(Luận văn thạc sĩ) lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở việt nam - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HẠNH

LỰA CHỌN NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Ngọc Thanh

Hà nội - 2004


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
LỜI NÓI ĐẦU ...............................................................................................................................4
CHƯƠNG 1..............................................................................................................................8
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG, LỰA CHỌN
NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG .............8
1.1KHÁINIỆMVỀTHƠNGTINVÀVAITRÕCỦANĨTRONGKINHDOANHNGÂNHÀNG......................................................8
1.1.1 Thơng tin là gì? ..............................................................................................................8
1.1.2 Vai trị của thơng tin đối với hoạt động ngân hàng ....................................................... 10
1.2 THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG .............................................................................................. 12
1.2.1 Lựa chọn nghịch .......................................................................................................... 12
1.2.2 Rủi ro đạo đức ............................................................................................................. 13
1.2.3 Các giải pháp cho vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức
............................................................................................................................................ 16
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ ......................................................................................................... 22
1.3.1 Những vụ phá sản các ngân hàng ở Mỹ ........................................................................ 23

Nam ..................................................................................................................................... 75
3.2PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀLỰA CHỌN NGHỊCH VÀRỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỚI ........................................................................................................................ 80
3.2.1 Phương hướng ............................................................................................................ 80
KẾT LUẬN ..................................................................................................................................... 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................... 97

2


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
LỜI NĨI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử kinh doanh ngân hàng trên thế giới luôn được chứng kiến
những vụ sụp đổ của hệ thống tài chính cũng như việc phá sản của hàng loạt
các ngân hàng. Một nguyên nhân dẫn tới những đổ vỡ trên đó là sự lựa chọn
nghịch và rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng. Lựa chọn nghịch, rủi ro
đạo đức đều bắt nguồn từ việc thiếu thông tin và thông tin không cân xứng.
Các ngân hàng ln ở trong tình trạng thơng tin tản mạn, thơng tin khơng đầy
đủ, khơng chính xác và cập nhật cho việc quản lý. Ngân hàng thiếu thông tin
minh bạch về tình hình tài chính của khách hàng. Các báo cáo tài chính mà
khách hàng cung cấp cho ngân hàng khơng chính xác. Như vậy, thơng tin đối
với hoạt động ngân hàng là rất quan trọng, việc thiếu thông tin, thông tin
khơng cân xứng có thể làm các ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro và dẫn
đến phá sản hệ thống ngân hàng. Ngân hàng là trung gian tài chính, huy động
vốn và cung cấp vốn cho nền kinh tế, nếu hệ thống này khơng lành mạnh thì
tất yếu sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
Vậy lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng là
gì? Tác hại của chúng đối với hệ thống ngân hàng như thế nào? Làm thế nào

dụng ngân hàng trong nền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay, v.v. Có rất
nhiều để tài cũng như các cơng trình nghiên cứu cấp ngành như đề tài: Thiết
lập các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh và đảm bảo an toàn trong hoạt
động của NHTM Việt Nam do tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa chủ nhiệm đề tài, hay đề
tài: Những giải pháp nhằm hồn thiện tổ chức hoạt động kiểm sốt, kiểm tốn
đối với ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng ở Việt Nam do Tiến sĩ
Nguyễn Văn Giàu nguyên phó thống đốc ngân hàng nhà nước làm chủ nhiệm,
v.v. Phần lớn các đề tài trên đề cập đến những vấn đề như hoạt động huy động
vốn, lãi suất, rủi ro tín dụng, bảo hiểm tín dụng và cơng nghệ ngân hàng, v.v.
Việc nghiên cứu cũng như các đề tài đi sâu tìm hiểu về lý thuyết và thực tế
lựa chọn nghịch, rủi ro đạo đức, thông tin không cân xứng thì hầu như rất ít
và chưa được đề cập đến đặc biệt là đối với hệ thống NHTM ở Việt Nam.

