ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o NGUYỄN TRUNG DŨNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số : 62.22.80.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. LƯƠNG MINH CỪ
Phản biện độc lập:
1. PGS, TS. NGUYỄN THẾ NGHĨA
2. PGS, TS. NGUYỄN THANH
Phản biện:
1. PGS, TS. NGUYỄN THẾ NGHĨA
2. PGS, TS. NGUYỄN THANH
3. PGS, TS. NGUYỄN XUÂN TẾ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài 01
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 03
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án 08
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 09
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 09
6. Cái mới của luận án 09
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 10
8. Kết cấu của luận án 10
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG
CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 11
1.1. VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG LỊCH
SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG 12
1.1.1. Vấn đề con người và giải phóng con người trong triết học Ấn Độ . 12
1.1.2. Vấn đề con người và giải phóng con người trong triết học
Trung Quốc 19
1.2. VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG LỊCH
SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 29
1.2.1. Tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học
phương Tây thời kỳ Cổ - Trung đại 29
1.2.2. Tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học
phương Tây thời kỳ Phục Hưng và cận đại 36
1.2.3. Tư tưởng về con người và giải phóng con người trong triết học
cổ điển Đức 42
2.3.3. Xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa là tiền đề giải phóng con
người một cách triệt để và cách mạng 144 Chương 3: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 159
3.1. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON
NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 159
3.1.1. Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, tác động
đến việc xây dựng, phát triển và giải phóng con người 159
3.1.2. Thực trạng, những thành tựu và mặt còn hạn chế về vấn đề giải phóng con
người ở Việt Nam hiện nay 177
3.2. BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI VIỆC XÂY
DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 190
3.2.1. Giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đối với
việc giải phóng con người ở Việt Nam hiện nay 190
3.2.2. Đảm bảo và phát huy dân chủ, là cơ sở và nền tảng, để giải phóng con
người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 193
3.2.3. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là biểu hiện
cụ thể, trực tiếp nhất của việc xây dựng, phát triển và giải phóng con người
Việt Nam hiện nay 195
3.3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỤC TIÊU GIẢI PHÓNG CON
NGƯỜI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY 198
3.3.1. Định hướng và mục tiêu cơ bản về sự nghiệp giải phóng con người của
Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay 198
3.3.2. Một số giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu giải phóng con người trong
điều kiện Việt Nam hiện nay 204
PHẦN KẾT LUẬN 220
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 225
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 237
sống của nhân dân đã không ngừng được nâng lên, con người với tư cách là
chủ thể xã hội, đã có nhiều cơ hội để phát huy khả năng của mình, an ninh 2 xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, bên cạnh đó trên phương diện thực tiễn,
vẫn còn rất nhiều những vấn đề lớn đặt ra cho khoa học lý luận phải tập
trung nghiên cứu, đưa ra những định hướng giải quyết. Chẳng hạn, như vấn
đề về mối quan hệ giữa lợi ích và quyền tự quyết của dân tộc với yêu cầu
của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, của quá trình phát triển; vấn đề mối
quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, giữa đổi mới kinh tế và chính
trị, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội; vấn đề giải phóng con người trong mối quan hệ với sự phát
triển không đồng đều giữa các vùng, khu vực và giữa các cá nhân; vấn đề
phát huy nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại
hóa đất nước; và .v.v…
Như vậy, thực tiễn kinh tế - xã hội Việt Nam, đã và đang đặt ra
những vấn đề mới đòi hỏi cần có sự giải quyết triệt để về mặt lý luận. Xét
cho đến cùng, tất cả những vấn đề cơ bản nêu trên, thực chất đó là vấn đề
về con người, giải phóng và phát triển con người. Ở đây, chúng ta có thể
tìm thấy những nội dung mang tính lý luận và phương pháp luận về vấn đề
con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng thực
tiễn hoạt động cách mạng sinh động của mình, trên cơ sở sự kế thừa và
phát triển xuất sắc những tư tưởng tiến bộ về con người và giải phóng con
người trong lịch sử, đặc biệt là sự vận dụng tư tưởng của chủ nghĩa Mác-
Lênin về giải phóng con người, Hồ Chí Minh đã xây dựng được hệ thống
tư tưởng về vấn đề con người và giải phóng con người một cách sâu sắc và
toàn diện, mang bản sắc Việt Nam.
tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ triết học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề con người và giải phóng con người trong lịch sử triết học nói
chung, và trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng được các nhà khoa học
nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận và mức độ phong phú khác nhau.
