1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử luôn có những vĩ nhân, những anh hùng, những lãnh tụ mà
cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và hành động gắn liền với một giai đoạn lịch sử,
tiêu biểu cho lý tưởng, ý chí và nguyện vọng của dân tộc và xu thế phát triển của
thời đại. Hồ Chí Minh là một trong số những người như vậy. Tên tuổi của Người
trở thành biểu tượng trường tồn mãi trong lòng dân tộc, là niềm tự hào của nhân
loại tiến bộ.
Đánh giá về những di sản vô giá của Người, Đại hội lần thứ IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan
điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là
kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại”. Và do vậy, cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trở thành nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân
Việt Nam.
Có thể nói, trong hệ thống lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh, tư tưởng
về con người, về xây dựng con người chiếm vị trí trung tâm, chứa đựng những giá
trị khoa học vô cùng to lớn. Quả thực, suốt cuộc đời cách mạng của mình, từ thuở
thiếu thời cho đến phút cuối cùng, Hồ Chí Minh luôn đấu tranh không mệt mỏi vì
con người, cho con người. Trước khi từ biệt thế giới này, Người còn căn dặn
Đảng và Nhà nước ta phải luôn ghi nhớ điều “Đầu tiên là công việc đối với con
người”. Những tư tưởng đúng đắn, sáng suốt của Hồ Chí Minh về con người đã
góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, dân tộc và con
người, tạo nên thành công của cách mạng Việt Nam trong công cuộc “kháng
chiến, kiến quốc”. Nói cách khác, luôn tôn trọng con người, chăm lo hết mực cho
con người và biết dựa vào con người,… là những nội dung chủ đạo, căn bản trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người. Với những tư tưởng
khoa học và có giá trị nhân văn ấy, Hồ Chí Minh không chỉ là nhà lãnh tụ thiên tài
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:
Thứ nhất, trình bày và phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và
xây dựng con người.
3
Thứ hai, phân tích sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây
dựng con người trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, nêu ra một số định hướng và giải pháp tiếp tục xây dựng con người
trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin,
đặc biệt là di sản lý luận của Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người;
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và xây dựng con người;
đồng thời luận án cũng kế thừa, có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các
nhà khoa học đi trước có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng, các phương pháp cơ bản: logic - lịch sử, diễn dịch – quy nạp, phân
tích – tổng hợp và các phương pháp cụ thể: thống kê, so sánh,
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về xây
dựng con người và sự vận dụng tư tưởng đó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
hiện nay nên đã xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu là:
Thứ nhất: về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người; tập trung nghiên cứu thực tiễn
xây dựng con người Việt Nam trong công cuộc đổi mới.
Thứ hai: về phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người, về xây dựng con người, nghiên cứu về con người và xây
dựng con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay trong phạm vi lãnh
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một di sản lý luận quý báu của Đảng và nhân
dân Việt Nam. Với tính cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành
động của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng về con người và xây
dựng con người nói riêng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và phân tích.
Không chỉ có vậy, nhiều cuộc hội thảo khoa học về thân thế, sự nghiệp và tư
tưởng của Người đã được tổ chức ở các cấp độ quốc gia và quốc tế.
Nhìn chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về xây dựng con người
được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau với những cách tiếp cận khác nhau
nhằm khai thác những khía cạnh, nội dung khác nhau tùy thuộc mục đích nghiên
cứu đặt ra. Riêng đề tài nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về xây
dựng con người và sự vận dụng tư tưởng đó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
hiện nay, tác giả đã khai thác một khối lượng lớn tư liệu và các công trình nghiên
cứu liên quan đến nội dung của luận án nhằm kế thừa và tiếp tục nghiên cứu
những vấn đề mang tính gợi mở. Do vậy, có thể tạm chia các tư liệu này theo cấu
trúc vấn đề của luận án dựa trên những nhiệm vụ cần triển khai nhằm thực hiện
xã hội. Hai mặt đó luôn tác động biện chứng qua lại với nhau, gắn liền với quá trình
phát triển của xã hội.
