong các quan điểm trên là thuyết tính
thiện của Mạnh Tử và thuyết tính ác của Tuân Tử. Mạnh Tử khẳng định bản tính
con ngời vốn là thiện, không một ngời nào sinh ra mà tự nhiên bất thiện. Ông
còn nói thêm. sự khác nhau giữa con ngời với con vật là ở chỗ trong mỗi con ngời đều có phần quý trọng và phần bỉ tiện, có phần cao đại và phần thấp hèn, bé
nhỏ. Chính phần quý trọng, cao đại mới là tính ngời, mới là cái khác giữa ngời
và cầm thú. ý nghĩa tích cực thuyết tính thiện của Mạnh Tử là ở chỗ biết phát
huy, làm cho phần tốt trong con ngời ngày càng phát triển, còn phần xấu thì ngày
càng thu hẹp lại. Còn Tuân Tử cho rằng tính con ngời, sinh ra là hiếu lợi, thuận
theo tính đó dẫn đến tranh đoạt lẫn nhau nên không có từ nhợng; sinh ra là đố
kỵ, thuận theo tính đó không có lòng trung tín; sinh ra là ham muốn, thuận theo
thế giới quan duy vật sau này. Trong đó, t tởng về con ngời có mặt tiến bộ.
Chẳng hạn, Đêmôcrít cho rằng con ngời và linh hồn của con ngời đợc cấu tạo từ
nguyên tử và khoảng không. Con ngời, theo ông là động vật có khả năng học, có
cảm giác, năng động; linh hồn con ngời là tổng thể các nguyên tử và là cơ sở của
mọi hoạt động cũng nh sức sống của con ngời. Đêmôcrít có quan điểm duy vật
về cảm giác. Ông cho rằng, cảm giác dễ chịu là tiêu chuẩn của điều tốt, ngợc lại,
cảm giác khó chịu gây nên sự đau khổ, là tiêu chuẩn của điều xấu. Vì thế, con
ngời tìm những cảm giác dễ chịu và tránh những cảm giác khó chịu, cũng có
nghĩa là con ngời vợt tới điều thiện và tránh điều ác. Đêmôcrít cho rằng sự hoàn
thiện đạo đức là có thể có đợc nhng phải dới sự chỉ đạo của lý trí. Lý trí hớng
con ngời vào mục tiêu đúng đắn. Do vậy phải thờng xuyên trau dồi lý trí và tiếp
thu những quy luật của tự nhiên, quy luật hành động của con ngời. Ông cho rằng
con ngời hành động không đúng là do không hiểu đợc cái đúng. Cho nên, theo
ông, xét cho cùng vấn đề trau dồi đạo đức là vấn đề làm sao cho con ngời đạt đợc
những tri thức cần thiết. Tuy nhiên, điều hạn chế của ông là không chỉ ra đợc tiêu
chuẩn của đúng và không đúng, tốt và xấuĐây là chỗ trống mà chủ nghĩa duy
tâm thờng tấn công. Arixtốt không trực tiếp bàn đến vấn đề con ngời, mà chỉ tập
trung đề cập về đạo đức con ngời. Ông cho rằng không phải hy vọng vào Thợng
đế áp đặt để có ngời công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện ra nhu
cầu trên trái đất, phát triển những quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên đợc
con ngời hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Ông coi đạo đức có liên quan mật
thiết với chính trị. Arixtốt xác định cái gì phục vụ đợc cho nhà nớc và củng cố
trật tự đang tồn tại, cái đó là phẩm hạnh. Để có đợc phẩm hạnh, con ngời phải
thông qua hoạt động thực tiễn. Trong đạo đức của Arixtốt, phạm trù chính nghĩa
đứng ở vị trí trung tâm. Ông cho rằng con ngời chỉ có thể đạt đợc chính nghĩa
trong quan hệ với ngời khác, cho nên trong thực hành chính nghĩa, con ngời tự
thể hiện mình trớc hết nh một thực thể chính trị, xã hội. Hạnh phúc của con ngời
là điều thiện, luôn gắn với nhận thức, ớc vọng và sự tiến bộ. Êpiquya đem triết
học giải phóng tinh thần con ngời và đối lập với tôn giáo. Ông cho rằng những
yêu cầu, quyền lợi và khát vọng của con ngời phản ánh bản chất con ngời. Do
kiện phát triển cá nhân.
