Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHU THỊ DIỆP

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHU THỊ DIỆP

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03 01

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Khắc Chương

Hà Nội - 2012


1.1.1. Tinh hoa văn hoá truyền thống của dân tộc

11

1.1.2. Tinh hoa văn hoá nhân loại

14

1.1.3.Cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

21

1.1.4. Nhân cách và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh

23

1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

25

1.2.1. Quan niệm về con người

25

1.2.2. Con người là vốn quý nhất, yếu tố quyết định thành công

31

của cách mạng
1.2.3. Con người là mục tiêu và động lực của cách mạng và công

70


2.2.1. Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho

70

nhân dân gắn liền với việc đảm bảo công bằng xã hội
2.2.2. Bảo đảm và thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ

77

của nhân dân
2.2.3. Đẩy mạnh việc giáo dục các giá trị tinh thần truyền thống

87

cho thế hệ trẻ
2.2.4. Thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước

92

2.2.5. Đẩy mạnh công tác giáo dục, đề cao cảnh giác với những

96

âm mưu lợi dụng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trong quá trình
đẩy mạnh công cuộc đổi mới
KẾT LUẬN


BCHTƯ

: Ban chấp hành Trung ương

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản vô giá trong kho tàng lịch sử tư tưởng
Việt Nam. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt
Nam.
Việc nghiên cứu làm sáng tỏ hơn nữa tính khoa học sâu sắc, những giá trị
to lớn, nhiều mặt của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam trước
đây cũng như trong giai đoạn hiện nay là đòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa thời đại
to lớn.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ý nguyện của Người từ khi ra đi tìm
đường cứu nước đến lời di chúc cuối cùng, Hồ Chí Minh luôn coi vấn đề trồng
người, các công việc của con người là mối quan tâm thường trực, là trách nhiệm
hàng đầu trong cuộc đời của mình. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về phát
huy sức mạnh con người, về xây dựng con người… đã góp phần to lớn vào việc
đào tạo cho dân tộc Việt Nam những con người ưu tú, và những lớp người đó đã
đưa dân tộc vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi
to lớn đem lại tự do, hạnh phúc cho toàn dân.
Trong công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi chúng ta phải đặc biệt chú
trọng đến vấn đề phát huy nội lực. Nếu không xuất phát từ nội lực thì không thể
phát triển bền vững. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nội lực có vai trò
quyết định đối với sự phát triển. Có phát huy được nội lực thì mới thu hút và sử
dụng có hiệu quả ngoại lực” [20, tr.179]. Một trong những yếu tố tạo thành sức

thời đại. Không chỉ có giá trị lý luận, thực tiễn trong các giai đoạn cách mạng đã
qua mà còn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng ta trong giai đoạn hiện
nay. Hơn 40 năm qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về với thế giới “người
hiền”, tư tưởng của Người vẫn là ngọn đèn soi sáng cho những ai yêu chuộng
công lý, hòa bình, yêu thương con người tiếp tục cuộc chiến đấu vì “độc lập, tự
do, hạnh phúc của nhân dân”.

8


Với tư tưởng vượt mọi tầm thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi chỉ đề
cập một trong những tư tưởng đó: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và ý
nghĩa của nó đối với việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc” làm đề tài
nghiên cứu, mong có đóng góp làm sáng tỏ một trong nhiều vấn đề lý luận đang
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay.
2.Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một di sản lý luận quý báu của Đảng và nhân
dân Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về
con người nói riêng đã được nhiều nhà khoa học nước ta nghiên cứu, phân tích.
Không chỉ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh còn là đề tài thu hút sự quan tâm của
không ít nhà hoạt động chính trị, nhà khoa học trên thế giới. Nhiều cuộc hội thảo
khoa học về thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã được tổ chức ở các
cấp độ, quốc gia, quốc tế.
Nhìn chung tư tưởng Hồ Chí Minh về con người được nghiên cứu từ
nhiều góc độ, với nhiều cách tiếp cận khác nhau nhằm khai thác những khía
cạnh, nội dung tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu. Ở phạm vi trong nước có các
công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Chương trình khoa học cấp Nhà nước
+ Chương trình khoa học cấp Nhà nước KHXH 04.01 năm 2005: "Tư
tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa, xây dựng con người" do Giáo sư

dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện hiện nay.
Các công trình nghiên cứu dưới dạng sách chuyên khảo, báo, tạp
chí…
Trong cuốn: "Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người
phát triển toàn diện", PGS. TS Thành Duy, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2002.
Trong cuốn sách này tác giả Thành Duy đã đề cập tới những quan điểm cơ
bản về mối quan hệ giữa văn hóa với việc xây dựng con người phát triển toàn
diện, phân tích khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò và ý nghĩa của
giáo dục đối với việc đào tạo con người qua đó khẳng định giá trị tư tưởng Hồ