2


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
 Nghiên cứu khái quát những vấn đề lý thuyết về thông tin không cân
xứng, lựa chọn nghịch, rủi ro đạo đức, và kinh nghiệm của một số
nước về vấn đề này.
 Làm rõ tình hình và đánh giá thực trạng của vấn đề lựa chọn nghịch
và rủi ro đạo đức trong kinh doanh NH ở Việt Nam.
 Đề ra các giải pháp để phòng ngừa và giảm thiểu vấn đề lựa chọn
nghịch và rủi ro đạo đức hiện nay trong kinh doanh ngân hàng ở
Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong hệ thống NH Việt

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về thông tin không cân xứng, lựa chọn
nghịch và rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng
Chương 2. Thực trạng lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam
Chương 3. Phương hướng và giải pháp giảm thiểu lựa chọn nghịch và
rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn tới

4


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÔNG TIN KHÔNG CÂN
XỨNG, LỰA CHỌN NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC
TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1 KHÁINIỆM VỀTHÔNG TIN VÀ VAITRÕ CỦA NĨ TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1.1 Thơng tin là gì?
Thơng tin là huyết mạch của mọi nền kinh tế. Tại những nước có nền
kinh tế truyền thống, thơng tin được trao đổi dưới dạng tiếp xúc cá nhân,
thông tin được truyền từ người này đến người khác và nó chỉ có giới hạn
trong phạm vi làng xã, thơn xóm. Nhưng khi các quốc gia phát triển, cơ chế
truyền thống này bắt đầu bị phá vỡ. Người dân di chuyển từ làng này sang
làng khác, từ làng ra thị xã, từ thị xã ra thành phố, v.v. để thích nghi với công
việc thương mại và buôn bán. Dần dần, ngồi giao dịch với hàng xóm họ cịn
giao dịch với người lạ. Trong những mơi trường mới này, dịng trao đổi thông
tin truyền thống dựa trên các mối quan hệ quen biết phải được thay thế. Để

chất, trong mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực, giữa cái xác định
và cái khơng xác định, giữa cái tính tốn được và cái khơng tính tốn
được.
- Thơng tin chỉ tồn tại và xuất hiện trong một q trình nhất định.
- Thơng tin là một đặc điểm chung của vật chất.
Cho đến nay, cùng với sự phát triển của xã hội thông tin được xem như
một hàng hóa và để có được thơng tin về một vấn đề nào đó đơi khi chúng ta
phải trả những khoản chi phí vơ cùng lớn.
Theo một định nghĩa căn bản: “thông tin là một hàng hóa cơng cộng”.
Đã là hàng hóa cơng cộng thì nó sẽ mang hai đặc tính cơ bản của một hàng
hóa công cộng thuần tuý:
- Thứ nhất: tiêu dùng không làm hao hụt (khi một người tiêu dùng hàng
hóa này thì không làm giảm tiêu dùng của người khác).

6


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
- Thứ hai: tính khơng loại trừ (không thể, hay rất tốn kém để loại bỏ bất
kỳ người nào khỏi việc hưởng lợi ích của hàng hóa cơng cộng).
Các nền kinh tế thị trường cạnh tranh thường khơng cung cấp đầy đủ
hàng hóa cơng cộng - trong đó có thơng tin. Do những khó khăn của việc
phân bổ những khoản lợi nhuận cho thông tin, nên thường xuất hiện vấn đề
người ăn theo (hay người đi xe khơng mất tiền) với việc có được thơng tin,
tức là những người khác được hưởng lợi từ những thông tin mà một cá nhân
có được.
Sự quan trọng của thơng tin khơng phải ở chỗ con người cần có nó để
hoạt động hay là số lượng thơng tin ít hay nhiều mà do chính đặc điểm khơng
bình đẳng của thơng tin làm thay đổi vấn đề. Đặc điểm đó là, thứ nhất thông