Bài Con người – vấn đề cốt lõi trong triết lý phát triển Hồ Chí Minh trong
cuốn Phát triển văn hóa – con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh của
Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Văn Thủy, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2010, đã tập trung phân tích triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
đó là nâng cao giá trị con người ở các khía cạnh: con người là vốn quý, con người là
mục tiêu, động lực, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, giáo dục con
người mới với những giá trị văn hóa và nhân văn.
Bên cạnh đó còn có các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên
ngành, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người. Đó là, Quan điểm Hồ Chí
Minh về con người và bản chất con người của Đặng Xuân Kỳ, Tạp chí Triết học,
số 10, 2002. Ở đây, tác giả đã phân tích và nhấn mạnh rằng con người trong tư
tưởng Hồ Chí Minh được đặt trong mối quan hệ ba chiều: quan hệ với cộng đồng
nhất định, trong đó mỗi con người là một thành viên; quan hệ với một xã hội nhất
định, trong đó con người làm chủ hay bị áp bức, bóc lột; quan hệ với tự nhiên,
trong đó con người không tách rời tự nhiên.
Bài Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người
của Nguyễn Văn Tài, Tạp chí Triết học số 2, 2004, đã phân tích tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người với tư cách một thực thể xã hội, bao hàm sự thống nhất giữa
7
con người cá nhân và con người xã hội, sự thống nhất giữa con người với dân tộc,
giai cấp và nhân loại.
Có thể thấy rằng, qua các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã
tập trung đề cập đến quan điểm của Hồ Chí Minh về con người ở các phương diện
con người sinh học, con người xã hội; phân tích con người trong các mối quan hệ
gia đình, dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trên cơ sở đó tạo tiền đề cho việc nghiên
cứu các nội dung khác liên quan đến vấn đề con người, như đấu tranh giải phóng
con người, xây dựng và phát triển con người.
1.1.1.3. Một số tư liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải
phóng con người
Giải phóng con người là một trong những vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người. Vấn đề này đã được một số tác giả nghiên cứu, trong đó
tập trung phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về giải phóng con người phải
thông qua cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã
hội; giải phóng con người phải mang đến cho con người cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, đưa con người thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu. Tính ưu việt của chủ
nghĩa xã hội là giải phóng con người, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc và bình đẳng cho tất cả quần chúng nhân dân lao động. Ở đây, có thể kể đến
Tìm hiểu quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội của Phạm Vũ
Quyết Thắng trong cuốn Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, chương trình KX –
02, tập 1, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội, 1993; Sự thống nhất giữa giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người
trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Nguyễn Bá Linh trong cuốn Nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh, chương trình KX – 02, tập 3, Viện Hồ Chí Minh xuất bản,
Hà Nội, 1993.
Bên cạnh đó, còn có các cuộc hội thảo khoa học trên thế giới về cuộc đời
và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, qua đó làm nổi bật tư tưởng của Người về vấn đề
giải phóng con người. Đó là: Hội thảo chuyên đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Árgentina, 2010; Hội thảo giới thiệu về thời
kỳ hoạt động của Bác Hồ tại Thái Lan, 2011; Hội thảo về Di sản Hồ Chí Minh,
Hợp tác Pháp Việt tại Pari nhân kỷ niệm 100 năm Hồ Chí Minh đến Pháp và 65
năm Hồ Chí Minh thăm Pháp với tư cách là khách mời của Chính phủ Pháp.
Các công trình nghiên cứu này đã tập trung làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người từ các khía cạnh khác nhau: bản chất con người, vị trí và vai
trò của con người, vấn đề giải phóng con người. Có thể nói, đây là nguồn cung
cấp cho tác giả luận án những dữ liệu quan trọng như là cơ sở luận cứ mang tính
lý luận khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người.
tưởng và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên sinh viên. Trong đó, tác giả
nhấn mạnh, đối với Hồ Chí Minh giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
sinh viên phải tuân thủ nguyên tắc: đạo đức cách mạng của chúng ta hoàn toàn
phục tùng lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, rằng trong tu dưỡng đạo đức của mình
hay giáo dục đạo đức cho người khác phải nhớ rằng chúng ta đứng trên lập trường
10
nào, yêu ai, ghét ai và phải làm gì cho Tổ quốc, cho nhân loại.
