LUẬN VĂN:
Ý thức pháp luật với việc xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ:
Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN đòi
hỏi Nhà nước phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý phù hợp. Để đáp ứng được yêu cầu
này trước tiên phải thấy rõ ý thức pháp luật có vai trò to lớn, là một trong những nhân
tố bảo đảm cho công cuộc đổi mới thắng lợi, là tiền đề không thể thiếu để đẩy mạnh
việc xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật, đồng thời tìm cách nâng cao ý thức pháp
luật cho cán bộ công chức và nhân dân lao động. Từ những suy nghĩa trên, đã thúc đẩy
người viết chọn vấn đề " ý thức pháp luật với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những nội dung liên quan đến lĩnh vực ý thức pháp luật, thời gian qua đã có
một số người quan tâm nghiên cứu. Trong những năm gần đây ở những góc độ khác
nhau, các tác giả đã cho ra mắt bạn đọc các công trình nghiên cứu của mình, dưới các
hình thức như đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách, các bài viết trên
các tạp chí, các báo Chẳng hạn, một số công trình sau đây:
1. Đề tài cấp bộ, cấp Nhà nước:
- Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, chương
trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07, đề tài KX-07-17 (1995), Viện Nghiên
cứu Nhà nước và pháp luật thuộc Trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi
mới, Đề tài khoa học cấp bộ năm 1995 của Bộ Tư pháp.
2. Luận án tiến sĩ:
- Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ hành chính Nhà nước ở nước
ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, tác giả Lê Đình Khiên, năm 1996.
- Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện
nay, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Đào Duy Tấn, năm 2000.
- Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng sông
Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, tác
giả Hồ Việt Hiệp, năm 2000.
- Lôgíc khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt
vấn đề đặt ra và giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật ở Việt Nam trong lĩnh vực
xây dựng nền dân chủ XHCN hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
a) Mục đích
Trên cơ sở làm rõ vai trò của ý thức pháp luật, thực trạng của nó trong quá
trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện nước ta hiện nay:
b) Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ
sau:
- Làm rõ vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng nền dân chủ nói
chung và xây dựng nền dân chủ XHCN nói riêng.
- Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến ý thức pháp luật và chỉ ra những mâu
thuẫn nảy sinh trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức pháp luật đáp ứng
yêu cầu xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các phần có
liên quan đến đề tài.
- Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác-xít, luận văn sử dụng các phương
pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, hệ thống - cấu trúc, điều tra - khảo sát, thống kê
- so sánh… trong nghiên cứu và trình bày.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình xây dựng nền
dân chủ nói chung và nền dân chủ XHCN nói riêng.
- Chỉ ra những mâu thuẫn đã và đang nảy sinh trong quá trình xây dựng nền
dân chủ XHCN ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân
ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp, theo nghĩa thông thường là ý thức chấp
hành những quy định pháp luật của con người. Vì thế khi đánh giá ý thức pháp luật
của một tập thể, cá nhân nào đó người ta thường so sánh giữa hành vi chấp hành của
những đối tượng đó với yêu cầu của những quy định trong văn bản pháp luật để đánh
giá ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay kém của họ. Quan niệm này đồng nhất ý
thức pháp luật với một hình thức biểu hiện cụ thể của nó, như vậy sẽ quá hẹp, thiếu
toàn diện, chưa thể hiện rõ được bản chất, vai trò năng động, sáng tạo của ý thức pháp
luật.
Trong lý luận khoa học, ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng. Tuy
nhiên do mục đích và phương diện nghiên cứu khác nhau mà cho đến nay cũng xuất
hiện nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật.
Quan niệm thứ nhất cho rằng: "ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội,
biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật" [9, tr. 147]. Đây là quan niệm
mang tính khái quát cao, nhưng lại quá chung chưa phản ánh kết cấu nội dung của ý
thức pháp luật.
