Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 1 Lớp K33A – GDCD
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********
SVTH: Hoàng Thị Huế 2 Lớp K33A – GDCD
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy giáo Trần Thế
Vĩnh – Người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong Trường Đại Học sư phạm Hà
Nội 2, đặc biệt là các Thầy, Cô khoa Giáo Dục Chính Trị đã giúp đỡ em trong
suốt thời gian học tập tại trường.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, cũng như bạn bè đã tạo
điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.
Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng
như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong nhận được sự chỉ bảo của Thầy, Cô cũng như những ý kiến đóng
góp của các bạn sinh viên!
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Tác giả đề tài Hoàng Thị Huế
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 3 Lớp K33A – GDCD
3. Mục đích và nhiệm vụ 9
4.Đối tượng và phạm vị 9
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6.Đóng góp mới về khoa học của khóa luận 10
7. Kết cấu 10
Chương I: Cơ sở, lý luận và thực tiễn của vấn đề bình đẳng giới 11
1.1 Khái niêm và vị trí của bình đẳng giới trong đời sống xã hội 11
1.1.1 Bình đẳng 11
1.1.2 Bình đẳng giới 11
1.2 Một số lý luận về bình đẳng, bình đẳng giới 13
1.2.1 Một số quan niệm ngoài Mácxit về bình đẳng, bình đẳng giới 13
1.2.2 Một số quan niệm Mácxit về bình đẳng, bình đẳng giới 15
1.2.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về thân phận của người phụ nữ trong
xã hội cũ 19
1.2.4 Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới 21
Chương II: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 23
2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 23
2.1.1 Hồ Chí Minh đã đánh gia cao vị thế, vai trò người phụ nữ trong xã
hội 23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 5 Lớp K33A – GDCD
2.1.2 Hồ Chí Minh đã khơi dậy những tiềm năng to lớn ở phụ nữ 25
2.1.3 Chỉ ra những thiêú xót, hạn chế 26
2.1.4 Đảng, Nhà nước phải quan tâm tới phụ nữ bằng chính sách, bằng
pháp luật, bằng những đối xử bình đẳng, được học tập, được bồi dưỡng,
được cử vào các chức vụ lãnh đạo quản lý 26
2.1.5 Các biện pháp cụ thể để thực hiện giải phóng phụ nữ 30
2.2 Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới trong một số lĩnh
vực và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 33
2.2.1 Trong đời sống xã hội 34
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 7 Lớp K33A – GDCD
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, sự tiến bộ của con người được xem là tiêu chuẩn cao nhất
của phát triển xã hội. Sự phát triển xã hội đòi hỏi phải đem lại công bằng,
bình đẳng cho mọi người (cả nam và nữ) trong cơ hội và điều kiện cống hiến
cũng như hưởng thụ các thành quả của phát triển.Điều này hoàn toàn phù hợp
với mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, cuộc cách mạng được
xem là triệt để nhất trong lịch sử nhân loại.
Trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển, việc chăm lo nguồn lực con người là một nhân tố quyết định
thành công của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam. Chăm lo phát triển nguồn lực con người hướng vào cả nam và nữ với
các tiêu chí: Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thẻ chất, phong phú về
tình cảm, đạo đức.
Cuối thế kỷ XX, các quốc gia đều đạt những thành tựu quan trọng về
phát triển con người. Nhưng đem so sánh chỉ số phát triển giữa nam và nữ,
chúng ta nhận thấy rằng sự phát triển năng lực của phụ nữ ở tất cả các quốc
gia còn thấp hơn nam giới, đặc biệt tại các quốc gia chậm phát triển.
Là một nước nông nghiệp, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam trong những thập kỷ tới tập trung trước hết cho nông nghiệp và
nông thôn.Quá trình này đòi hỏi phải phát huy mọi nguồn lực,đặc biệt là
nguồn lực con người.Theo thống kê, phụ nữ chiếm 56% lao động trong nông
,lâm nghiệp, đảm đương 75% công việc của nhà nông, họ đang đóng góp
phần quan trọng đưa Việt Nam vào hàng thứ hai về xuất khẩu gạo và cà phê
trên thế giới.Phụ nữ không chỉ tham gia sản xuất mà còn làm phần lớn công
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
cho đến những năm 60.Song có lẽ việc nghiên cứu về phụ nữ và gia đình ở
Việt Nam chỉ được đặt ra và giải quyết như một bộ môn từ năm 1987 với sự
ra đời Trung tâm Nghiên cứu phụ nữ (sau đổi thành Trung tâm Nghiên cứu
khoa học về gia đình và phụ nữ năm 1993).Cho đến nay,ở Việt Nam đã có
nhiều trung tâm nghiên cứu về phụ nữ và gia đình như:
-Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển.
