Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 NGUYỄN XUÂN TRUNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO
VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO CÔNG CUỘC
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Chuyên ngành : TRIẾT HỌC
Mã số : 602280 Người hướng dẫn:
PGS.TS. PHẠM NGỌC ANH HÀ NỘI - 2008

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO
6
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở
Việt Nam
6

1.Tính cấp thiết của đề tài
Có một thời gian dài, nhiều người đã đánh giá thấp vai trò, vị trí của tôn
giáo. Họ cho rằng cùng với sự phat triển chín muồi của chủ nghĩa xã hội thì tôn
giáo sẽ nhanh chóng mất đi. Nhưng thực tế đã chứng minh ngược lại: Tôn giáo
không những không mất đi mà trong những năm tháng cuối thế kỷ XX và đầu
thế kỷ XXI, tôn giáo ở nhiều nơi đã hồi sinh trở lại và phát triển mạnh mẽ, kèm
theo đó là những vấn đề phức tạp cần được giải quyết.
Tình hình phát triển tôn giáo ở Việt Nam cũng không phải là trường hợp
ngoại lệ, đặc biệt là những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới dân chủ hóa,
sinh hoạt tôn giáo bắt đầu hồi sinh và có xu hướng phát triển mạnh hơn trước với
nhiều màu sắc mới. Sự phát triển mạnh mẽ của tôn giáo tất yếu sẽ nảy sinh
những vấn đề phức tạp về văn hóa - xã hội, an ninh quốc gia đòi hỏi chúng ta
phải có đường lối, chủ trương, chính sách giải quyết thỏa đáng. Hơn nữa, trong
sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh hiện nay, một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặt ra là đoàn kết dân
tộc, đoàn kết tôn giáo nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân,
để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống mọi âm mưu chia rẽ dân tộc, lợi dụng tôn
giáo của các thế lực thù địch, phản động chống phá sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn khẳng định: Cùng với chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và
toàn dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hề thống lý luận toàn diện sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề đại đoàn kết
dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh
đã có những quan điểm độc đáo, đặc sắc, những cách làm hiệu quả, thiết thực để

2
xây dựng khối đại đoàn kết dan tộc, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam. Những quan
điểm và cách làm sáng tạo này tạo nên di sản quý báu mà Hồ Chí Minh để lại
cho toàn Đảng, toàn dân ta, cần phải biết kế thừa, phát huy qua các giai đoạn

Minh về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và đoàn kết tôn giáo nói riêng.
Một công trình quan trọng khác là kỷ yếu đề tài “Chủ nghĩa Mác - Lênin
về vấn đề tôn giáo” của Trung tâm khoa học về tín ngưỡng tôn giáo, thuộc Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998. Đây là tài liệu tham khảo tốt
cho những người đang nghiên cứu đề tài này. Các tác giả của công trình đã giới
thiệu tổng quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.
Trong cuốn “Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh”, Nxb Lao động, Hà
Nội, năm 1999, tác giả Đỗ Quang Hưng đã đề cập đến “Vấn đề tôn giáo tín
ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh”. Hoăc cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
tôn giáo và công tác tôn giáo”, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003 do Lê Hữu
Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ đồng chủ biên đã đề cập tới rất nhiều khía cạnh, góc
độ khác nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo.
Ngoài ra, có thể kể đến các bài nghiên cứu đăng trên các báo và tạp chí
sau đây: Đỗ Quang Hưng (1999), “Vấn đề tôn giáo tín ngưỡng trong tư tưởng
Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1/1999; Nguyễn Đức Lữ
(3/1995), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đoàn kết lương - giáo”, Tạp chí Lịch sử
Đảng; Nguyễn Ngọc Hà (1/1996) “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
tôn giáo”, Tạp chí Lịch sử Đảng; Lê Đại Nghĩa (2001), “Về tư tưởng đoàn kết
lương giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số
1/2001