Trong Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh do Phạm Ngọc Anh (chủ biên),
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009, đề cập đến nhiều vấn đề trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người như mối quan hệ giữa văn hóa với đời
sống con người, chức năng của văn hóa trong việc xây dựng và phát triển con
người, trong đó tác giả chú tâm phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về những chuẩn
mực đạo đức cách mạng. Trên cơ sở đó, phân tích tư tưởng của Người về giáo dục
đạo đức cho con người.
Giáo trình Triết học (dành cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không
chuyên ngành triết học) do Đoàn Quang Thọ (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị -
Hành chính Quốc gia, Hà Nội, 2008, đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
triển con người, cho rằng con người phát triển toàn diện phải có đủ đức, đủ tài,
phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn cách mạng.
Bài Giáo dục và rèn luyện đạo đức đảng viên trong cuốn Thấm nhuần tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của Phạm Văn Khánh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2010, đã tiếp cận vấn đề giáo dục đạo đức cho đảng viên. Tác giả
nhấn mạnh, theo Hồ Chí Minh, người đảng viên phải có đạo đức cách mạng mới
hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Do đó, cần giáo dục đạo đức cách mạng
cho đảng viên ở các phương diện: nhận rõ mục đích, động cơ vào Đảng; tự
nguyện phục vụ nhân dân và làm đúng chính sánh của Đảng. Theo đó, tác giả
phân tích vấn đề mấu chốt quyết định trong giáo dục, rèn luyện đạo đức của người
đảng viên là sự tự giáo dục, tự rèn luyện, phải kiên trì, phải có kỷ luật
Trong Một số vấn đề cơ bản về triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí
Trong cuốn Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo của Viện Hồ Chí Minh và
các lãnh tụ Đảng, Nhà xuất bản Lao động – xã hội, năm 2007, có một số bài đề
cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển trí lực của con người. Đó là trong bài
Hồ Chí Minh với vấn đề phát triển giáo dục nâng cao dân trí của Phạm Tất Dong
đã phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với sự phát
triển con người về mặt trí lực. Bài Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo
của Nguyễn Khánh Bật đã nhấn mạnh sự lên án, phê phán gay gắt của Hồ Chí
Minh đối với thực dân Pháp trong việc cai trị dân tộc ta, rằng một trong những thủ
đoạn hủ hóa dân tộc ta mà thực dân Pháp thực hiện triệt để là lập ra nhà tù nhiều
hơn trường học, giam hãm nhân dân ta trong vòng dốt nát. Theo đó, tác giả nhấn
mạnh quan điểm của Hồ Chí Minh đối với việc phát triển con người về mặt trí lực
là cần phải hủy bỏ nền giáo dục nô lệ, rằng chúng ta có nhiệm vụ cấp bách phải
giáo dục lại nhân dân chúng ta trên cơ sở một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.
Bài Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người, phát triển giáo dục,
nâng cao dân trí của Đỗ Huy trong cuốn Giá trị di sản tư tưởng Hồ Chí Minh góp
12
phần xây dựng con người mới Việt Nam do Nguyễn Văn Dương (chủ biên), Nhà
xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2010, đã phân tích quan điểm của Hồ Chí
Minh về phát triển con người toàn diện, trong đó nhấn mạnh việc giáo dục đào tạo
nhằm nâng cao dân trí. Tác giả chỉ rõ, theo Hồ Chí Minh, để nâng cao dân trí cần
có một chiến lược giáo dục sâu, rộng, dài, bao gồm các bước đi, những giai đoạn,
những chiến dịch có nội dung, mục tiêu cụ thể. Tác giả nhấn mạnh, trong tư tưởng
của Người, để thực hiện nâng cao dân trí có hiệu quả cần xóa nạn mù chữ, cần trí
thức hóa công nông, công nông hóa trí thức, trong truyền đạt tri thức phải lấy con
người làm trung tâm, phải gắn nhà trường với gia đình và xã hội.