-Trung tâm Nghiên cứu lao động nữ thuộc Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội.
-Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo về phụ nữ-Đại học Quốc gia Hà
Nội.
-Khoa phụ nữ học-Trường Đại học Mở, Thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù thời gian chưa nhiều nhưng được sự quan tâm của Đảng, Nhà
nước, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và sự tâm huyết của nhiều nhà khoa
học,một số vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu phụ nữ và gia đình Việt
Nam đã được đặt ra,xem xét và có hướng giải quyết đúng đắn, trong đó có
những chủ đề nghiên cứu về phụ nữ và gia đình.
Nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành độc lập hoặc tổ chức liên
ngành mà kết quả đã được công bố. Nhiều cuộc hội thảo được tổ chức đã góp
phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu
bình đẳng giới.Nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu và xuất bản nhiều tác
phẩm có giá trị như: ''Phụ nữ, giới và phát triển" của tiến sĩ Trần Thị Vân
Anh và tiến sĩ Lê Ngọc Hùng, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996; "Phụ nữ và bình
đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam" của giáo sư Lê Thi, Nxb Phụ nữ, Hà
Nội, 1998 là những tác phẩm đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ nữ
và gia đình theo phương pháp tiếp cận giới - một phương pháp nghiên cứu
mới mẻ nhưng rất hiệu quả.Các công trình trên đã nghiên cứu về giới, phụ nữ
và giải phóng phụ nữ trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 10 Lớp K33A – GDCD
Trước tình hình đó, em mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: logic và lịch
sử, phân tích và tổng hợp, kết hợp nghiên cứu lý thuyết với điều tra xã hội
học.
6. Đóng góp mới về khoa học của khóa luận:
Bước đầu khóa luận đã kết hợp quan điểm mácxit, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam với phương pháp tiếp cận giới
trong xem xét, lý giải vấn đề bình đẳng giới. Sự kết hợp này được coi là bước
phát triển logic của quá trình nhận thức, làm sáng tỏ hơn vấn đề lý luận về
giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới.
Khóa luận đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sự bình đẳng về
giới, coi đây là một tiền đề, tiền đề quan trọng nhằm phát huy nguồn nhân lực
hiện nay.
7. Kết cấu:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở, lý luận và thực tiễn về vấn đề bình đẳng giới.
Chương II: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới.
Chương III: Giải pháp nâng cao bình đẳng giới trong giai đoạn hiện
nay. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 12 Lớp K33A – GDCD
CHƯƠNG I: CƠ SỞ, LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1. Khái niệm và vị trí của bình đẳng giới trong đời sống xã hội:
1.1.1. Bình đẳng:
của con người, vào các quyền bình đẳng giữa các nước lớn cũng như nhỏ."
Bất bình đẳng giới có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, nó xuất hiện ngay
trong xã hội loài người.Hiện tượng này bắt đầu cùng với sự chuyển đổi từ chế
độ mẫu hệ sang phụ hệ trên phạm vi toàn cầu, sau khi xác lập quyền tư
hữu.Sự bất bình đẳng được bắt đầu từ trong gia đình, từ những mối quan hệ
đặc biệt như quan hệ vợ chồng, quan hệ ruột thịt Chính vì thế nó diễn ra có
vẻ êm ái, hầu như không gặp phải sự phản kháng mãnh liệt nào từ phía nữ
giới.Sự áp đặt về giới đã mang tính vô hình từ nhiều thế kỷ này :"Có lẽ trong
3 hình thức bất bình đẳng lớn nhất trong lịch sử nhân loại( bất bình đẳng
chủng tộc, bất bình đẳng giai cấp, bất bình đẳng giới) thì bất bình đẳng giới
chính là nguồn gốc đích thực của mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong quan hệ
vợ chồng.những nhu cầu, lợi ích cá nhân không được đáp ứng trong hôn nhân
dần dần trở thành xung đột , kéo theo những hậu quả tiêu cực về mặt xã
hội."[3; tr 98]
Theo giáo sư Lê Thi "Những khác biệt về giới tính giữa người đàn ông
và người đàn bà là những đặc điểm tự nhiên của cơ thể con người và chức
năng của nó là bẩm sinh và không thay đổi."[12;tr 20]."Giới" mà chúng ta
đang xem xét ở đây chính là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học,
chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội.Nói về "giới" là nói về vai trò
trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và
nữ.Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao
động, phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần , cách đáp ứng nhu
cầu của nam và nữ trong xã hội.Giữa nam và nữ có mối quan hệ, đó là mối
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 14 Lớp K33A – GDCD
quan hệ xã hội và quan hệ quyền lực, mối quan hệ này thường thể hiện trong
quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, trong sinh hoạt xã hội, trong sinh hoạt gia
đình, trong sinh hoạt cộng đồng.Những yếu tố ảnh hưởng đối với quan hệ giới
hết sức đa dạng và biến đổi không ngừng :đó là trình độ văn minh của thời
đại, đặc điểm dân cư, dân tộc, quốc gia, khu vực, ảnh hưởng của tôn giáo, của
Một là, Bình đẳng là đối xử như nhau, mà không quan tâm đến sự khác
biệt về giới tính.