nền kinh tế và đời sống xã hội. Đối với các hoạt động của NH thì thơng tin có
vai trị vơ cùng quan trọng, vì hoạt động của NH liên quan đến những đồng
tiền hơm nay để có những hứa hẹn đến những đồng tiền trong tương lai, nên
luôn tiềm ẩn rủi ro vỡ nợ, và những thông tin về khả năng hoàn trả của người
vay trong tương lai là rất quan trọng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề
trong hệ thống tài chính ở hai mặt: trước khi cuộc giao địch diễn ra và sau khi
cuộc giao dịch diễn ra.
Như chúng ta đã biết, giao dịch trên thị trường tài chính thơng qua các
trung gian ngân hàng thực chất là những hợp đồng điều chuyển vốn từ người
tiết kiệm (người gửi tiền) sang người đầu tư (người đi vay). Trong quan hệ tín
dụng này một bên thường khơng biết tất cả những gì cần biết về bên kia để có
những quyết định đúng đắn. Như vậy, một hạn chế lớn của thị trường tài
chính là thiếu thông tin. Sự thiếu hụt này đã tạo nên sự khơng cân bằng về
thơng tin mà mỗi bên có được. Trong lý thuyết kinh tế, hiện tượng này được
gọi là thơng tin khơng cân xứng.
1.2 THƠNG TIN KHƠNG CÂN XỨNG

8


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
Trong hệ thống NH, thông tin khơng cân xứng có nghĩa là người gửi
tiền khơng nắm bắt được đầy đủ mọi thơng tin về tình hình hoạt động của
ngân hàng mà mình gửi tiền cũng như ngân hàng không biết rõ về khả năng
chi trả và độ tin cậy của khách hàng vay tiền. Sự không cân bằng về thơng
tin mà mỗi bên có đƣợc đƣợc gọi là thông tin không cân xứng. Thông tin
không cân xứng sẽ tạo ra hai hệ quả đó là vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro
đạo đức.
1.2.1 Lựa chọn nghịch

NH sẽ không cho anh ta vay. Nếu giả sử rằng NH không biết rõ về hai khách
hàng này, rất có thể NH sẽ cho A vay tiền hơn là cho B vay vì chính A cố
gắng nỗ lực thuyết phục NH để được vay tiền. Do sự lựa chọn nghịch, NH có
thể quyết định không cho cả hai người này vay tiền, mặc dù có những lần B,
vốn là một người vay ln có khả năng trả nợ, có thể cần một món vay cho
một dự án đầu tư có giá trị và chắc chắn dự án đầu tư này mang lại thành công
cho B.
1.2.2 Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức (Moral hazard): là vấn đề do thông tin không cân
xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra.
Rủi ro đạo đức trong các thị trường tài chính xảy ra khi người cho vay
phải chịu rủi ro do người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động khơng tốt
(thiếu đạo đức) xét theo quan điểm của người cho vay, bởi vì những hoạt
động này làm cho khoản tiền vay ít có khả năng được hồn trả. Do rủi ro đạo
đức giảm bớt xác suất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định
thơi khơng cho vay.
Để minh họa cho vấn đề này, hãy giả sử NH cho một khách hàng vay
một món tiền là 1000 đơla, người đi vay cần số tiền này để mua một máy
chun dùng cho cơng việc sản xuất của mình. Khi NH đã cho vay, người đi

10


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
vay có thể cầm khoản tiền này tới thẳng xới bạc hay tham gia vào những trị
chơi đỏ đen, chơi xổ số hoặc lơtơ. Trong trường hợp anh ta thắng, khi đó anh
ta có khả năng trả lại NH món tiền là 1000 đơla và chi tiêu thả sức với phần
còn lại. Nhưng nếu anh ta thua, như thường xảy ra, thì NH khơng địi được
tiền và tất cả những gì người đi vay mất chỉ là danh tiếng của họ. Nếu NH biết