10


Chí Minh trong xây dựng con người mới XHCN đến nay vẫn còn nguyên giá trị,
đặc biệt là trong việc xây dựng con người mới đáp ứng được nhu cầu của sự
nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam.
Trong bài “Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người về bản chất con
người” của Đặng Xuận Kỳ đăng trên tạp chí Triết học số 10 năm 2002, tác giải
đã phân tích và nhấn mạnh rằng, con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh được
đặt trong mối quan hệ ba chiều: quan hệ với một cộng đồng nhất định, quan hệ
với một xã hội nhất định, quan hệ với tự nhiên.
Bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người”
của Nguyễn Văn Tài, tạp chí Triết học số 2 năm 2004, đã phân tích tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người với tư cách là một thực thể xã hội, bao hàm sự thống
nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội, sự thống nhất giữa con người
dân tộc, giai cấp và nhân loại; về con người với tư cách là chủ thể của lịch sử….
Bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và văn hóa” của PGS, TS. Bùi
Đình Phong, Tạp chí Lý luận Chính trị số 1 năm 2009, đã phân tích quan niệm
của Hồ Chí Minh về con người, con người vừa là con người xã hội vừa là con
người sinh vật, đó là con người lịch sử - cụ thể, con người có nhiều phạm vi khác

quan niệm của Hồ Chí Minh về con người chủ yếu qua các văn bản của Người
được tập hợp trong 12 tập bộ Hồ Chí Minh toàn tập.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam về con người.
Luận văn sử dụng kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã
được công bố có liên quan đến đề tài luận văn.
Luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như sau: Vận dụng phương
pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp cơ bản: Phân
tích - tổng hợp, logic - lịch sử, thống kê, so sánh…

12


5. Đóng góp
Một là, góp phần hệ thống hóa những tư tưởng của Hồ Chí Minh về con
người.
Hai là, góp phần luận chứng ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
đối với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
6. Ý nghĩa của luận văn
Với những kết quả đạt được luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong việc học tập, giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, xây
dựng con người, phát huy vai trò con người trong các trường Đại học, Cao đẳng,
Trung học chuyên nghiệp... Luận văn cũng có giá trị tham khảo, phục vụ công
tác hoạch định chính sách xây dựng, bồi dưỡng, phát triển con người và củng cố,
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liều tham khảo, luận văn có
2 chương, 4 tiết.

trong điều kiện mới của cuộc cách mạng vô sản. Nó biểu hiện ở chính cuộc đời,
tư tưởng và hoạt động của Hồ Chí Minh.

14


Thứ nhất, Hồ Chí Minh nhận thức được vai trò hết sức quan trọng của giá
trị truyền thống con người Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng. Sinh trưởng
trong một gia đình khoa bảng, ở một miền quê nổi tiếng là “địa linh nhân kiệt”
với tư chất và nhãn quan về lịch sử đã giúp cho Hồ Chí Minh hiểu biết sâu sắc
truyền thống về con người và đất nước Việt Nam. Theo cách nói của C.Mác,
muốn hiểu con người, sự vật phải hiểu lịch sử của nó. Chính sự hiểu biết sâu sắc
con người Việt Nam mà Hồ Chí Minh tìm thấy được sức mạnh của các giá trị
truyền thống. Vì thế, trong khi vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để vạch
ra con đường cách mạng cho Việt Nam, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải dựa trên
những giá trị truyền thống dân tộc, là động lực to lớn, động lực vĩ đại, thậm chí
là duy nhất của các nước thuộc địa. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa có ý
nghĩa là một phương pháp cách mạng. Vì vậy, trong những sự kiện đặc biệt của
lịch sử, Hồ Chí Minh có những hoạt động thể hiện sự tôn trọng truyền thống quá
khứ như: thắp hương và dự lễ kỷ niệm Lý Bát Đế ngày 13 - 9 - 1945 khi nước
nhà vừa giành được độc lập, trên đường về Thủ đô đến thăm nơi thờ các vua
Hùng, thăm Côn Sơn - khu di tích lịch sử thờ các vị anh hùng dân tộc Nguyễn
Trãi… Những cuộc viếng thăm đầy ý nghĩa ấy thể hiện tình cảm trân trọng với
lịch sử vẻ vang của dân tộc. Sức mạnh của giá trị truyền thống là ở khả năng
điều chỉnh nhận thức, hành vi của con người, đó là động cơ bên trong, khả năng
tự ý thức, tự điều chỉnh của cả một cộng đồng người trước yêu cầu của sự phát
triển xã hội.
Thứ hai, kế thừa phát huy và nâng cao những truyền thống tốt đẹp của con
người Việt Nam đồng thời cải tạo, xóa bỏ những truyền thống lạc hậu tiêu cực
của quá khứ để lại.