Bớc sang thời trung cổ, là thời kỳ hình thành và phát triển phơng thức sản
xuất phong kiến. Trong xã hôi phong kiến, trình độ sản xuất còn thấp kém, chủ
yếu là sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc, khép kín. Giai cấp địa chủ nắm quyền tổ
chức, quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm. Đạo cơ đốc đóng vai trò là hệ t tởng của xã hôi. Giáo lý của nó đợc coi nh nguyên lý chính trị của xã hội phong
kiến, trong đó kinh thánh đợc xem là luật lệ, nhà trơng trong tay thầy tu, giáo hội
độc quyền chi phối văn hoá. Thời kỳ này, triết học phát triển yếu ớt và có sự thụt
lùi so với thời kỳ cổ đại. Triết học chủ yếu phục vụ tôn giáo và chịu sự kìm kẹp
của t tởng thần học. Từ đó triết học kinh viện ra đời và trở thành đầy tớ của thần
học. Do vậy, t tởng về con ngời có nhiều điểm hạn chế, chủ yếu là nằm dới cái
vỏ bộc của thần thánh.Con ngời vừa chịu sự bóc lột của các lãnh chúa và chịu sự
mê muội của tôn giáo. Họ coi con ngời nh là một sinh vật thụ động, chỉ biết thờ
phụng chúa, khát khao hạnh phúc mơ hồ, viển vông trong tuyệt vọng. Ôguýxtanh
6
cho rằng, trên tràn thế nơi con ngời và loài ngời đang sống, vơng quốc của
điều ác là nhà nớc, vơng quốc của Thợng đế là nhà thờ. Ông là ngời luôn bảo vệ
sự bất bình đẳng xã hội và cho rằng Thợng đế có quyền ban thởng cho ngời này
đợc sớng và bắt ngời kia phải khổ. Do vậy, ông khuyên ngời nghèo chỉ nên yêu
cái không lấy đợc, không nên yêu của cải, chỉ nên yêu Thợng đế, vì cuộc sống
những năm tháng ở trần gian là tạm bợ, là quỷ sứ, còn thiên đàng mới là hạnh
phúc. Tômát Đacanh lại ca ngợi chế độ bất bình đẳng và trật tự đẳng cấp trong
xã hội. Ông cho rằng chính quyền của vua chúa là do Thợng đế sáng tạo ra. Dân
phải phục tùng vua, vua phải phục tùng Giáo hoàng La Mã. Nh vậy cao hơn hết
là quyền lực của Thợng đế. Bêcơn là ngời dũng cảm lên án những tội lỗi của bọn
giáo sĩ và bọn phong kiến áp bức, chống lại Giáo hoàng, bênh vực quyền lợi của
nhân dân lao động. Vì những t tởng tiến bộ ấy, ông ta đã bị nhà nớc phong kiến
và Giáo hội truy nã, bị cầm tù trong nhà tù của tu viện.