Quan niệm thứ hai: Thường nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của ý thức pháp
luật. Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của ý thức pháp luật như "ý thức pháp
luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật. Hay nói cụ
thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình
cảm pháp luật, cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật"
[63, tr. 235]. Xét về mặt bản chất giai cấp, có quan niệm cho rằng: "ý thức pháp luật
XHCN là tổng hòa những quan điểm quan niệm, tình cảm về mặt pháp luật thể hiện
thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh
đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của pháp luật, đối với các quyền và
nghĩa vụ của công dân" [79, tr. 196]. Một số ý kiến khác lại thu hẹp cơ cấu của ý thức
pháp luật, chỉ nhấn mạnh mặt tri thức pháp luật như:
ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm
và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự
hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và
qua đó thấy được vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội, để có thái
độ xử sự đúng đắn như nó đang tồn tại.
Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật tuân thủ quy luật chung của sự
hình thành ý thức xã hội phản ánh đời sống pháp luật, mà trước hết là nhu cầu pháp lý
đặt ra của đời sống xã hội, thông qua chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh hành vi con
người, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội theo ý chí của giai cấp cầm quyền.
ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã
hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị, và ý thức đạo đức.
ý thức chính trị phản ánh mối quan hệ giữa các tập đoàn người trong xã hội
đối với quyền lực nhà nước. Còn ý thức pháp luật phản ánh mối quan hệ của còn người
đối với các quy tắc được chấp nhận trong xã hội nhất định. ý thức pháp luật chịu sự tác
động trực tiếp của ý thức chính trị bởi vì bản chất pháp luật là ý chí của giai cấp cầm
quyền được thể hiện thành "luật lệ" mà mỗi chế độ xã hội có giai cấp, chỉ có một hệ
thống pháp luật duy nhất thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền.
ý thức đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa các cá nhân và những quan điểm
theo đó con người đánh giá chính "cái tôi" của mình, nghĩa vụ công bằng mang tính
nội tâm và tự nguyện. Còn ý thức pháp luật nghĩa vụ và công bằng dân chủ được Nhà
nước quy định, do đó mang tính cưỡng chế.
Nếu ý thức chính trị có tác động chi phối ý thức pháp luật nhất là hệ tư tưởng
chính trị thì ngược lại ý thức pháp luật là sự phản ánh những yêu cầu chính trị dưới
góc độ pháp luật. Bên cạnh đó, ý thức pháp luật và ý thức đạo đức đều cùng hướng vào
việc điều chỉnh hành vi con người, nên chúng chịu ảnh hưởng và hỗ trợ nhau rất lớn.
Như vậy ý thức pháp luật, ý thức chính trị và ý thức đạo đức có mối quan hệ hữu cơ,
tác động qua lại lẫn nhau, mặc dù khác nhau nhưng chúng cùng phản ánh và chịu sự
quy định của tồn tại xã hội, nhất là sự quy định của chế độ kinh tế.
1.1.1.2. Kết cấu của ý thức pháp luật
Quá trình phân tích, làm rõ được kết cấu của ý thức pháp luật là tiền đề quan
trọng giúp chúng ta tìm ra những phương thức phù hợp tác động để nâng cao ý thức
pháp luật.
thể hiện nổi bật, rõ nét. Ngược lại, nó sẽ trở thành hệ tư tưởng pháp luật lạc hậu, thậm
chí phản động. Song, dù có tiến bộ hay lạc hậu thì trong quá trình tồn tại và phát triển,
các hệ tư tưởng này luôn có ý thức chuyển hóa mạnh mẽ thành ý thức pháp luật của
toàn xã hội.
ở nước ta hiện nay tư tưởng pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí
Minh được cụ thể hóa trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Một trong
những đặc điểm cơ bản nhất của sự hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam là quá
trình tự giác dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây chính là nhân tố quyết định của
bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của ý thức pháp luật. Muốn nâng cao
được ý thức pháp luật chúng ta cần dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, bản chất
của pháp luật làm cho các quan điểm đó trở thành hệ tư tưởng pháp luật chi phối đời
sống pháp luật toàn xã hội ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó Nhà nước phải kịp thời
thể chế hóa đường lối chính trị của Đảng thành pháp luật để đưa đường lối của Đảng
đến toàn xã hội.