bảo hành, v.v. để nhằm xác định thực trạng và triển vọng về hoạt động
kinh doanh của DN trên thị trường, để khẳng định sự tồn tại và phát
triển của DN trong tương lai.
Đánh giá năng lực kinh doanh của DN còn được thể hiện ở chiến lược
kinh doanh mà DN đề ra bao gồm:
+ Chính sách thực thi về chiến lược ngành hàng.
+ Chiến lược về sản phẩm, về phân phối sản phẩm.
+ Chiến lược về phát triển nguồn nhân lực.
+ Khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị phần.
+ Chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh và mở rộng DN trong
tương lai.
Mặt khác, cần phải phân tích đề nghị vay vốn của DN về lý do vay vốn
của DN: xác định mục đích sử dụng vốn của DN có phù hợp với lý do xin vay
hay khơng? Đề nghị vay vốn của DN có phù hợp với thực tế hoạt động sản
xuất kinh doanh không? Môi trường hoạt động có thích ứng với đề nghị vay
vốn khơng?
Việc phân tích đánh giá khách hàng được tiến hành bằng phương pháp
phỏng vấn để kiểm tra độ chính xác của các thông tin, số liệu mà khách hàng
cung cấp; đồng thời nắm bắt ln về cơ chế chính sách của nhà nước có thuận
lợi, khó khăn gì liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN không.
- Tăng cƣờng năng lực kiểm tra kiểm soát của các NHTM. Để giúp
NH có được các thơng tin về thực trạng kinh doanh, để hạn chế rủi ro đạo đức
có thể xảy ra, duy trì có hiệu quả các hoạt động tín dụng đang được xúc tiến,
phù hợp với các chính sách, đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu đã định.
Thiết lập một cơ chế vận hành hợp lý, có hiệu quả đề giám sát q trình vận
động của vốn tín dụng từ khi cho vay tới khi thu hồi được cả vốn và lãi. Muốn

84



85


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
những sai phạm để chấn chỉnh kịp thời, chống tiêu cực ngay
trong cán bộ làm kế tốn, tín dụng.
u cầu việc giám sát là phải được tiến hành thường xuyên, có
hệ thống theo các nội dung đã quy định trong chế độ, thể lệ cho
vay: qua kiểm tra, các khoản nợ có vấn đề cũng như kết quả
kiểm tra nợ nần được thông báo kịp thời cho các cấp lãnh đạo có
liên quan để có biện pháp xử lý kịp thời theo chức năng nhiệm
vụ đã được phân cấp.
 Tăng cường hiệu lực của việc giám sát nợ: Thực hiện giải pháp này
ngồi cơng tác giám sát do cán bộ tín dụng tiến hành như hiện nay,
địi hỏi phải hình thành thêm một tổ chức giám sát nợ trong nội bộ
NH. Chức năng của tổ chức này phụ thuộc vào phạm vi, mức độ của
hoạt động cho vay. Yêu cầu của tổ chức này là:
 Nhân viên của tổ chức này là người không liên quan đến hoạt
động cho vay, thu nợ.
 Có phạm vi và chương trình giám sát phù hợp với đặc điểm
hoạt động của từng NH.
 Cán bộ làm công tác này phải có trình độ chun mơn nhất
định, có đủ khả năng đánh giá, phân tích tình hình DN cũng
như của NH.
 Cán bộ phụ trách khơng có liên quan tới q trình thẩm định,
quyết định cho vay.
Nhiệm vụ của tổ chức này là: ngăn ngừa những sai sót có thể đưa
đến tổn thất về vốn đối với khoản tín dụng, cụ thể:
 Kiểm tra và kiểm điểm chất lượng trên cơ sở các quy định có

động tín dụng.
Tóm lại, tăng cường giám sát khách hàng vay và hiệu lực công
tác giám sát nợ là biện pháp hữu hiệu để thiết lập hệ thống phòng
ngừa rủi ro đạo đức có thể xảy ra với các khoản cho vay.