Qua trên, chúng ta thấy rằng, các tác giả tập trung phân tích quan điểm của
Hồ Chí Minh về phát triển trí lực con người ở các khía cạnh: xóa nạn mù chữ, xóa
bỏ nền giáo dục nô lệ, giáo dục lý tưởng cách mạng , nhằm nâng cao dân trí. Kết
quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã cung cấp cho tác giả luận án một số dữ
Chí Minh là phòng bệnh hơn chữa bệnh, các biện pháp phòng bệnh gồm vệ sinh
môi trường, vệ sinh cá nhân, ăn ở sạch sẽ, thể dục thể thao.
Tóm lại, trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã luận giải tư
tưởng Hồ Chí Minh về sức khỏe con người, các biện pháp để chăm sóc sức khỏe
con người, vai trò của người thầy thuốc trong việc chữa, trị và chăm sóc sức khỏe
con người. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cung cấp cho tác giả luận án
một số dữ liệu để tác giả luận án phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng và
chăm sóc sức khỏe con người về mặt thể lực. Đồng thời gợi mở cho tác giả luận
án nghiên cứu thực trạng tâm lực của con người Việt Nam hiện nay.
1.1.2.4. Một số tư liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển
năng lực thẩm mỹ của con người
Trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học và mỹ học của Cù Huy Chử,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, đã tập trung phân tích di sản tư
tưởng mỹ học Hồ Chí Minh ở các khía cạnh: quan niệm và hành động của Hồ Chí
Minh về nghệ sĩ cũng là chiến sĩ; cái đẹp, đối với Hồ Chí Minh, là cuộc sống con
người trong cõi đời có thật, toàn vẹn, phong phú, vận động biến đổi và đầy say
mê; thống nhất, hài hòa cái cổ truyền và hiện đại, thời đại, góp phần tạo nên
truyền thống mới; phát hiện nâng cao, sáng tạo giá trị con người trong tư tưởng
thẩm mỹ của Hồ Chí Minh.
Trong Giáo trình mỹ học Mác - Lênin do Vũ Trọng Dung (chủ biên), Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008, đã phân tích tư tưởng mỹ học của Hồ
Chí Minh ở các phương diện: mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống con
người, xây dựng nền văn hóa nghệ thuật mới mang tính dân tộc, tính nhân dân,
tính hiện thực, tính thời đại, phải có sự giao lưu văn hóa.
Bài Giáo dục, hướng dẫn thị hiếu văn hóa, nghệ thuật cho quần chúng
14
trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng con
người mới, văn hóa mới của Nguyễn Trung Thu, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
– Sự thật, Hà Nội, 2013, tác giả đã phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về một số
15
thể của tư tưởng đó và nêu ra những ý kiến đặc sắc. Kết quả của các công trình
nghiên cứu đó, một mặt, là những dữ liệu để tác giả luận án kế thừa, mặt khác, gợi
mở hướng nghiên cứu các vấn đề mới của luận án về vấn đề con người, xây dựng
con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh; thực trạng xây dựng con người Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới qua sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.1.3. Các tư liệu nghiên cứu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
con người đối với việc xây dựng con người ở Việt Nam hiện nay
Ở các tư liệu nghiên cứu này, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu
tiêu biểu:
Trong luận án tiến sĩ Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào
tạo thanh niên ở nước ta hiện nay của Đoàn Nam Đàn, bảo vệ năm 2000, đã phân
tích tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo thanh niên. Trên cơ sở của sự
phân tích đó, tác giả phân tích thực trạng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục – đào tạo thanh niên ở nước ta hiện nay trong các nội dung:
thực hiện quan điểm toàn diện; thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý
luận gắn liền với thực tiễn; sự kết hợp gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội
trong việc giáo dục – đào tạo thanh niên; công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên
vào các tổ chức đoàn thể để giáo dục. Theo tác giả, kết quả của sự vận dụng này
đã phát triển được những năng lực sẵn có của thanh niên, tạo nên những thanh
niên là những công dân hữu ích cho đất nước. Tuy nhiên, việc chăm lo giáo dục –
đào tạo thanh niên vẫn còn bất cập và hạn chế, đòi hỏi cần phải có một giải pháp
hữu hiệu để khắc phục tình trạng đó.