Nam được hình thành từ rất sớm. Đó là hệ thống các nguyên tắc, quy tắc đạo đức
trong lối sống, nếp sống của con người Việt Nam, được biểu hiện chủ yếu ở nền
văn hóa dân gian, truyền miệng những kinh nghiệm và hành vi đạo đức. Nội
dung đạo làm người rất phong phú: quan trọng nhất là đạo thờ tổ tiên, thờ những
người có công với nước, uống nước nhớ nguồn, nhân ái… tiết kiệm, cần cù, hiếu

16


học, hiếu thảo với cha mẹ, thuỷ chung tín nghĩa vợ chồng, trung thực, mưu trí,
dũng cảm… Tất cả những giá trị truyền thống đó được tiếp thu và phát huy trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về con người. Hồ Chí Minh thường trích dẫn tục ngữ, ca
dao để diễn đạt, đặc biệt là tấm gương lịch sử, những chuyện người thật, việc
thật, người tốt, việc tốt rất phong phú trong đời sống hàng ngày để giáo dục cán
bộ, đảng viên. Người quan tâm đến ý nghĩa thực tiễn của các nguyên lý đạo đức,
chú ý thực hành đạo đức, nêu gương không chỉ để giáo dục nhân dân mà con đối
với bản thân.
Bên cạnh việc kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp Hồ Chí Minh luôn
quan tâm đến việc loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực, tàn tích lạc hậu, xấu xa của
xã hội cũ, con người cũ. Đó là: thói quen trọng nam khinh nữ, hội hè đình đám,
hiếu hỷ lãng phí, tâm lý cục bộ, phe phái dòng họ, địa phương, ngại đấu tranh, dĩ
hoà vi quý, thích những biện pháp nửa vời, trì trệ, bảo thủ… biểu hiện trong vô
số mà Hồ Chí Minh gọi là bệnh: quan liêu, hủ hoá, lãng phí, tham ô… bắt nguồn
từ chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra tất cả những tệ nạn đó. Vì vậy
muốn xây dựng thành công xã hội mới cần phải tiêu diệt thói hư, tật xấu của xã
hội cũ còn sót lại, những thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch, nó
ngấm ngầm cản trở cách mạng tiến bộ.
1.1.2. Tinh hoa văn hoá nhân loại
Việt Nam là nơi tiếp xúc và giao lưu với các nền văn hóa lớn từ bốn
phương Đông, Tây, Nam, Bắc bằng cả đường biển cũng như đường bộ. Người

đất nước Việt Nam và cả khi hoạt động ở nước ngoài. Bên cạnh đó Hồ Chí Minh
còn tiếp thu những tư tưởng dân chủ của Tôn Dật Tiên….
Về ảnh hưởng của Nho giáo
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, Người được
học chữ Hán và các tri thức của Nho giáo từ rất sớm, vì vậy Nho giáo có ảnh
hưởng rất lớn đến việc hình thành tư tưởng của Người nói chung và tư tưởng về
con người nói riêng.
Hồ Chí Minh coi trọng chữ “Nhân” của Nho giáo. Tuy nhiên, “Nhân”
trong quan niệm của Nho giáo chịu ảnh hưởng nặng nề của lập trường giai cấp