Để đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, trước hết
pháp luật phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là công cụ hữu
hiệu đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân thực sự tham gia
vào quá trình xây dựng pháp luật, giám sát các cơ quan nhà nước trong việc thực thi
pháp luật. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ ra rằng những tư tưởng trên có vai trò
hết sức to lớn trong công tác xây dựng pháp luật, xây dựng nền pháp quyền XHCN
cũng như công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật XHCN.
Hai là: Tâm lý pháp luật.
Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát dưới tâm trạng, cảm xúc,
thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác. Nó là nấc thang đầu
tiên của nhận thức con người về vấn đề liên quan đến pháp luật, là kết quả của nhận thức
trực tiếp, mang nhiều yếu tố chủ quan, cảm tính.
Tâm lý pháp luật là trình độ nhận thức trực giác cảm tính dưới sự tác động
Là một bộ phận của ý thức xã hội, luôn gắn liền với truyền thống tập quán,
thói quen của con người, tâm lý pháp luật, ít biến đổi, biến đổi chậm chạp, do đó nó
bền vững, bảo thủ hơn so với tư tưởng pháp luật. Cho nên muốn xóa bỏ ý thức pháp
luật lạc hậu, xây dựng ý thức pháp luật XHCN thì cần phải có quá trình lâu dài, phức
tạp.
Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Tâm lý pháp luật ra đời một cách tự phát, nhưng chịu sự chi phối của hệ tư
tưởng pháp luật. Ngược lại, sự phát triển của hệ tư tưởng pháp luật cũng chịu ảnh
hưởng của tâm lý pháp luật. Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật là hai trình độ
phản ánh đời sống pháp luật, nhưng có mối quan hệ tác động lẫn nhau trong sự hình
thành ý thức pháp luật.
1.1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong sự phát triển đời sống xã hội
Là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, ra đời và bị quy định bởi tồn tại xã
hội, ý thức pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của đời sống xã hội
nói chung, đời sống pháp luật nói riêng.
Xã hội là một thực thể vật chất và tinh thần. Tổng thể những quan niệm, tư
tưởng, lý luận, tình cảm, phong tục, truyền thống những cái hợp thành ý thức xã hội
tạo thành thực tại tinh thần của xã hội, là bộ phận hợp thành đời sống xã hội. Muốn đời
sống xã hội phát triển bền vững, trước hết phải có trật tự, kỷ cương xã hội ổn định,
trong đó ý thức pháp luật thể hiện qua hệ thống pháp luật là nhân tố quan trọng trong
việc duy trì trật tự xã hội, quản lý xã hội ổn định để phát triển. Trong quá trình phát
triển đời sống xã hội thì kinh tế luôn giữ vai trò quyết định. Đời sống kinh tế phát triển
sẽ kéo theo sự phát triển của đời sống xã hội nói chung. Quá trình phản ánh đời sống
kinh tế, ý thức pháp luật phản ánh qua hệ thống các văn bản pháp luật, tình trạng pháp
chế, văn hóa pháp lý, hoạt động tổ chức thi hành pháp luật… có thể góp phần khuyến
khích phát triển những yếu tố tích cực và hạn chế đến mức tối đa các yếu tố tiêu cực
trong sự vận hành của cơ chế kinh tế. Nước ta đang thực hiện kinh tế nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, do vậy muốn có
sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường thì cần phải có các đạo luật phù hợp. Chẳng
hội với cùng một hệ thống pháp luật nhưng vẫn có hiện tượng coi thường pháp luật,
bất chấp pháp luật, nên đã ảnh hưởng tới sự phát triển chung của đời sống xã hội. Do
trình độ nhận thức có hạn và thói quen sống theo phong tục tập quán đã làm cho một
số người ít quan tâm tới pháp luật, họ có thái độ thờ ơ xem thường pháp luật. Hơn nữa
một số đối tượng rất am hiểu pháp luật nhưng luôn tìm mọi kẽ hở để lách luật, vi phạm
pháp luật nghiêm trọng, hành vi đó đã cản trở không nhỏ tới sự vận hành chung của
nền kinh tế. Chỉ khi cán bộ và nhân dân có thái độ tôn trọng pháp luật, sống và làm
việc theo pháp luật thì đời sống xã hội sẽ phát triển thuận lợi, ngược lại một số đối
tượng có tâm lý không cần pháp luật, coi thường, bất chấp pháp luật thì hiển nhiên quá
trình phát triển đời sống xã hội nói chung, kinh tế nói riêng sẽ ảnh hưởng rất lớn, bởi
vì các hành vi vi phạm pháp luật của họ sẽ góp phần gây rối trật tự kỷ cương xã hội.