4
Các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu quý giá giúp tôi kế
thừa được những thành quả cả về nội dung và phương pháp. Tuy nhiên, đó cũng
chỉ là những ý kiến đơn lẻ trong các bài viết ngắn và phân tán; hoặc là những ý
kiến đánh giá, nhìn nhận vấn đề dưới góc độ hẹp riêng của từng tác giả mà thôi.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này vẫn cần phải tiếp tục mở rộng và đi sâu hơn nữa.
Đặc biệt là sự vận dụng tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh trong giai
đoạn hiện nay vẫn còn là một vấn đề đòi hỏi phải được quan tâm và làm sáng tỏ
toàn diện. Vì thế, tôi tiếp tục nghiên cứu”Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn

tôn giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và logic,
phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu - so sánh phương pháp
văn bản học và phân tích tình huống để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của
luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn đã trình bày một cách tương đối có hệ thống và toàn diện
những nội dung cơ bản về đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái
quát những sáng tạo lý luận đó của Người trong lĩnh vực này.
- Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn tư tưởng Hồ
Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6
Luận văn góp phần khẳng định tính cách mạng và khoa học của tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và ý nghĩa chỉ đạo của tư tưởng này trong sự
nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng
dạy và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo của các trường Chính trị và các
cơ quan chuyên ngành tôn giáo hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 02 chương, 07 tiết.
Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tính cố kết cộng đồng chặt chẽ, ý chí độc lập tự
chủ, lòng dũng cảm, đức tính cần cù, sáng tạo, năng động và lạc quan.
Trong các giá trị truyền thống đó, truyền thống đoàn kết gắn bó của dân
tộc được thể hiện một cách tập trung và nổi bật nhất, nó trở thành giá trị bền

8
vững nhất của dân tộc, luôn luôn được gìn giữ và phát triển từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Nó ăn sâu vào tiềm thức và trở thành tình cảm tự nhiên.
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng”
Đã trở thành triết lý nhân sinh:
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa truyền thống quý báu đó của dân tộc.
Người đã khái quát: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần
yêu nước lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt
qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp
nước” 39,171. Bên cạnh việc tiếp thu truyền thống đấu tranh của dân tộc Việt
Nam, trên con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp thu nhiều giá trị tinh hoa
của các nền văn hóa Đông - Tây. Người đã tiếp thu những giá trị tích cực của
đạo đức Nho giáo. Người đã nhắc đến tư tưởng “thế giới đại đồng” của Khổng
Tử và gọi ông là “Ông Khổng Tử vĩ đại”. Bên cạnh những giá trị nhân văn tích
cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh còn kế thừa những tư tưởng từ bi, hỷ xả, vô ngã
vị tha và tư tưởng “ lục hòa” của nhà Phật. Người tiếp thu tư tưởng về tập hợp
lực lượng cách mạng nổi tiếng đương thời như Mahatma Gandhi, Tôn Trung Sơn
và nhất là những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về đoàn kết tập hợp lực
lượng cách mạng với những khẩu hiệu nổi tiếng, có tính chất chiến lược như:
“Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại” (C. Mác). “Vô sản tất cả các nước và các
dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại” (Lênin).
Đặc điểm khoan dung trong tôn giáo Việt Nam cũng là cơ sở quan trọng


10
sung, hỗ trợ cho nhau. Nho giáo lo tổ chức trật tự xã hội; Đạo giáo chăm lo thể
xác con người thư thái, khỏe mạnh; Phật giáo lo cứu khổ và những chiêm
nghiệm tâm linh. Ba tôn giáo này đều được người Việt Nam tôn trọng vì giáo lý
không đi ngược lại đạo đức căn bản của dân tộc, trái với thuần phong mỹ tục của
nhân dân, không trái với lợi ích của cộng đồng, của đất nước. Có thể nói, tính
bao dung tín ngưỡng, tư tưởng tự do tín ngưỡng thuộc nếp nghĩ, nếp sống bình
thường của người Việt Nam là cơ sở của sự đoàn kết lương - giáo trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước
Như vậy truyền thống khoan dung trong tôn giáo Việt nam là một trong
những cơ sở hình thành tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Người đã tiếp thu sâu sắc tư tưởng khoan dung tôn giáo của dân tộc trên một tầm
cao mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời Người xử lý một cách sáng tạo và
linh hoạt vấn đề tôn giáo để đảm bảo đoàn kết tôn giáo, thực hiện mục tiêu cao
cả của cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, kiên quyết chống lại
mọi âm mưu của các thế lực thù địch chia rẽ tôn giáo hòng phá hoại cách mạng.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Các giai cấp thống trị phản động không chỉ ở Việt Nam mà ở cả trên thế
giới đều lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng. Chức năng của tôn giáo là
đền bù hư ảo, khỏa lấp sự thiếu hụt về nhận thức và là nhu cầu về tinh thần của
một bộ phận đông đảo nhân dân trong xã hội. Giai cấp thống trị đã lợi dụng các
tổ chức tôn giáo để “ru ngủ” phong trào đấu tranh của quần chúng hoặc mê hoặc
quần chúng để dễ bề cai trị. Theo C. Mác và Ph. Ăngghen: tôn giáo “ngày càng
trở thành vật sở hữu độc quyền của các giai cấp thống trị, chúng dùng nó làm
phương tiện cai trị đơn giản nhằm đàn áp các giai cấp lớp dưới. Hơn nữa, mỗi
giai cấp thống trị đều sử dụng tôn giáo phù hợp với mình” 78, 448.