Luận án tiến sĩ Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân
tố con người trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay của Lê
Quang Hoan, bảo vệ năm 2000, đã phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của
con người đối với sự phát triển xã hội và việc xây dựng con người mới xã hội chủ
nghĩa là một chiến lược cơ bản lâu dài ở Việt Nam. Từ việc phân tích đó, tác giả
Trong cuốn Bồi dưỡng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho
đội ngũ cán bộ doanh nghiệp quân đội của Đặng Sỹ Lộc, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, đã đi sâu phân tích và luận giải khoa học cơ sở
lý luận, thực tiễn, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản, đồng bộ nhằm
nâng cao chất lượng bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ doanh
nghiệp quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bài Những định hướng chính trị cơ bản đối với sự phát triển xã hội theo
quan điểm của Hồ Chí Minh của Nguyễn Đình Hòa, Tạp chí Triết học số 9, 2012,
tác giả luận giải nhằm làm rõ những định hướng chính trị cơ bản đối với sự phát
triển của dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những định hướng chính trị
17
cơ bản đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là định hướng chính trị
cốt lõi, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của sự nghiệp cách mạng cũng như chiến lược
xây dựng và phát triển xã hội. Dân sinh hạnh phúc là định hướng chính trị thể
hiện giá trị của độc lập dân tộc, bản chất nhân đạo, tính ưu việt của chủ nghĩa xã
hội. Dân chủ là định hướng chính trị khẳng định vị thế, vai trò người của nhân
dân trong xã hội. Tất cả những định hướng chính trị đó, xét đến cùng, đều hướng
đến mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Bài Quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị
cho cán bộ, đảng viên của Lê Văn Yên, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8, 2012, từ
việc luận giải quan điểm có tính chất nền tảng của Hồ Chí Minh về công tác giáo
dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, theo tác giả, trong giai đoạn hiện nay,
do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống với những biểu hiện khác
nhau như sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân nên việc giáo dục lý
luận chính trị cho cán bộ, đảng viên là hết sức cần thiết, là yêu cầu khách quan.
Để làm tốt công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên cần phải nắm
vững quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò, mục đích, nội dung, yêu cầu,
phương pháp giáo dục.
Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy, các tác giả của các công trình nghiên
đạo cơ bản để phát triển văn hóa: xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, xây dựng và
phát triển văn hóa là một sự nghiệp phát triển lâu dài. Tác giả cũng nhấn mạnh
quan điểm của Đảng về nhiệm vụ phát triển văn hóa nhằm phát triển con người:
xây dựng môi trường văn hóa, phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo và khoa học
công nghệ, mở rộng và hợp tác quốc tế về văn hóa, xây dựng con người Việt Nam
với các đức tính yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc…
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong thời
kỳ đổi mới, quan điểm của Đảng ta luôn hướng đến vấn đề: văn hóa dù ở khía
cạnh rộng hay hẹp khác nhau đều hướng đến tính nhân sinh của nó như một nhân
tố quan trọng, một mặt trận không thể thiếu trong sự nghiệp cách mạng của mình.
Nghiên cứu quan điểm đó của Đảng có Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn
hóa trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Danh Tiên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2012. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả tiếp cận nhiệm vụ
trọng tâm của cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa mà Đảng ta đã xác định, đó là
xây dựng một nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Từ cách tiếp
cận đó, tác giả nghiên cứu: quá trình trình bổ sung và phát triển đường lối văn hóa
từ 1986 – 1991; quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa từ 1991 –
1996; Đảng chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa trong những năm đầu đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Đảng chỉ đạo xây dựng và phát
19
triển văn hóa trong những năm thập kỷ đầu thế kỷ XXI nhằm hướng đến mục tiêu
phát triển con người của Đảng. Trong đó, tác giả tập trung nhấn mạnh đến việc
chỉ đạo xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh, tăng cường xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây
dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới trên cơ sở kế thừa
những truyền thống tốt đẹp của ông cha ta như tinh thần yêu nước, tinh thần tự
cường dân tộc, có ý chí đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu…
Qua trên, chúng ta thấy, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận quan điểm
cơ sở nghiên cứu con người Việt Nam trong lịch sử, tác giả nghiên cứu con
người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới là: giàu lòng nhân ái, thông minh, linh
hoạt, chăm chỉ, cần cù, siêng năng, có tư duy tốt về các khoa học trừu
tượng Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ rõ một số hạn chế của con người Việt
Nam: dễ thỏa mãn, thích tận hưởng, có phần ngạo mạn, dễ thỏa lòng với cái đã
có, ít nghĩ đến cái phải có, cần có. Theo tác giả, trong xã hội hiện đại, cần phải
dần khắc phục một số hạn chế về lối sống trong xã hội nông nghiệp của con
người Việt Nam để tiến tới tương lai.