87


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
- Thiết lập mối quan hệ dài lâu với khách hàng, lựa chọn khách
hàng tin cậy. Để giảm thiểu vấn đề thông tin không đối xứng dẫn đến lựa
chọn nghịch và rủi ro đạo đức một cách hữu hiệu thì các NH và các TCTD rất
nên thiết lập mối quan hệ dài lâu đối với khách hàng và lựa chọn những khách
hàng tin cậy. Khách hàng là người cung cấp nguồn vốn cho hoạt động tín
dụng, đồng thời cũng là người sử dụng nguồn vốn này nên khách hàng có ý
nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NH. Thiết lập mối quan
hệ tốt và dài lâu với khách hàng giúp NH có điều kiện nắm vững các thơng tin
có liên quan đến khách hàng, có đối sách thích hợp để có thể đứng vững trong
sự cạnh tranh trên cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng khách hàng. Thiết
lập mối quan hệ dài lâu với khách hàng sẽ giúp NH:
* Đánh giá đúng khách hàng, tiết kiệm được chi phí thẩm định, kiểm
tra giám sát, làm cho chất lượng đánh giá khách hàng được nâng cao: thơng
qua q trình thực hiện quan hệ tín dụng một cách thường xun, NH có thể
biết được nhiều thông tin về khách hàng này. Căn cứ vào tình hình số dư của
tài khoản, NH sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng tiền mặt của
người vay tiền cũng như các quan hệ của khách hàng với các khách hàng
trong việc mua nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, v.v. Đây là cách tốt nhất
để thu thập thông tin về khách hàng và là cơ sở để tiết kiệm được chi phí cho
việc thẩm định, sàng lọc thông tin; tránh được rủi ro đạo đức; kế hoạch hóa

lượng cơng tác cao, gắn bó với tổ chức để xây dựng, củng cố và duy trì mối
quan hệ này.
* Nhằm củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa NH và khách hàng,
các NHTM cần phải thực hiện một số giải pháp sau:
1. Giải quyết tốt các mối quan hệ về kỹ thuật, tổ chức, kiến thức, kinh
tế, xã hội. Đây là cơ sở để:
+ Tạo sự tương thích về mặt nghiệp vụ kỹ thuật trong quá trình
tiến hành giao dich, mối quan hệ dựa trên cơ sở kỹ thuật càng cao, mối
quan hệ giữa NH và khách hàng càng chặt chẽ, nhờ đó NH nắm bắt kịp

89


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
thời tình hình hoạt động của DN cũng như các nhu cầu về vốn để kịp
thời đáp ứng.
+ Xác lập một cơ cấu tổ chức phù hợp để đảm bảo thoả mãn lợi
ích kinh tế của hai bên khi tham gia quan hệ tín dụng.
+ Tạo sự thông cảm và hiểu biết lẫn nhau trên mọi lĩnh vực để
cùng nhau hợp tác vì sự tồn tại và phát triển của chính mình.
+ Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ, có hiệu quả giữa NH, khách
hàng và các cơ quan chính quyền, đồn thể trong q trình quản lý vốn
tín dụng, xử lý kịp thời, có hiệu quả các khoản nợ có vấn đề, nhất là
trong trường hợp có xảy ra tranh chấp.
2. Mỗi NHTM cần thiết lập một bộ phận tiếp thị để nghiên cứu thị
trường, xem xét đánh giá các mối quan hệ với khách hàng, tìm hiểu,
thăm dị khách hàng về đặc điểm, nhu cầu thị hiếu cũng như những
động cơ của khách hàng trong việc lựa chọn NH để đề xuất với lãnh
đạo những vấn đề có liên quan đế chính sách marketing của NH với