Hai là, Bình đẳng trên cơ sơ chấp nhận những điều kiện khác nhau của
2 giới tính, từ đó dẫn đến quan niệm cho rằng nam giới phải gánh vác những
công việc nặng nề hơn.Đây là những cách hiểu sai lầm, khoét sâu thêm tình
trạng bất bình đẳng.
Ba là,thừa nhận nam nữ có những sự khác nhau, từ đó tạo điều kiện để
người phụ nữ được bình đẳng với nam giới trước những cơ hội, được khẳng
định bản thân mình.Vì vậy, tạo cơ hội ngang bằng dựa trên đặc điểm khác biệt
của 2 phái mới là công bằng thực sự.
Qua đó bình đẳng được hiểu là Bình đẳng, không có nghĩa là cào bằng
ngang nhau, vợ nấu cơm thì chồng phải rửa chén, chồng góp 2 triệu thì vợ
cũng phải góp 2 triệu.Bình đẳng ở đây là người phụ nữ được giải trí, nghỉ
ngơi sau một ngày làm việc mệt mỏi, được ''sẻ chia'' trách nhiệm và quan
trong hơn là họ phải có cơ hội thăng tiến và phát triển như nam giới.
Bất bình đẳng giới phải chăng là hiện tượng xã hội không thể nào tránh
khỏi? Về vấn đề này có nhiều ý kiến.Có người cho rằng, bất bình đẳng luôn
biểu hiện bởi sự khác biệt giữa các cá nhân.Nếu có một xã hội mở và con
người khác nhau về tài năng và nhu cầu thì điều đó sẽ làm hàm ý rằng bất
bình đẳng là không thể tránh được.Đó là một thực tế của xã hội.Theo Cauthen
:một số bất bình đẳng đến như là kết quả không thể tránh được như bất bình
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 16 Lớp K33A – GDCD
đẳng sinh học của kỹ năng, thể chất, khả năng tinh thần và những khía cạnh
của nhân cách.
Trong thực tế, vẫn còn tồn tại những khác biệt trong kiểu phân chia giới
như là kết quả không thể tránh được của bất bình đẳng.Aristotle đã nói rằng:
đàn ông bản chất là thống trị, và đó là một luật lệ.Gần đây, Goldberg còn cho
rằng sự thống trị và sự thành đạt của nam giới là khả năng không thể đảo
ngược, bởi có sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.
''hoàng kim" của phụ nữ trong thời kỳ công xã nguyên thủy,thời kỳ nắm
quyền tối cao của phụ nữ,thậm chí là thống trị đối với đàn ông.Tuy nhiên, vị
trí ấy đã bị "đổi ngôi"kể từ khi chế độ tư hữu xuất hiện và phát
triển.Ph.Angghen viết :"Chế độ một vợ, một chồng là hình thức gia đình đầu
tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên mà dựa trên những điều kiện
kinh tế tức là dựa trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng
nguyên thủy và tự phát.Sự thống trị của người chồng trong gia đình, sự sinh
đẻ ra những đứa con chỉ có thể là con của người chồng và phải được thừa
hưởng tài sản của người ấy".[11; tr 356]
Sở dĩ, địa vị xã hội của phụ nữ lúc bấy giờ luôn thấp kém hơn nam giới
là bắt nguồn từ địa vị kinh tế của họ.Trong cả 3 loại quan hệ sản xuất gồm
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức và quan hệ sản xuất và
quan hệ phân phối sản phẩm làm ra đều do nam giới nắm giữ và giữ vai trò
quyết định, người phụ nữ hầu như chỉ đứng ngoài cuộc đối với 3 mối quan hệ
cơ bản trên.