Về phơng diện đạo đức, trên cơ sở xem xét con ngời một cách duy tâm
tởng con ngời chịu sự quy định của cấu trúc cơ thể trong sự tác động qua lại với
môi trờng và điều kiện sống (Lamêtri). Con ngời là một thực thể thống nhất hữu
cơ của hai mặt thể xác và linh hồn. Cơ thể của con ngời có khả năng cảm giác và
ghi nhớ. Linh hồn của con ngời là tổng thể các hiện tợng tâm lý, có đặc tính vật
chất, không có cơ thể thì linh hồn không là cái gì cả (Điđrô). Con ngời là sản
phẩm của hoàn cảnh, của xã hội nên cần thay đổi hoàn cảnh xã hội, quan hệ
phong kiến (Henvêtiúyt). Bên cạnh đó,các nhà triết học khai sáng còn cho rằng
bản tính của con ngời vốn không ác. Sở dĩ xã hội có cái ác là do sự khiếm khuyết
của các quan hệ xã hội và nền giáo dục không đúng đắn. Con ngời đợc giáo dục
đúng đắn tức là sự khai sáng. Những t tởng duy vật và tiến bộ của các nhà triết
học khai sáng đã phủ định hoàn toàn quan điểm duy tâm, tôn giáo, quan điểm
siêu hình về con ngời. Họ coi ánh sáng tự nhiên của trí tuệ là phơng pháp cơ
bản và độc lập với cuồng tín tôn giáo để nhận thức thế giới, để hoàn thiện xã hội
và đời sống xã hội. Các nhà triết học khai sáng coi đấu tranh vì những quyền lợi
mà thiên nhiên ban tặng cho mình là con ngời tự nhiên. Việc tuyên truyền cho
con ngời tự nhiên đã dẫn đến khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái. Đây thực sự
là t tởng đột phá, cởi trói con ngời khỏi xiềng xích gông cùm của tầng lớp địa
chủ phong kiến và sức mạnh thần quyền tôn giáo; là một nấc thang trong tiến
trình lịch sử phát triển của nhân loại, nó có ý nghĩa cách mạng lịch sử khá sâu
sắc. Tuy nhiên, t tởng này không triệt để, không thoát khỏi những mâu thuẫn cơ
bản vốn có trong lòng xã hội t bản, càng về sau t tởng này càng bộc lộ bản chất
phản động của nó. Bởi vì, do chế định của những điều kiện kinh tế, chính trị ,xã
hội ràng buộc họ; hơn nữa còn do hạn chế của chính bản thân các nhà triết học.
Do vậy, mặc dù thừa nhận tự nhiên, nhng họ lại diễn đạt bằng thần tự nhiên thần
luận, t tởng của họ thoả hiệp với thần quyền tôn giáo.
Kế thừa t tởng về con ngời trong lịch sử triết học nhân loại từ cổ đại đến
cận đại thế kỷ XVII XVIII, triết học cổ điển Đức thừa nhận con ngời là một
chủ thể, đồng thời lại là kết quả của quá trình hoạt động của mình. Mặt khác,
Cantơ và sau này Hêghen đều khẳng định mỗi con ngời là sản phẩm của một thời
đại lịch sử nhất định, do vậy con ngời mang bản chất xã hội. Cantơ cho rằng, với
thế giới quan không triệt để, nên con ngời trong quan niệm của Phoiơbắc là con
ngời chung chung, trừu tợng, con ngời phi lịch sử, phi giai cấp, mang những
thuộc tính sinh học, bẩm sinh. Ông chỉ thấy con ngời tự nhiên, chứ không thấy
con ngời xã hội, và càng không thấy vai trò hoạt động thực tiễn trong nhận thức
và cải tạo thế giới của con ngời.
Nh vậy, trớc những thành tựu của phơng thức sản xuất t bản, các nhà triết
học cổ điển Đức đã đề cao sức mạnh trí tuệ của con ngời, song do ảnh hởng của
phơng pháp siêu hình, sự đề cao ấy tới mức cực đoan. Cantơ và Hêghen đã thần
thánh hoá năng lực của con ngời dẫn đến duy tâm, khẳng định mọi sự vật, hiện tợng trong tự nhiên, xã hội là kết quả hoạt động của con ngời. Phoiơbắc tuy
không đề cao nh vậy, nhng lại hiểu con ngời chỉ theo nghĩa trần tục, bằng xơng,
9
bằng thịt, nên dẫn đến t duy máy móc, siêu hình. Tuy nhiên, giá trị t tởng về con
ngời trong triết học cổ điển Đức là ở chỗ nó khẳng định t duy, ý thức chỉ phát
triển trong chừng mực con ngời nhận thức và cải tạo thế giới; con ngời vừa là chủ
thể, đồng thời là kết quả hoạt động của một thời đại lịch sử nhất định.