11
Ở Việt Nam, tôn giáo tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh đất nước trải

dụng tổ chức này để chống phá lực lượng cách mạng.
Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ đã tìm cách đưa hàng triệu tín đồ
đồng bào công giáo di cư do Thích Tâm Chân đứng đầu
Trong các tôn giáo ở Việt Nam, đạo công giáo là một trong những tôn
giáo có nhiều vấn đề phức tạp nhất. Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của
quá trình truyền bá, phát triển và tồn tại, đạo Công giáo ở Việt Nam bao giờ
cũng hàm chứa những yếu tố chính trị, xã hội rất quan trọng đòi hỏi phải tập
trung giải quyết. Có thể nói rằng, giải quyết vấn đề kẻ thù lợi dụng đạo Công
giáo nhằm phá hoại lưc lượng cách mạng của nhân dân là nhiệm vụ khó khăn
nhất trong toàn bộ qúa trình giải quyết vấn dề tôn giáo ở nước ta.
Điều này đã được chứng minh qua các giai đoạn lịch sử của dân tộc trước
đây:
Ngay từ giữa thế kỷ XVII, để thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam, thực
dân Pháp đã cấu kết với hội Thiên chúa giáo ở Pháp, cử nhiều giáo sỹ đến Việt
Nam để truyền giáo. Các giáo sỹ này là “đội quân tiên phong” của các binh đoàn
viễn chinh đã sẵn sàng hiến thân vì lợi ích của nhà nước thực dân, hòng phục vụ
đắc lực cho âm mưu và hoạt động xâm lược nước ta của thực dân Pháp. Athomai
đã dẫn lời của giáo sỹ AlexangĐrot kêu gọi rằng: “Đây là vị trí cần phải chiếm
lấy và chiếm được vị trí này, thương gia Châu Âu sẽ tìm được một nguồn tài
nguyên và lợi nhuận dồi dào” 79, 13. “Sự gắn bó giữa truyền giáo và thực dân
ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XVII trở đi cho đến hết thế kỷ XIX, tuy có lúc chặt
chẽ, có lúc lỏng lẻo, song xét đến cùng chỉ là hai động thái thể hiện một xu thế
duy nhất, xu thế bành trướng của chủ nghĩa tư bản đến Việt Nam, trong đó

13
truyền giáo đóng vai trò đắc lực để thực dân Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc
địa” 56,59.
Như vậy, rõ ràng trong từng thời kỳ lịch sử, đặc biệt là thời kỳ chống Pháp
và chống Mỹ, các thế lực thực dân đế quốc luôn lợi dụng tôn giáo dưới mọi hình
thức, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc và tôn giáo;

điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã thực hiện một cách sáng tạo tư tưởng
sau đây của Lênin: “Đấu tranh chống các hành vi tôn giáo phải cực kỳ thận
trọng, trong cuộc đấu tranh này, ai làm tổn hại đến tình cảm tôn giáo, người đó
sẽ bị thiệt hại lớn. Cần phải đấu tranh bằng tuyên truyền, bằng giáo dục. Nếu
hành động thô bạo, chúng ta sẽ làm cho quần chúng tức giận; hành động như vậy
sẽ gây thêm chia rẽ trong quần chúng về vấn đề tôn giáo, mà sức mạnh của
chúng ta là sức mạnh đoàn kết” 77, 521.
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc âm mưu thâm độc của thực dân, đế quốc và
bọn tay sai phản động trong việc lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng
ở nước ta, Hồ Chí Minh đã đề ra một chiến lược cách mạng đúng đắn - chiến
lược đại đoàn kết toàn dân trong đó đoàn kết tôn giáo giữ một vị trí đặc biệt quan
trọng.
Qua sự trình bày trên ta thấy: tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
ở Việt Nam được hình thành từ những nhân tố cơ bản: Truyền thống đoàn kết,
khoan dung tôn giáo của dân tộc; thực tiễn lịch sử đấu tranh của nhân dân chống
lai âm mưu lợi dụng tôn giáo, chia rẽ tôn giáo để chống phá cách mạng của các
lực lượng bè lũ tay sai. Đồng thời trên nền tảng tư tưởng chủ nghia Mác - Lênin,
căn cứ vào tình hình thực tiễn quốc tế và cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã
đề ra tư tưởng đoàn kết tôn giáo trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của mình.