Về vấn đề con người và giải phóng con người trong lịch sử triết học, 4 hầu hết các nhà khoa học không tập trung nghiên cứu thành những nội
dung riêng, mang tính hệ thống, mà trình bày lồng ghép trong các quan
điểm về bản thể luận, nhân sinh quan, nhận thức luận của các triết gia theo
phương diện lịch sử. Có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như: Lịch sử
Triết học. Tập 1. Nxb. Khoa học xã hội, 2002, của tác giả Nguyễn Thế
Nghĩa và Doãn Chính (chủ biên); Lịch sử Triết học của tác giả Nguyễn
Hữu Vui. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; tác giả Lưu Phóng Đồng
với công trình Triết học phương Tây hiện đại. Tập 1, 2. Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1994;… Có những tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về
vấn đề giải phóng con người theo từng giai đoạn lịch sử, hoặc theo từng
triết gia như: Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ của tác giả Doãn
Chính. Nxb. Thanh niên, 1999; Bùi Bá Linh (2003): Quan niệm của C.Mác
và Ph.Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người. Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thế Nghĩa (2003): Quan niệm của
C.Mác về tha hóa và sự giải phóng con người trong “Bản thảo kinh tế -
triết học”. Tạp chí Triết học số 10-2003; Đáng chú ý nhất là tác phẩm Tư
tưởng triết học về con người của tác giả Vũ Minh Tâm (chủ biên). Nxb.
Giáo dục, Hà Nội, 1996. Tác phẩm đã trình bày những nội dung cơ bản về
vấn đề con người trong lịch sử triết học. Riêng vấn đề giải phóng con
2001) đã phân tích sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa với việc xây dựng
con người phát triển toàn diện; về nguồn gốc và quá trình hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người phát triển toàn diện; về đặc điểm, các giải
pháp xây dựng con người phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay.
Trong luận án tiến sĩ triết học với đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
triển con người toàn diện (Học viện Chính trị quốc gia, 2001), tác giả
Nguyễn Hữu Công đã phân tích cơ sở lý luận, nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người; những vấn đề đang đặt ra đối
với thực tiễn phát triển con người hiện nay; việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh vào việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Tác 6 giả PGS.TS.Lê Sỹ Thắng với tác phẩm: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người và chính sách xã hội (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); Tác
giả Thành Duy với bài viết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính
sách đối với con người (Tạp chí Lịch sử Đảng, tr. 24-30, số 12 năm 2005).
Nội dung của các tác phẩm, bài viết này tập trung phân tích tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người trong mối quan hệ với các chính sách đối với con
người. Trong tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người (Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005), các tác giả Phạm Ngọc Anh (chủ biên),
Nguyễn Khánh Bật, Phạm Văn Bính đã trình bày bối cảnh lịch sử, quá trình
hình thành, phát triển và các đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người; những quan niệm và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về quyền con người; sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Tác giả Trần
Văn Thức cũng đã bàn thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
trong bài báo: Sự kế thừa và phát triển tư tưởng quyền dân tộc, quyền con
đổi mới (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); tác giả Bùi Đình Phong
với tác phẩm Giải phóng dân tộc và đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ
Chí Minh (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); Nguyễn Đình Thuận:
Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
1911 – 1945 (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002);… Nội dung cơ bản
có thể rút ra được từ các tác phẩm nói trên là: cách mạng giải phóng dân
tộc chính là tiền đề cho việc giải phóng con người, đưa con người thoát
khỏi tình trạng nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước.
Vấn đề giải phóng con người đặt trong mối quan hệ với đấu tranh
giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều tác giả đề cập đến
như: Nguyễn Đức Đạt: Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005); Phạm Hồng Chương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về
một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam (Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003); Bùi Bá Linh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và 8 cách mạng xã hội (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005);…
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới cũng được nhiều
nhà khoa học nghiên cứu như tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
và con người của các tác giả Đặng Xuân Kỳ, Vũ Khiêu, Hoàng Chí Bảo,
Đỗ Huy (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); Trần Quy Nhơn: Tư
tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, (Nxb.