Nh vậy, trải qua gần hai nghìn năm, với nhiều trào lu lịch sử triết học khác
nhau, nhng cha có nhà triết học nào hay trờng phái triết học nào luận giải một
cách đầy đủ và khoa học về vấn đề con ngời.
Các nhà triết học thời cổ đại coi con ngời nh là một tiểu vũ trụ. Quá trình
hình thành và phát triển của mỗi con ngời đợc gắn liền với định mệnh và số
phận. Số phận đó bị quy định bởi ý chí của tạo hoá. Còn trong hệ thống thế giới
quan tôn giáo, con ngời đợc coi nh một thực thể nhị nguyên, là sự kết hợp giữa
tinh thần và thể xác, trong đó thể xác là cái nhất thời, tinh thần mới là cái vĩnh
viễn. Các học thuyết triết học duy tâm lại tuyệt đối hoá hoạt động của đời sống
tinh thần, coi toàn bộ thế giới tinh thần nh một thực thể hoàn chỉnh. Chẳng hạn,
Hêghen cho rằng, con ngời là hiện thân của ý niệm tuyệt đối, còn Phoiơbắc lại
tuyệt đối hoá mặt sinh học của con ngời, chia cắt con ngời khỏi các quan hệ xã
hội hiện thực, con ngời chỉ là sản phẩm của giới tự nhiên.
xã hội. Còn mặt xã hội, đó là thế giới tinh thần, ý thức, các hoạt động, lao động,
sáng tạomà ở con vật không thể có. Con ngời chỉ tồn tại với t cách ngời khi
sống trong xã hội, có quan hệ với nhau, có hoạt động xã hội cho mình và đồng
loại, chịu sự tác động của quy luật xã hội. Mỗi con ngời sinh ra đều sống và đợc
nuôi dỡng trong một xã hội nhất định, nên con ngời bị quy định bởi thời đại, xã
hội mà mình đang sống. Vì vậy, bản thân xã hội sản xuất ra con ngời với tính
cách là con ngời nh thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hôi nh thế [27 tr 169]
và chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có đợc những phơng tiện để có thể phát
triển toàn diện những năng khiếu của mình [28 tr 108]. Xã hội là xã hội của
con ngời, do con ngời và vì con ngời. Điều đó có nghĩa, thông qua các quan hệ
xã hội, nh: quan hệ sản xuất, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ gia
đình, con ngời mới tồn tại, phát triển, hoàn thiện và thể hiện đợc chính mình.
Không có con ngời thì không có bất kỳ một sự phát triển nào và xã hội
phát triển đến đâu thì con ngời cũng phát triển đến đó. Sự phát triển của con ngời
là thớc đo sự phát triển của xã hội. Con ngời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển xã hội. Do đó, để phát triển con ngời cần phải phát triển xã hội và
ngợc lại, để phát triển xã hội cần phải phát triển con ngời, đó là mối quan hệ
biện chứng của quá trình phát triển lịch sử xã hội.
Khẳng định con ngời trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, nhng C.
Mác và ăngghen đã nhấn mạnh quan hệ xã hội của con ngời là quan hệ bản
chất. Trong Luận cơng về Phoiơbắc C.Mác viết: Bản chất con ngời không phải
là một cái gì trừu tợng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội [29 tr 11]. Qua luận
đề này Mác muốn nói rằng, không có con ngời trừu tợng, thoát ly mọi điều kiện,
hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con ngời luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một
điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Bản chất con ngời
không phải cái trừu tợng, mà là hiện thực, không phải là cái vốn có, có sẵn trong
mỗi cá thể riêng biệt mà là tổng hoà toàn bộ các quan hệ xã hội hiện thực của
nó; không phải là cái tự nhiên - sinh học mà là lịch sử - xã hội.