rộng đầu ra cho hoạt động tín dụng.
- Nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của khách hàng khi vay vốn
NH. Các DN vay vốn là đối tác trong kinh doanh của các NHTM, có mối
quan hệ khăng khít trong việc nâng cao năng lực phòng ngừa và hạn chế rủi
ro của các NHTM thông qua các giải pháp sau.
Giải pháp cơ bản về phía người vay vốn của các NH (bao gồm các DN
và các cá nhân) là nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của họ để tránh được rủi
ro đạo đức sau khi vốn đã được giải ngân.
Đối với các cá nhân vấn đề này đặt ra không quá phức tạp, nhưng đối
với các DN đặc biệt là khối DNNN thì đây thực sự là vấn đề khá gai góc vì nó
xuất phát từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp ăn sâu vào nếp tư duy hành
động của một bộ phận không nhỏ các DNNN. Tuy đã trải qua giai đoạn đổi
mới trong cơ chế kinh tế nhưng lối tư duy điều kiển các hành vi kinh doanh
của một bộ phận DN vẫn còn thể hiện sự dựa dẫm trông chờ vào sự hỗ trợ của
nhà nước khi làm ăn khơng có hiệu quả, khơng trả được nợ vay.

91


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
Các DN với tư duy này ln tìm mọi cách cầu cứu với rất nhiều lý do
được mang ra làm “bình phong” để được giãn nợ, khoanh nợ, xóa nợ khi lâm
vào tình trạng tài chính khó khăn, tạo nên nguy cơ rủi ro đạo đức được gọi là
“bảo lãnh ngầm của nhà nước”. Điều này đã đẩy các NHTM vào thế kẹt trong
hoạt động kinh doanh tín dụng. Nếu tăng cường được nhận thức về tính tự
chủ và chịu trách nhiệm của người vay vốn là các DN thông qua tuyên truyền
và xử lý các trường hợp thực tế (kiên quyết loại bỏ sự hỗ trợ mang tính bao
cấp khi DN làm ăn khơng có hiệu quả) hoạt động tín dụng NH về cơ bản sẽ
được thực hiện trên các nguyên tắc thị trường, đảm bảo cho việc phát huy các

hơn nhiều. Đây là một nội dung công việc phức tạp mà bộ phận chuyên trách
về quản lý rủi ro kết hợp với các bộ phận chức năng trong NHTM trực tiếp
phải đảm nhiệm thực hiện dưới sự lãnh đạo của Ban Giám đốc và Hội đồng
quản trị một cách thường xuyên liên tục. Cải thiện năng lực và đạo đức của
nguồn nhân lực là vấn đề hết sức quan trọng, cần thiết và nhậy cảm của kinh
doanh tiền tệ. [25], [26], [27], [28], [29], [30].
KẾT LUẬN
Trong những năm qua hoạt động của NH đã có đóng góp đáng kể trong
sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước. Bên cạnh những kết quả
đạt được, hệ thống NH Việt Nam cũng bộc lộ những yếu kém trong điều hành
và trong hoạt động nghiệp vụ, sự yếu kém thể hiện qua những bài học được
biểu hiện cụ thể của những vụ sụp đổ hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, một số
vụ tai tiếng lớn trong ngành NH. Một ngun nhân chủ yếu gây ra tình trạng
đó là vấn đề thiếu thơng tin trong các giao dịch tín dụng, được gọi là thông tin
không cân xứng. Thông tin không cân xứng là tiền đề của lựa chọn nghịch và
rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của NH và là nguyên nhân gây ra
rủi ro tín dụng của NH. Hoạt động tín dụng là hoạt động then chốt của các NH
cũng như các TCTD, rủi ro tín dụng không loại trừ bất kỳ một nền kinh tế nào
dù ở mọi trình độ phát triển. Chúng ta khơng thể loại bỏ vấn đề thiếu thông tin
trong các hoạt động tín dụng vì nó ln tồn tại và là một khuyết tật của thị
trường, chúng ta chỉ có thể làm giảm thiểu để rủi ro do nó mang lại ở mức

93


Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
thấp như chúng ta mong đợi mà thơi. Để làm được điều đó địi hỏi khơng chỉ
trong chính bản thân các NHTM và các TCTD mà rất cần sự hỗ trợ từ phía
nhà nước, cũng như NHNN. Về phía NHNN cần nâng cao trách nhiệm thanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status