18


phong kiến nên còn mang nặng sắc thái của tình yêu thương của bậc bề trên,
tầng lớp thống trị với kẻ dưới, những người bị thống trị. Còn đối với Hồ Chí
Minh, Nhân là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào và rộng
hơn, Nhân là tình yêu thương giữa con người với con người, không phân biệt
giai cấp, dân tộc, quốc gia. Hơn nữa Nhân trong tư tưởng không dừng lại ở tình
yêu chung chung, trừu tượng mà được chuyển hoá thành hành động cách mạng
kiên quyết đấu tranh vì sự giải phóng con người thoát khỏi áp bức, nô dịch.
Có thể nói, Nho giáo, đặc biệt ở Khổng Tử, Mạnh Tử đã có những tiến bộ
nhất định khi coi dân có vai trò nhất định trong xã hội như họ là lực lượng chính
tạo ra của cải vật chất cho xã hội, duy trì sự tồn tại của chế độ phong kiến.
Nhưng nhìn chung trong tư tưởng của Nho giáo nhất là từ Đổng Trọng Thư trở
đi, đều không đánh giá đầy đủ, không thấy được dân với tư cách là người sáng
tạo và vai trò như động lực của sự phát triển lịch sử. Dân chỉ là những người bị
thống trị, có nghĩa vụ phải tuân theo một cách tuyệt đối ý chí, mệnh lệnh của
nhà vua và tầng lớp thống trị. Hồ Chí Minh đã tiếp thu những điểm tiến bộ
đồng thời khắc phục những hạn chế trong tư tưởng về dân của Nho giáo. Đối
với Hồ Chí Minh trong bầu trời này không có gì quý bằng nhân dân. Trên cơ sở

say mê học tập trọng tài và trọng nghĩa… Mặt hạn chế trong con người của Nho
giáo: là con người có nghĩa vụ nên họ không thể bộc lộ hết cá tính, phát triển
được tài năng của mình, hy sinh cái tôi, tự do cá nhân và những lạc thú của con
người, rơi vào trạng thái bảo thủ, trì trệ, dễ bằng lòng với thực tại, thiếu những
hành động cải biến cách mạng. Nho giáo chia con người thành nhiều loại: thánh
nhân, quân tử, trượng phu, tiểu nhân… căn cứ vào đạo đức, nhân cách chứ
không dựa trên cơ sở kinh tế - chính trị. Hình mẫu lý tưởng của con người Nho
giáo là không tưởng vì nó không chú ý đến điều kiện hiện thực cho việc xây
dựng con người. Vì vậy, con người trong tư tưởng Nho giáo là con người trừu
tượng, phi lịch sử… đây là nội dung mà Hồ Chí Minh phê phán dưới nhiều hình
thức khác nhau.

20


Về ảnh hưởng của Phật giáo
Tư tưởng cơ bản của Phật giáo là giáo dục con người về lòng từ bi, vị tha
cứu khổ, cứu nạn. Đây là một trong những tư tưởng nhân văn sâu sắc của Phật
giáo. Nhưng là một tôn giáo nên trong giáo lý Phật giáo còn có nhiều điểm mang
tính chất duy tâm, thần bí: Quan niệm về luân hồi, nghiệp báo; bi quan yếm thế,
giải thích sai nguyên nhân nỗi khổ và con đường giải thoát… song có nhiều mặt
tích cực mà Hồ Chí Minh đã khai thác. Đó là:
Tư tưởng bình đẳng, bác ái của Phật giáo, phản đối chế độ bất công, phân
biệt đẳng cấp bằng thái độ phủ nhận trật tự xã hội đương thời đòi tự do, bình
đẳng cho mọi người.
Những tư tưởng “vô thường”, “vô ngã” của Phật giáo được Hồ Chí Minh
sử dụng để giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Người nói: “con người ta đẻ
ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết. Chết rồi thì bảo người ta bầu làm sao được”
[56, tr.469]. Đó chính là luật vô ngã được Nguời sử dụng để phê phán những tư
tưởng tham quyền, cố vị “sống lâu lên lão làng” của một số cán bộ, đảng viên