quyền con ngời mới đợc luận giải trên cơ sở khoa học. Theo C. Mác và ăngghen
quyền con ngời là nhân quyền của từng cá nhân con ngời. Trong từng thời đại
lịch sử cụ thể, quyền con ngời gắn bó chặt chẽ với những quan hệ xã hội, đặc
biệt là quan hệ sản xuất thống trị. Không có quyền con ngời chung chung, trừu tợng, siêu hình, phi giai cấp, phi dân tộc và phi nhân loại nh một số nhà t tởng đã
từng quan niệm. Mỗi con ngời bao giờ cũng tòn tại thực, họ sống và hoạt động
trong một thời đại lịch sử nhất định, một môi trờng xã hội nhất định. Vì vậy,
quyền con ngời là quyền của mỗi con ngời cụ thể, quyền đó do thể chế chính trị
12
của tng quốc gia, dân tộc, thời đại mà nó đang sống quy định. thiên nhiên
không sinh ra một bên là những ngời chủ tiền và chủ hàng hoá, còn bên kia là
những ngời chỉ làm chủ độc có sức lao động của mình. Quan hệ ấy không phải là
một quan hệ lịch sử tự nhiên, mà cũng không phải là một quan hệ chung cho
tất cả các thời kỳ lịch sử [31 tr 254]. Mỗi quốc gia, dân tộc, trong một thời
đại lịch sử nhất định, sẽ có những quy định cụ thể về quyền con ngời riêng. Sự
phát triển của xã hội thể hiện thông qua quyền con ngời sống trong xã hội đó.
Song, điều đáng lu ý ở đây là C. Mác và ăngghen xuất phát từ quyền tự do cá
nhân để nghiên cứu về quyền con ngời, việc bảo đảm và phát huy quyền tự do
của mỗi ngời nh là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi ngời
trong xã hội. Do vậy, vấn đề bảo đảm và phát triển quyền con ngời ở mỗi cá
nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó khai thác, huy động đợc động lực ở
mỗi con ngời trong xã hội. Tất nhiên, nói đến cá nhân là nói tổng thể nhu cầu và
quan hệ xã hội của mỗi cá nhân nh một nhân cách. Vì vậy, mọi nhu cầu về quyền
của cá nhân chỉ có thể đợc coi là hợp lý và đợc thoả mãn khi nó đặt trong quan
hệ với ngời khác, với cộng đồng. Chỉ có trong một cộng đồng, cá nhân mới có
điều kiện phát triển toàn diện cá nhân, và do đó mới có tự do cá nhân.
Bên cạnh quyền con ngời, C. Mác và ăngghen còn đề cập đến quyền công
dân. Theo các ông, hai khái niệm này tuy nội hàm có khác nhau, nhng thống
nhất với nhau. Trong đó, quyền công dân là những quyền chính trị, những quyền
triết học Mác nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của nhân
tố con ngời đối với sự nghiệp cách mạng, Ngời nói: Vì lợi ích mời năm trồng
cây, vì lợi ích trăm năm trồng ngời, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trớc hết
cần có những con ngời xã hội chủ nghĩa, còn cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng thì
cho rằng Cuộc chiến đấu và chiến thắng của con ngời Việt Nam trong sự nghiệp
chống Mỹ cứu nớc cũng nh trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chung
quy lại là thắng lợi của con ngời.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta nhận thức ngày càng sâu sắc
hơn vai trò nhân tố con ngời đối với sự phát triển của xã hội. ngay trong bản
chính cơng vắn tắt đầu tiên năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: mục đích tiến hành cách mạng là để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và
bọn phong kiến, giải phóng dân tộc, giải phóng những ngời cần lao khỏi ách áp
bức, bóc lột. Và cơng lĩnh còn xác định đi tới xã hội cộng sản là điều kiện thực
tế để thực hiện đợc sự giải phóng ấy. Tại Đại hội III, Đảng ta xác định con ngời
là vốn quý nhất, đến Đại hội IV, Đảng ta đã đa ra luận điểm con ngời mới
con ngời làm chủ tập thể. Đây là sự vận dụng sáng tạo và cụ thể hoá quan điểm
về quyền con ngời và quyền công dân của triết học Mác. Đại hội V, Đảng ta
tiếp tục phát triển luận điểm con ngời mới, đồng thời nhấn mạnh lòng nhân ái là
truyền thống đặc trng của nhân dân ta. Đến Đại hội VI, Đảng ta khẳng định vai
trò quan trọng của nhân tố con ngời trong toàn bộ sự phát triển kinh tế xã hội.