Trong tác phẩm:"Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và chế độ
Nhà nước", C.Mác và Ph.Angghen viết:"Tình trạng không bình quyền giữa
đôi bên do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 18 Lớp K33A – GDCD
không phải là nguyên nhân mà là kết quả của việc áp bức của đàn ông với
người đàn bà về mặt kinh tế”
[11;
tr
15].
"Sự đối lập giai cấp đầu tiên trong lịch sử là trùng với sự phát triển
của sự đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn nhân cá thể, và sự áp bức đầu
tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà".[3;tr 104]
Theo từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học:"Sự xuất hiện chế độ tư hữu
dẫn đến sự phụ thuộc về mặt kinh tế của người phụ nữ vào người chồng, vào
nam nữ phải giải phóng phụ nữ cần phải thực hiện những quá trình thực tiễn
cách mạng sau:
Một là, cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây
dựng chế độ công hữu nhằm xóa bỏ sự lệ thuộc về kinh tế của người phụ nữ
đối với nam giới.Cần phải giải phóng phụ nữ ra khỏi sự áp bức, bất công, bóc
lột và bất bình đẳng trong nền sản xuất xã hội.Thực hiện tốt điều này sẽ tạo
điều kiện cho việc xây dựng bất bình đẳng nam nữ trong gia đình và ngoài xã
hội."Sự thống trị của người đàn ông trong hôn nhân chỉ đơn thuần là kết quả
của sự thống trị của họ về kinh tế và sẽ tiêu vong cùng với sự thống trị về kinh
tế"[11;tr 127].
Hai là, cần phải giải phóng phụ nữ thoát khỏi ràng buộc quẩn quanh
chuyện bếp núc.Tạo những điều kiện và cơ hội để phụ nữ tham gia vào nền
sản xuất xã hội.C.Mác và Ph.Angghen viết :"Điều kiện tiên quyết để giải
phóng phụ nữ là làm cho toàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội
và điều kiện đó lại đòi hỏi phải làm cho gia đình cá thể không còn là một địa
vị kinh tế của xã hội nữa".[ 11; tr 116 ]
Ba là, cần phải tiến tới xóa bỏ các phong tục, tập quán định kiến về giới
và tâm lý coi thường phụ nữ trong các nhóm xã hội, coi đây là một trong
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 20 Lớp K33A – GDCD
những giải pháp cần được chú trọng giải quyết .Việc tuyền truyền, giáo dục
và vận động xã hội nhận thức được ý nghĩa của việc nâng cao bình đẳng nam
nữ và góp phần thúc đẩy gia đình ổn định và xã hội phát triển bền vững.
Bốn là, xây dựng quan hệ gia đình bình đẳng hòa thuận, quan hệ hôn
nhân cần dựa trên cơ sở tình yêu.Tình yêu đó phải dựa trên sự thỏa thuận giữa
2 người, gắn với trách nhiệm bình đẳng và việc thực hiện hôn nhân một vợ,
một chồng theo nghĩa chân chính của nó.Ph.Angghen cho rằng phải để cho
thanh niên có quyền tự do lựa chọn chính bạn đời của mình.Khi hạnh phúc gia
đình thực sự không còn nữa, Angghen tán thành giải quyết li hôn và coi đó là
điều kiện cần thiết cho cả hai bên và xã hội.
quen với tôn ti trật tự bất bình thường này đến nỗi không thể nào hiểu được
tại sao phụ nữ bây giờ lại cứ hay phát biểu về nữ quyền và bình đẳng giới.
Về phía phụ nữ, đa phần họ vẫn công nhận cái quyền của nữ giới trong
xã hội, thành ra một luật bất thành văn lại vô tình được duy trì trong giới nữ
vô điều kiện trong xã hội,từ thế hệ này sang thế hệ khác.Cứ nhìn những bà mẹ
chồng cổ hủ bây giờ thì rõ.Các bà luôn xem chồng và con trai là độc tôn trong
nhà, rằng con dâu nhất nhất vâng lời chồng, hy sinh cho chồng, hy sinh là sự
tự nguyện chứ không phải từ sự khuyến khích.