củi, em trẻ chăn trâu không dính líu gì với vòng danh lợi” [50, tr.161].
Tất cả những điều đó làm cho Người có cuộc sống thanh tao, thanh đạm,
tự tại hoà đồng với tự nhiên, có chừng mực mà không thoái quá, không hưởng
trước thiên hạ, không đứng trên mà luôn đứng sau thiên hạ. Nếu có sự ham muốn
thì “ham muốn tột bậc là làm sao để đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành”.
Về ảnh hưởng của văn hóa phương Tây
Hơn 30 năm sống và hoạt động ở nước ngoài Hồ Chí Minh có điều kiện
để tiếp thu được nhiều tinh hoa văn hoá nhân loại.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh thần dân chủ của phương Tây, coi trọng và
nắm bắt những tinh tuý của văn hoá phương Tây. Trong con người Hồ Chí Minh
khi ứng xử với người, với việc, nhất là đối với những người phương Tây, đều
toát lên nét tinh tuý sâu lắng của văn hoá phương Tây.

22


Nền văn minh phương Tây nói chung và chủ nghĩa nhân văn phương Tây
nói riêng đã có ảnh hưởng ít nhiều đến Hồ Chí Minh từ khi còn học ở trường
Tiểu học Pháp - Việt, trường Quốc học Huế. Ở đây Hồ Chí Minh đã được nghe
những khẩu hiệu: “tự do, bình đẳng, bác ái” và được tiếp xúc với những tờ báo
có khuynh hướng tự do. Sau này Người nhớ lại: “khi tôi 13 tuổi, lần đầu tiên tôi
được nghe 3 chữ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… và từ thuở ấy tôi rất muốn làm
quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm hiểu những gì ẩn sau những chữ ấy” [47,
tr.477]. Những khái niệm ấy cũng là một trong những động lực thúc đẩy Người
ra đi tìm đường cứu nước, trong lúc phong trào cách mạng ở nước ta đang gặp bế
tắc về đường lối, với cái đích đến là các nước phương Tây.
Chủ nghĩa nhân văn phương Tây xuất hiện trong thời kỳ văn hoá Phục
hưng, bắt đầu từ thế kỷ XIV và hoàn thiện vào thời kỳ Khai sáng thế kỷ XVII,
XVIII. Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, chủ nghĩa nhân văn phương

phương Tây chưa đem lại con đường thực sự cho giải phóng con người.
Luận cương của Lênin đã đem lại sự giác ngộ, xúc động, một khoảnh
khắc “vui mừng đến phát khóc lên” mà Hồ Chí Minh diễn đạt là sự tìm thấy ánh
sáng. Từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc Tế thứ ba. Đây là kết
quả của 10 năm đi khắp nơi, tiếp xúc với nhiều người, khảo sát các cuộc cách
mạng tư sản điển hình, những kinh nghiệm đấu tranh của nhiều dân tộc, suy
ngẫm nhiều học thuyết nhưng chưa tìm ra con đường cách mạng cho Việt Nam.
Luận cương của Lênin chỉ rõ: chỉ trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cách mạng
giải phóng dân tộc phải đi theo cách mạng vô sản, những người cộng sản phải
ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản
các nước tiên tiến, giai cấp vô sản ở các nước chậm tiến sau khi hoàn thành xong
cách mạng dân tộc dân chủ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, luận
cương của Lênin phản ánh tập trung tư tưởng về giải phóng con người của chủ
nghĩa Mác trong điều kiện mới. Hồ Chí Minh đến với học thuyết về con người
của chủ nghĩa Mác - Lênin, bắt đầu từ Luận cương của Lênin là nắm bắt được
nội dung bản chất của học thuyết đó. Bởi vì, vấn đề con người và giải phóng con
người phải được đặt trong mối quan hệ với giải phóng dân tộc, giải phóng giai

24


cấp và cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể đi theo con đường cách mạng vô
sản. Cái đích của cách mạng vô sản là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mới
giải quyết triệt để vấn đề giải phóng con người. Khi đến với chủ nghĩa MácLênin, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng nắm bắt được linh hồn của chủ nghĩa Mác
- Lênin, đó là phép biện chứng duy vật, tiếp nhận lập trường, quan điểm,
phương pháp cách mạng và khoa học. Từ đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người mới có sự chuyển biến về chất và từng bước hình thành nên toàn bộ hệ
thống những luận điểm về con người một cách triệt để. Vì vậy, có thể khẳng
định: Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh
về con người. Đó là bước ngoặt cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status