Đặc biệt, tại Đại hội VII, cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội đợc thông qua, trong đó, vấn đề con ngời đợc Đảng ta đặt vào
vị trí trung tâm của chiến lợc phát triển kinh tế xã hội. Cơng lĩnh xác định:
Nguồn lực lớn nhất, quý báu nhất của chúng ta là tiềm lực con ngời Việt Nam.
Hội nghị lần thứ T Ban chấp hành Trung ơng(khoá VII), nhận thức về vai trò
nhân tố con ngời của Đảng ta đợc nâng lên một tầm cao mới. Đảng ta cho rằng:
14
Sự phát triển con ngời quyết định mọi sự phát triển nh sự phát triển xã hội, phát
Xác định con ngời là động lực phát triển kinh tế xã hội, Đại hội chỉ rõ:
Nguồn lực con ngời yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tế
nhanh và bền vững [8 tr 108, 109] và Đại hội còn khẳng định động lực chủ
yếu: Động lực chủ yếu để phát triển đất nớc là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở
liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo kết hợp hài
hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực
15
của các thành phần kinh tế, của xã hội [9 tr 86]. Đại hội cũng chỉ rõ, nguồn
lực hàng đầu là năng lực trí tuệ: Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh
thần của ngời Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá [10
tr 91].
Xác định con ngời là mục tiêu của phát triển kinh tế xã hội, trên cơ sở
nhất quán những nội dung cụ thể đợc trình bày trong Nghị quyết Trung ơng 5
khoá VIII, Đại hội IX xác định: Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây dựng con ngời Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, t tởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất,
năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng
nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã
hội, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nớc, ý
chí tự lực, tự cờng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [11 tr 114].
Nh vậy, trên cơ sở nhất quán với những nội dung cụ thể đợc trình bày
trong Nghị quyết Trung ơng 5 khoá VIII, Đại hội IX nêu lên một cách khái quát
về mô hình con ngời Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó Đại hội bổ sung, làm
rõ thêm về con ngời phát triển toàn diện, có yếu tố mới nh: trí tuệ, thể chất, năng
lực sáng tạo, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội, ý chí tự lực tự
cờng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhất quán với quan điểm của các kỳ đại hội, nhất là quan điểm của Đại
hội IX, trên cơ sở tổng kết thực tiễn qua 20 năm đổi mới đất nớc và những bài
học của các nớc xã hội chủ nghĩa trên thế giới, tại Đại hội X, Đảng ta đa ra
khuyến khích nhân dân làm giàu hợp phápgiải quyết việc làm, chăm lo cải
thiện điều kiện làm việc, mở rộng hệ thống bảo hiểm và an ninh xã hội; xây
dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với ngời lao động thất nghiệp; cải
cách cơ bản chế độ tiền lơng cán bộ công chức theo hớng tiền tệ hoá đầy đủ tiền
lơng; thực hiện chơng trình xoá đói giảm nghèo; thực hiện đồng bộ chính sách
bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân [15 tr 104].
Trên nền tảng định hớng của Đại hội IX, Đại hội X, Đảng ta đa ra các
quan điểm chỉ đạo mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn đất nớc hiện nay, bao
gồm:
Một là, Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy
vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái
mới [22 tr 71].