Trong cuốn Con người và phát triển con người của Hồ Sĩ Qúy, Nhà xuất
bản Giáo dục, Hà Nội, 2007, trên cơ sở một số vấn đề lý luận về con người và
phát triển con người, một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên
cứu con người, tác giả nghiên cứu vấn đề xây dựng con người Việt Nam đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Trong đó, tác giả tập trung vào các nội
dung: đổi mới nhận thức lý luận về con người, về vai trò nhân tố con người, vị trí
của con người trong sự phát triển; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Giáo trình Triết học Mác – Lênin của Bộ Giáo dục Đào tạo do Đoàn
Quang Thọ (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2008, đã
bàn về vấn đề xây dựng con người Việt Nam hiện nay với các phẩm chất và tiêu
chí nhất định. Theo tác giả, để đạt được mục tiêu xây dựng con người cần phải
trên cơ sở từ lý luận về con người đến con người Việt Nam hiện thực, cần tập
trung vào các lĩnh vực chủ yếu nhất của xã hội, như kinh tế, chính trị, giáo dục -
đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa.
Trong cuốn Lý luận và thực tiễn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của
Vũ Văn Phúc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, với nhiều hướng
tiếp cận phong phú, cách phân tích lý giải những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin và thực tiễn của Việt Nam, tác giả nhấn mạnh đến việc phát triển con
người. Tác giả cho rằng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải hướng
vào giải phóng con người lao động khỏi sự nô dịch, làm cho đời sống của con
Qua trên, chúng ta thấy rằng tác giả đã khái quát một bức tranh chung về
các phẩm chất của con người Việt Nam; vai trò của con người đối với sự phát
triển của xã hội; một số mặt tích cực và hạn chế về phát triển con người qua việc
phát triển xã hội, giải phóng con người, phát triển các mặt đức, trí, thể, mỹ. Kết
quả của sự khái quát đó giúp tác giả luận án có cách nhìn khoa học về vai trò của
22
con người trong sự nghiệp đổi mới theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
qua sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.2.2.2. Một số tư liệu nghiên cứu vấn đề xây dựng con người ở các khía
cạnh cụ thể
Thứ nhất, một số tư liệu nghiên cứu bàn đến vấn đề chăm lo đời sống vật
chất của nhân dân
Trong cuốn Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi
mới của Nguyễn Thị Thanh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, đã
phân tích quá trình thực hiện các chính sách xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong đó tác giả đặc biệt chú ý đến vấn đề xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống
vật chất của nhân dân.
Trong cuốn Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội
trong 25 đổi mới (1986 - 2011) của Đinh Xuân Lý, Nhà xuất bản Đại học quốc
gia Hà Nội, 2011, tác giả đã phân tích kết quả thực hiện chính sách xã hội 1986 -
2011, trong đó có đề cập đến công tác xóa đói, giảm nghèo. Tác giả chỉ rõ, trong
xóa đói giảm nghèo, chúng ta đã từng bước xây dựng được kết cấu cơ sở hạ tầng
thiết yếu cho các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn, tăng thu nhập bình quân cho
người nghèo; người nghèo được tiếp cận nhiều hơn với các nguồn lực kinh tế và
dịch vụ xã hội. Những thành tựu đó đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
của con người Việt Nam.
Cuốn Chính sách xóa đói giảm nghèo thực trạng và giải pháp do Lê Quốc
Lý (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012, đã luận
giải về đói nghèo, thực trạng đói nghèo ở Việt Nam, những chủ trương đường
độ cao của nguồn lực trí tuệ ở nước ta trong kỷ nguyên mới, theo tác giả, cần phải
xây dựng một hệ thống các giải pháp có tác dụng tạo ra động lực to lớn để giải
phóng, khơi dậy các tiềm năng trí tuệ. Trong hệ thống các giải pháp đó thì giáo
dục đào tạo là giải pháp cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định quá trình hình thành
thành và phát triển nguồn lực trí tuệ của con người Việt Nam.