Phụ nữ chúng ta đã và đang sống trong cái sự chịu đựng vô hình ấy.Và
cũng vì phụ nữ Á Đông tin rằng chúng ta sinh ra là để cung phụng cho nam
giới nên họ đã chấp nhận những lề thói bất công trong xã hội.
Ở phương Đông do ảnh hưởng của Nho Giáo, của sự tồn tại lâu dài của
chế độ phong kiến nên đã dẫn đến quan niệm gia trưởng, đề cao vai trò của
người đàn ông.Phụ nữ bị hạ thấp, tình trạng bất bình đẳng kéo dài, dai dẳng
qua các thời kỳ.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 22 Lớp K33A – GDCD
Ở xã hội phương Tây,từ thời trung cổ, Châu Âu cũng rất khắc nghiệt
với phụ nữ không kém, nếu không nói là có phần nhỉnh hơn ở Châu Á.Phụ nữ
không có quyền hành gì trong gia đình, thậm chí không tự quyết định số phận
cho chính bản thân mình nữa.Họ không được học hành, không được hành
nghề trong xã hội, thậm chí không được ra đường một mình nếu không có nhũ
mẫu đi cùng.Họ chỉ đơn giản là một cái máy đẻ, máy khâu, máy nấu ăn trong
nhà.Hoặc cao sang hơn thì họ như là một bình hoa để tô sắc trong những gia
đình giàu có.Tuy nhiên, giàu hay nghèo thì họ đều có chung một đặc điểm:họ
chỉ là công dân hạng 2 trong xã hội.
Cho đến cách đây chỉ khoảng vài thế kỷ, phụ nữ Âu Mỹ mới thực sự
đòi được tý quyền bình đẳng giới trong xã hội.Khi đến thập niên 60, khi
phong trào hippie nở rộ và bừng bừng phong trào giải phóng tình dục cho nữ
giới, phụ nữ mới thực sự bắt đầu vươn lên và nắm giữ trọng trách trong xã
xã hội.Bên cạnh đó, các quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng cho thấy
tính chất lâu dài và khó khăn của cuộc đấu tranh vì bình quyền, bình đẳng và
sự cần thiết tập trung vào việc thay đổi nhận thức xã hội, thực hiện giải phóng
phụ nữ với việc xóa bỏ tư tưởng phong kiến của người đàn ông.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải phóng phụ nữ thực hiện nam nữ
bình đẳng là cơ sở lý luận, là nền tảng tư tưởng để Đảng và Nhà nước ta đề ra
phương hướng, giải pháp nhằm xóa bỏ triệt để tình trạng bất bình đẳng đối
với phụ nữ trong gia đình. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thế Vĩnh
SVTH: Hoàng Thị Huế 24 Lớp K33A – GDCD
CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
BÌNH ĐẲNG GIỚI
2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới:
2.1.1 Hồ Chí Minh đã đánh giá cao vị thế, vai trò người phụ nữ trong xã
hội:
Là học trò xuất sắc của C.Mác và V.I.Lênin, lại am hiểu lịch sử dân tộc
và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai
trò to lớn của phụ nữ Việt Nam trong quá trình dựng nước , giữ nước .Hồ Chí
Minh dẫn lời của Mac :"Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội
mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc chắn không làm nổi.Xem tư tưởng và
việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào". Người cũng
dẫn lời của V.I.Lênin "Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn
cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công ".[4; tr
288]
Như vậy, Hồ Chí Minh đã cho chúng ta thấy những nhà kinh điển của
chủ nghĩa xã hội khoa học đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội.Trong
hiểu nhiều cuộc cách mạng diễn ra trên thế giới. Người rút ra kết luận: chỉ có
cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng " đến nơi" hay còn là cuộc cách
mạng triệt để, nghĩa là đem lại quyền làm chủ xã hội thực sự cho người dân "
Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cơ sở của quyền tự do chân chính và
quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài người. Chính nhờ cuộc cách
mạng này mấ sự giải phóng phụ nữ sẽ có giá trị và có những ý nghĩa đầy đủ,
trọn vẹn"[15; tr 6]. Vì vậy, Hồ Chí Minh muốn ấm no, tự do, hạnh phúc thực
sự cho nhân dân và để thực sự giải phóng phụ nữ thoát khỏi cả ách áp bức dân
tộc lẫn ách áp bức xã hội.