Hai là, Phải gắn tăng trởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn
diện con ngời, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc
làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm
nghèo.Từng bớc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng [23 tr 178,
179].
Ba là, Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
chất lợng cao [24 tr 95].
Là lực lợng chính trị, lực lợng cách mạng tin cậy của Đảng, Nhà nớc và
nhân dân, lực lợng vũ trang nhân nói chung, quân đội nhân dân nói riêng phải đợc xây dựng ngày càng thiện chiến và hiện đại cả về chính trị và quân sự, cả về
17
kỹ thật và chiến thuậtđảm bảo khả năng sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lợc dới bất kỳ quy mô và hình thức nào, hoàn thành tốt chức năng đội quân chiến
đấu, lao động sản xuất và công tác trong thời kỳ mới.
Trên nền tảng t tởng đó, Đảng ta xác định, Tăng cờng quốc phòng, giữ
vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thờng xuyên
của Đảng, Nhà nớc và của toàn dân, trong đó quân đội và công an nhân dân là
lực lợng nòng cốt [16 tr 40, 117]. Vì vậy, việc xây dựng quân đội nói chung
85, 86]. Đến Đại hội VIII Đảng ta nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
18
quân đội: Thờng xuyên chăm lo xây dựng Đảng, tăng cờng sự lãnh đạo của đối
với quân đội và công an [7 tr 120]. Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng
định: tăng cờng sức mạnh chiến đấu của quân đội ta hiện nay là một yêu cầu vừa
cơ bản, vừa cấp thiết. Trớc hết cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
+ Thờng xuyên tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Thờng
xuyên tăng cờng sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với
quân đội nhân dân và công an nhân dân, đối với sự nghiệp quốc phòng và an
ninh [18 tr 41, 42, 119].
+ Xây dựng bản lĩnh chính trị, trình độ tổ chức chỉ huy cho cán bộ các
cấp, trớc hết là cán bộ lãnh đạo. Không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học
vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lãnh đạo, quản lý và công tác vận động
nhân dân, phát huy vai trò tiên phong gơng mẫu [19 tr 53, 54], Xây dựng
đội ngũ cán bộ, trớc hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về
chính trị, gơng mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và
năng lực hoạt động thực tiễn sáng tạo, gắn bó với nhân dân [20 tr 141].
Nhất quán với các quan điểm trên đây, căn cứ vào yêu cầu của sự nghiệp
đổi mới đất nớc trong điều kiện mới, trong văn kiện Đại hội X, Đảng ta tiếp tục
khẳng định: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững
mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nớc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo
vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh t tởng văn hoá và an ninh xã hội;
duy trì trật tự, kỷ cơng, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nớc,
ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mu, hoạt động chống phá, thù địch,
không để bị động, bất ngờ [25 tr 108, 109].
Trong bối cảnh đất nớc ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn
cầu, nhất là sau khi nớc ta gia nhập tổ chức thơng mại thế giới và đợc bầu là uỷ
điểm, nhiệm vụ và giải pháp ấy là thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trong tình hình mới.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1986.
2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1991.
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1991.
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
5. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
6. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
7. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1996.
20
8. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
9. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
10. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
11. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
12. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
27. C. M¸c vµ Ph. ¡ngghen: Toµn tËp, Nxb CTQG, Hµ Néi, n¨m 1995, tËp 42.
28. C. M¸c vµ Ph. ¡ngghen: Toµn tËp, Nxb CTQG, Hµ Néi, n¨m 1995, tËp 3.
29. C. M¸c vµ Ph. ¡ngghen: Toµn tËp, Nxb CTQG, Hµ Néi, n¨m 1995, tËp 3.
30. C. M¸c vµ Ph. ¡ngghen: Toµn tËp, Nxb CTQG, Hµ Néi, n¨m 1995, tËp 23.
31. C. M¸c vµ Ph. ¡ngghen: Toµn tËp, Nxb CTQG, Hµ Néi, n¨m 1995, tËp 3.