15
Đây là một tư tưởng sâu sắc, khoa học, giàu tính cách mạng và thực tiễn của
Người trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chống lại mọi sự kỳ thị tôn giáo,
củng cố khối đoàn kết toàn dân, tăng cường nguồn lực nội sinh của dân tộc
trong cuộc cách mạng vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc. Vì thế, đoàn kết tôn giáo
làm thành một nội dung không thể thiếu được của chủ nghĩa nhân văn và tinh
thần khoan dung Hồ Chí Minh - những giá trị làm nên sức hấp dẫn, sức sống và
năng lực phát sáng trong tư tưởng của Người.
1.2. Nội dung đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo

Tuy nhiên, do hạn chế tầm nhìn của thời đại và nhãn quan chính trị, tư
tưởng đoàn kết của Phan Bội Châu không tránh khỏi những điều bất cập. Ông
không đặt ra vấn đề phải phân biệt rõ ràng giữa người dân Công giáo yêu nước
chân chính với kẻ đội lốt thiên chúa giáo cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp.
Trong vấn đề đoàn kết lương giáo có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là
người dầu tiên thực hiện thành công chủ trương, chính sách đoàn kết lương giáo.
Người kêu gọi đoàn kết lương giáo không chỉ nhằm xóa đi nhiều thành kiến vốn
có trong quá khứ mà còn nhằm chống lại chính sách chia rẽ lương giáo nguy
hiểm của bọn thực dân, phong kiến; nhằm tăng cường lực luợng đáp ứng những
yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, không chỉ kháng chiến mà cả kiến quốc,
không chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà cả trong cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
Để phát huy sức mạnh của đoàn kết lương giáo chống lại âm mưu chia rẽ
phá hoại cách mạng của kẻ thù, ngay tại cuộc họp đầu tiên của hội đồng Chính
phủ cách mạng lâm thời ngày 3/ 9/1945, khi đề cập đến nhiệm vụ cấp bách của

17
Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quyết tâm và
lập trường của Chính phủ đối với vấn đề tôn giáo. Người nói: “Thực dân và
phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào công giáo và đồng bào lương để
dễ bề thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo
đoàn kết” 39, 9.
Xuất phát từ nhiệm vụ bức xúc của cách mạng dân tộc dân chủ, Hồ Chí
Minh đã đưa ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào các dân tộc Việt Nam, trong đó có
đồng bào các tôn giáo hãy đoàn kết lại để cùng nhau thực hiện cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc. Ngày 19/12/1946, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Hỡi đồng bào
Chúng ta phải đứng lên
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo,

Như vậy, so với tư tưởng của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, về nguyên
tắc, Hồ Chí Minh không có gì khác biệt nhưng mục tiêu cũng như chiến lược
đoàn kết đã được cụ thể hóa cho phù hợp với tình hình và hoàn cảnh Việt Nam.
Nếu ở C. Mác, Ph. Ăng ghen, V.I. Lênin, mục đích là chủ nghĩa xã hội thì ở Hồ
Chí Minh là nước độc lập, dân tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc và học
hành. Đối tượng đoàn kết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin là công - nông
thì ở Hồ Chí Minh là mọi người Việt Nam yêu nước, là đồng bào giáo và đồng
bào lương
Do đối tượng của chiến lược đoàn kết được mở rộng nên nội dung và hình
thức của nó cũng được mở rộng. Có thể nói, ở Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo,
đoàn kết dân tộc được khái quát trong 6 chữ: “Rộng rãi -Toàn diện - Lâu dài”.