Giáo dục, 2004); Phạm Quốc Thành: Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện
đạo đức cho cán bộ đảng viên (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004);…
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng, vấn đề con người và giải
phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã ít nhiều được các tác giả
đề cập đến trong các công trình nghiên cứu ở nhiều mức độ, khía cạnh khác
tôi xác định phạm vi nghiên cứu là, chỉ tập trung vào việc làm rõ vấn đề
con người và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên thế giới quan và phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; trên nền
tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về vấn đề con người và giải phóng con người.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu cơ bản như: lôgíc – lịch sử, quy nạp – diễn dịch, phân tích
tổng hợp, thống kê, so sánh,… và một số phương pháp nghiên cứu khoa
học cụ thể khác, để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của luận án.
6. Cái mới của luận án
- Luận án đã trình bày khái quát những nội dung cơ bản về vấn đề
con người và giải phóng con người trong lịch sử triết học.
- Luận án đã trình bày, phân tích một cách có hệ thống và làm sáng
tỏ được những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
và giải phóng con người.
- Luận án cũng đã tập trung nghiên cứu, lý giải và đề xuất được một 10 số giải pháp cơ bản có tính chất định hướng nhằm góp phần vào sự nghiệp
xây dựng, phát triển và giải phóng con người ở nước ta hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận:
Luận án đã góp phần nghiên cứu và hệ thống hoá tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung, và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con
người nói riêng. Trên cơ sở đó, luận án đã chứng minh và khẳng định rằng:
Trong lịch sử phát triển của triết học, vấn đề con người luôn được
xem là một nội dung trung tâm của các trường phái triết học. Bởi vì, xét
cho đến cùng, thông qua việc giải quyết vấn đề về con người, các nhà triết
học mới thể hiện được thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận
của mình về thế giới khách quan, trong đó có vấn đề về giải phóng con
người. Toàn bộ các quan niệm về thế giới được triết học đưa ra đều nhằm
xem xét bản chất chung của con người và xác định vị trí, vai trò của con
người trong thế giới hiện thực, từ đó tìm ra con đường, cách thức để giải
phóng con người. Việc lý giải bản chất con người và tiến đến giải phóng
con người trở thành nội dung cốt lõi, cơ bản và là mục tiêu chủ yếu của
triết học trong mọi thời đại.
Kế thừa sâu sắc tinh hoa của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh
cao là tính nhân văn sâu sắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã
hình thành nên những quan điểm phong phú, đa dạng về nhiều lĩnh vực của
đời sống kinh tế - xã hội như lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng con người, lý luận về nhà nước, pháp luật, văn
hóa, đạo đức,… Trong đó, tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người và giải
phóng con người là nội dung quan trọng nhất, thể hiện tư tưởng chủ đạo
mang tính định hướng cho việc thể hiện thế giới quan của Người. Việc
nghiên cứu vấn đề con người và giải phóng con người trong lịch sử triết
học là điều kiện cần thiết, để hiểu sâu sắc hơn cơ sở lý luận cũng như thấy 12 được sự kế thừa và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này.
1.1. VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI TRONG
LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
1.1.1. Vấn đề con người và giải phóng con người trong triết học
sáng tác trong khoảng thời gian trên dưới 2000 năm. Bộ phận sớm nhất của
Veda bao gồm 4 tập thánh kinh chủ yếu: Rig-Veda, Sama-Veda, Yajur-
Veda và Atharva-Veda. Dựa trên cơ sở của thế giới quan thần thoại, tôn
giáo, các nhà tư tưởng đã bước đầu “giải thích vũ trụ vạn vật bằng biểu
tượng các vị thần tự nhiên và sau đó là những tư tưởng triết lý trừu tượng,
lý giải nguyên lý của vũ trụ, giải thích bản chất, đời sống tâm linh của con
người” [9; tr. 59]. Tư tưởng khái quát trong kinh Veda là giải thích vũ trụ,
con người bằng biểu tượng các vị thần tự nhiên, gắn nguồn gốc, vị trí và số
phận của con người với các vị thần. Thần linh vừa có sức mạnh siêu việt,
lại vừa mang nặng tính người với những đặc điểm của con người như thần
linh cũng có chồng, có vợ, thần linh cũng có cả tính tốt và tính xấu, Thần
linh tồn tại ở khắp nơi: thần Lửa Agni cai quản hạ giới, thần Gió Vaynu oai
phong cai quản không trung, thần Mặt Trời Surya (có bốn vợ là: nữ thần tri
thức, Hoàng hậu, nữ thần Ánh sáng và nữ thần Bóng tối) cai quan thiên
giới, ngoài ra còn có thần Mặt Trăng Mosa, thần Nước Apas mạnh mẽ, thần
Bão tố Rudra,… Nếu gạt đi yếu tố thần bí trong việc lý giải bản chất của vũ
trụ, chúng ta có thể thấy rằng, thông qua việc miêu tả sức mạnh của các vị
thần linh, nhân tố con người trong tư tưởng của người Ấn Độ cổ đại có đời
sống phong phú, hoàn mỹ, sống động và cụ thể.