Công trình nghiên cứu Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với
vấn đề đào tạo người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ của Bùi Thanh Đức, bảo vệ năm 2002, tác
giả tập trung vào việc phân tích trình độ trí tuệ của người lao động Việt Nam
hiện nay (từ thực tiễn Đồng bằng sông Cửu Long). Từ sự phân tích đó, tác giả
nhận định thách thức lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt hiện nay là chất lượng
của nguồn lực trí tuệ.
Nguồn lực trí tuệ Việt Nam – lịch sử, hiện trạng và triển vọng của Nguyễn
Văn Khánh (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, đã cung
cấp một bức tranh tổng thể về tình hình, thực trạng và triển vọng của nguồn lực
24
Việt Nam. Từ những luận chứng khoa học và xúc tích, các tác giả đã tập trung
vào việc đánh giá nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt
tập trung vào việc phân tích quá trình xây dựng và phát triển nguồn lực trí tuệ
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, những yếu tố thúc đẩy, cản trở việc xây dựng và
phát triển nguồn lực trí tuệ này.
Bài Phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Nguyễn Duy Bắc, vn.does.doedat.com, đã
phân tích thực trạng của giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, chỉ ra những
mặt đã đạt được, chưa đạt được của nền giáo dục, nhất là giáo dục về trí lực. Trên
cơ sở đó, tác giả nêu ra một số giải pháp phát triển giáo dục - đào tạo hiện nay
nhằm nâng cao trình độ dân trí.
Qua phân tích ở trên cho chúng ta thấy đã có một số tư liệu bàn đến vấn đề
phát triển con người về mặt trí tuệ, trong đó tập trung vào việc phân tích trình độ
khỏe là thể hiện của yếu tố xã hội đối với sức khỏe. Theo đó, tác giả chỉ ra các
nguy cơ về sức khỏe tâm thần trong nền kinh tế thị trường: các rối loạn hành vi
của thanh niên, tự sát, lạm dụng chất, trầm cảm Tác giả cho rằng, sự nghiệp
chăm sóc sức khỏe chỉ có thể thực hiện được khi công tác y tế phải được xã hội
hóa cao, phải được các nhà quản lý, các nhà hoạt động kinh tế, mọi công dân coi
sức khỏe – chất lượng cuộc sống là mục tiêu của chính mình, con người phải có
hiểu biết đầy đủ về ảnh hưởng của môi trường sống (môi trường sinh học – xã
hội) tới sức khỏe con người.
Trong cuốn Các bệnh thần kinh và bệnh xã hội của Minh Nguyệt, Nhà xuất
bản Thanh niên, Hà Nội, 2005, tác giả đã nghiên cứu về các bệnh thần kinh như
bệnh lo âu, bệnh ám ảnh, bệnh hưng phấn, bệnh trầm cảm, đó là những loại bệnh
làm cho thể chất cũng như tinh thần của bệnh nhân sa sút một cách đáng lo ngại.
Theo đó, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp để kịp thời chữa trị bệnh.
Kết quả nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của các nhà khoa học giúp tác giả
luận án có những hiểu biết về tâm bệnh, nguyên nhân và một số biểu hiện của
nó. Trên cơ sở của sự hiểu biết đó, tác giả luận án có thể lý giải một số vấn đề về
sức khỏe tâm thần của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay dưới góc
độ triết học.
Bên cạnh đó, cũng liên quan đến vấn đề sức khỏe con người còn có một số
tư liệu:
Những con số choáng về an toàn vệ sinh thực phẩm, http://hn.24h.com.vn,
21 – 12 – 2010; Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm và giải pháp của Trà
Giang, http://www.t5g.org.vn, 21 – 04 – 2010; Bức tranh toàn cảnh về vệ sinh và
an toàn thực phẩm ở Việt Nam, Châu Bội, http://tamnhin.net. 16 – 05 – 2011; Gỡ
“nút” giảm tải bệnh viện, http://doithoaitre.vtv.vn, 22 – 01 – 2013; Hội nghị công