19
Đoàn kết được thể hiện cả trong kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội. Đoàn kết
không phải là một thủ đoạn chính trị mà là một chiến lược nhất quán. Người nói:
“Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng
nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc” 39, 606.
Trung thành với nguyên tắc mác xít là muốn thay đổi ý thức xã hội thì
phải thay đổi tồn tại xã hội, Hồ Chí Minh đã khéo vận dụng nguyên tắc ấy vào
thực tế Việt nam. Người chủ trương “ý dân là ý chúa”, vì vậy “dân muốn gì ta
phải làm ấy”. Người nói: “Nguyện vọng của đồng bào giáo dân là: phần xác ấm
no, phần hồn thong dong. Muốn đuợc như thế thì phải ra sức củng cố hợp tác xã,
phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho xã viên” 44, 606.
Nhờ am tường đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, am tường đặc
điểm của đức tin tôn giáo mà Hồ Chí Minh đã có cách giải quyết đúng đắn, cũng
nhờ đó xung đột tư tưởng giữa người có đạo và người không có đạo không
những không bị khơi dậy, ngược lại có thể hòa hợp với nhau trong một mục tiêu
thống nhất - vì Tổ quốc, vì đồng bào. Theo Người, đồng bào có đạo cơ bản cũng
là người lao động, yêu nước. Họ cũng cần sung sướng và hạnh phúc, cũng cần có
cơm ăn, áo mặc và được học hành. Đó là điểm chung giữa tôn giáo và cách

điểm “đại đồng” giữa tín ngưỡng tôn giáo với sự nghiệp cách mạng. Như vậy,
do hoàn cảnh lịch sử khác nhau mà C. Mác, Ph. Ăngghen và Hồ Chí Minh có sự
ứng xử khác nhau, và trong hai trường hợp đó đều đúng. Đây là sự vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác của Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.
Và thực tế lịch sử Việt Nam đã chứng minh sự vận dụng đó là đúng đắn và sáng
tạo. Hồ Chí Minh, trong giải quyết vấn đề tôn giáo, học ở chủ nghĩa Mác - Lênin
tinh thần đổi mới và sáng tạo, chứ không câu nệ vào câu chữ.

21
Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc bản chất niềm tin tôn giáo của tín
đồ. Đó là niềm tin thiêng liêng cao cả, giữ vị trí trung tâm trong đới sống tinh
thần của các tín đồ các tôn giáo, chi phối tâm tư, tình cảm, hành vi của họ. Xúc
phạm niềm tin tôn giáo là xúc phạm tín đồ, là làm tổn thất, chia rẽ khối đoàn kết,
là mắc mưu thâm độc của kẻ thù. Bởi vậy, tôn trọng bảo đảm tự do tín ngưỡng,
đoàn kết Lương - Giáo là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Người. Hồ chí Minh
đã kết hợp khéo léo niềm tin tôn giáo vào cách mạng, vào tương lai của dân tộc.
Kính chúa và yêu nước phải kết hợp với nhau; Tốt đời đẹp đạo phải đi liền với
nhau, không thể phân chia. Bản thân Người, trong mỗi cử chỉ, lời nói, việc làm
đều thể hiện sự thông hiểu, thái độ tôn trọng, tình cảm chân thành, sự thông cảm
sâu sắc đối với đồng bào các tôn giáo. Đúng như lời nhận xét của một linh mục
khi phân tích các sự kiện liên quan đến giám mục Lê Hữu Từ: “Các lời lẽ của cụ
phê phán giáo hội không bao giờ phạm đến khía cạnh đức tin, mà chỉ nằm ở
phạm vi các vấn đề cơ chế và chính trị” 59, 76. Với những người lầm đường
lạc lối, Người kiên trì thuyết phục, cảm hóa với thái độ khoan dung, độ lượng
bằng những lời lẽ chân tình. Theo Người, họ đều là “ruột thịt”, đều là “con Lạc
cháu Hồng”, đều có lòng yêu nước nhưng do mắc mưu kẻ địch nên chưa nhận ra
lẽ phải mà thôi. Vì thế, Người luôn “mong những đồng bào đó mau giác ngộ và
quay về với kháng chiến để phụng sự Chúa, phụng sự Tổ quốc”. Chính phủ luôn
“hoan nghênh rộng rãi những con người đi lạc mới về” 41, 215. Khi nhận xét
thái độ Hồ Chí Minh với tôn giáo, Xanhtơni - một quan chức cấp cao ở Đông

thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Hồ Chí Minh quan tâm ngay
tới việc xây dựng lực lượng đoàn kết lương giáo. Người tiếp tục kêu gọi: “Phải

Trích đoạn Nguyên tắc, phương pháp đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh nghĩa của vấn đề đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tình hình đoàn kết tôn giáo ở nước ta và những vấn đề đặt ra Phương hướng và một số giải pháp cơ bản để xây dựng, củng cố, phát triển khối đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status