Bộ phận xuất hiện muộn hơn kinh Veda là Bahmana, Aranyaka và
Upanishad. Đặc biệt, sự xuất hiện của Upanishad là một bước giải phóng
tư duy của người Ấn Độ cổ đại, đánh dấu bước chuyển từ thế giới quan
thần thoại sang tư duy triết học. Nếu như quan niệm về con người trong
kinh Veda còn mang nặng dấu ấn thần thoại thì Upanishad muốn dùng lý
trí để lý giải bản thể vũ trụ, bản tính con người, từ đó tìm ra nguyên nhân 14 Tiếp theo thời kỳ Veda là thời kỳ Cổ điển hay thời kỳ Phật giáo,
Bàlamôn giáo (từ thế kỷ VI trước Công nguyên đến thế kỷ X sau Công
nguyên). Triết học thời kỳ này được chia thành hai phái: chính thống và
không chính thống, căn cứ vào việc thừa nhận hay không thừa nhận uy
quyền tối cao của Veda cũng như vai trò của tinh thần sáng tạo vũ trụ tuyệt
đối Brahman.
Hệ thống triết học chính thống bao gồm sáu trường phái: Samkhya,
Nyaya, Vaisesika, Mimansa, Yoga, Védanta. Tư tưởng chung của sáu
trường phái này đều thừa nhận Brahman là tinh thần vũ trụ tối cao, là thực
thể tuyệt đối bất diệt, là bản chất sâu xa của mọi sự tồn tại. Con người là
một thực thể bao gồm thể xác và linh hồn (phái Mimansa, Vedanta, Yoga),
là sự kết hợp của bản nguyên vật chất và bản nguyên tinh thần (phái
Samkhya), là những “linh hồn cụ thể” tồn tại bên cạnh “Linh hồn thế giới
tối cao” duy nhất. Từ đó, họ cho rằng, để giải thoát linh hồn ra khỏi sự ràng
buộc của thể xác thì buộc con người phải tập trung thực hiện cho đúng mọi
nghi thức của kinh Veda, phải dốc lòng tu luyện, chiêm nghiệm nội tâm,
thực nghiệm tâm linh.
Hệ thống triết học không chính thống bao gồm các trường phái:
trường phái Jaina, Lokayata và Phật giáo. Phủ nhận quan điểm của kinh
Veda là con người do “Đấng sáng tạo tối cao” sáng tạo ra, trường phái
Jaina cho rằng toàn bộ thế giới và con người do những chất liệu nguyên
thủy tạo ra. Đó là jiva và adjiva, hay còn gọi là linh hồn và tất cả những gì
không phải linh hồn. Linh hồn là một thực thể thuần khiết, tồn tại vĩnh viễn
và bất diệt cùng với vật chất. Thế giới không có linh hồn duy nhất mà linh
hồn được biểu hiện khác nhau, nó thâm nhập vào tất cả, hiểu biết tất cả, chi
phối tất cả và truyền sinh lực cho tất cả. Khác với trường phái Jaina, trường
phái Lokayata cho rằng con người sinh ra là do tụ hợp của các nguyên tố
nghĩ, tư tưởng; hành là ý muốn thúc đẩy hành động; thức là sự nhận thức. 17 Chính cái “danh” và cái “sắc” đó kết hợp lại với nhau tạo thành “ngũ uẩn”.
Ngũ uẩn tác động qua lại tạo nên vạn vật và con người. Nhưng sự tồn tại
của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại
mãi mãi. Do đó, không có cái “Bản ngã” hay cái tôi chân thực.
Theo Phật giáo, đời là bể khổ. Đức Phật đã chỉ ra tám điều khổ mà
chúng sinh mắc phải, đó là: sinh, lão, bệnh, tử, “ái biệt ly khổ”, “cầu bất
đắc khổ”, “oán tăng hội khổ”, “ngũ ẩm thịnh khổ”. Nguyên nhân mọi nỗi
khổ của con người là “dục vọng” và “vô minh”. Do “vô minh” nên người
ta lầm tưởng rằng cái gì cũng thường định, cái gì cũng là của ta nên có
hành động chiếm đoạt, tạo ra nỗi khổ triền miên, lôi kéo con người mãi
mãi phiêu bạt trong dòng luân hồi. Muốn con người thoát khỏi khổ não,
cảnh luân hồi sinh tử, đạt đến cõi Niết bàn thì phải diệt trừ dục vọng, xóa
vô minh, từ bỏ tham, sân, si. Đức Phật chỉ ra con đường, cách thức để giải
thoát nỗi khổ. Đó là: con người phải có nhận thức đúng đắn, nhìn nhận rõ
phải trái, không để những điều sai trái che lấp sự sáng suốt của mình
(chính kiến); suy nghĩ đúng đắn để đạt tới chân lý (chính tư duy); hành
động, làm việc đúng đắn, không làm những điều tàn bạo, gian dối (chính
nghiệp); nói những điều đúng đắn, điều phải, điều tốt, không nói điều ác
(chính ngữ); sống đúng đắn, trung thực, nhân nghĩa, không tham lam
(chính mệnh); nỗ lực, phấn đấu vươn lên (chính tinh tiến); luôn tâm niệm,
suy nghĩ đến đạo lý chân chính, đến điều tốt, không nghĩ đến điều xấu, tà
đạo (chính niệm); kiên định, tập trung tư tưởng vào con đường, đạo lý
chân chính (chính định).
Qua tư tưởng của Phật giáo về con người và giải thoát con người,
người và giải phóng con người thời kỳ này đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của
kinh Veda và các giáo lý tôn giáo cho nên không tránh khỏi chủ nghĩa duy
tâm, thần bí. Trên cơ sở phản ánh thực tiễn sinh động của đời sống kinh tế -
xã hội đương thời, nội dung chính trong hệ thống quan niệm về con người
của tất cả các trường phái triết học Ấn Độ cổ - trung đại là lý giải bản chất 19 đời sống tâm linh và con đường giải thoát con người khỏi “bể khổ”, khỏi sự
ràng buộc của thế giới trần tục. Con người là điểm xuất phát, “giải thoát” là
mục đích cao nhất và cuối cùng của triết học Ấn Độ cổ - trung đại.
1.1.2. Vấn đề con người và giải phóng con người trong triết học
Trung Quốc
Triết học Trung Quốc cổ đại hình thành từ cuối thiên niên kỷ thứ II,
đầu thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên và phát triển rực rỡ nhất vào
thời Xuân thu – Chiến quốc (từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ III trước
Công nguyên). Đây là thời kỳ xã hội Trung Hoa có những biến động lịch
sử hết sức sâu sắc. Nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên của xã hội có giai
cấp ở Trung Quốc xuất hiện. Đến thế kỷ VIII trước Công nguyên, nền sản
xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và kinh tế thương nghiệp có bước phát
triển mạnh mẽ đã dẫn đến sự phát triển đa dạng trong kết cấu giai tầng của
xã hội. Mâu thuẫn giữa tầng lớp địa chủ mới lên không được tham gia
chính quyền với giai cấp thị tộc cũ đang nắm chính quyền ngày càng gay
gắt. Mâu thuẫn này đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ nô lệ thị tộc, nhà nước của
chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến, mở đường cho sản xuất
phát triển. Sự biến động của kinh tế - xã hội đã quy định sự biến đổi của
lĩnh vực tư tưởng. Trong xã hội xuất hiện những trung tâm, những tụ điểm
mà ở đó các nhà tư tưởng với lập trường giai cấp khác nhau bàn luận, tranh