Như vậy, ý thức pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã
hội, đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống kinh tế. ý thức pháp luật phát triển, hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh sẽ góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh tế ra đời và phát triển.
Song, sự ra đời và phát triển của các quan hệ kinh tế lại tạo ra các nhu cầu khách quan
để hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo ra môi trường pháp luật thuận lợi cho kinh tế và
cho xã hội phát triển. Bên cạnh sự phản ánh đời sống kinh tế, ý thức pháp luật còn có
vai trò điều chỉnh các quan hệ kinh tế đang tồn tại. Nếu ý thức pháp luật đúng thì mọi
tác động đến các quan hệ kinh tế mang tính tích cực thúc đẩy sự phát triển còn ngược
lại, sẽ mang tính tiêu cực, làm hãm sự phát triển. ý thức pháp luật thực hiện chức năng
điều chỉnh hành vi của mình bằng cách tác động tới hành vi của con người, thông qua
yếu tố tư tưởng, tâm lý, giúp cho con người tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho
phù hợp với pháp luật với các nguyên tắc của pháp luật. ý thức pháp luật không chỉ
điều chỉnh những quan hệ kinh tế đang tồn tại, mà nó còn có thể đón bắt và điều chỉnh
những quan hệ kinh tế sẽ xuất hiện trong hệ thống kinh tế. Đây là tính vượt trước của ý
thức pháp luật. Trong thực tế cuộc sống, nhà nước nào cũng thực hiện điều chỉnh các
hành vi của cá nhân, của tổ chức thông qua ý thức pháp luật của mình, vì vậy mỗi cá
nhân, dưới áp lực bằng các biện pháp của nhà nước họ phải nâng cao ý thức pháp luật
của cá nhân để qua đó tự điều chỉnh hành vi của mình, trước khi bị nhà nước điều
Nói tóm lại, ý thức pháp luật có vai trò to lớn trong việc tạo ra một xã hội có
trật tự, kỷ cương, thúc đẩy kinh tế - xã hội đi lên, xã hội trật tự lại tạo ra một xã hội
mới về pháp luật để ý thức pháp luật nâng cao và phát triển. Cứ như vậy chúng tác
động biện chứng với nhau tạo điều kiện để cho nhau cùng phát triển. Đây cũng là nhân
tố quan trọng, cần phải có trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện
nay "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân".
1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa
1.2.1. Nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.1.1. Khái niệm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội xuất hiện khá sớm trong nền văn
minh nhân loại, gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển lịch sử qua các thời đại, các
chế độ xã hội khác nhau, nó là một vấn đề rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Khoảng thế kỷ thứ VII - VI trước công nguyên thuật ngữ "dân chủ" ra đời.
Aristotle (khoảng năm 384-322 tr.CN) đã chỉ ra rằng Solon (khoảng năm 638-
559 tr.CN) là người đầu tiên đặt nền móng cho nguyên lý dân chủ. Solon muốn xây
dựng một nhà nước trên cơ sở một nền dân chủ - thông qua tuyển cử và hòa nhập sức
mạnh với pháp luật.
Những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại cho rằng, để có một xã hội tốt đẹp thì dân
phải có quyền lực mạnh nhất, cao nhất, từ đó xuất hiện khái niệm "dân chủ"
(Demokratia). Xét về mặt ngữ nghĩa (Demokratia) trong tiếng Hy Lạp cổ đại là từ
ghép, được cấu từ hai từ gốc: Demos nghĩa là nhân dân và Kratos nghĩa là quyền lực.
Như vậy dân chủ (Demokratia) có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.
Với định nghĩa trên chúng ta thấy đã tồn tại ba vế trong hiện thực, đó là: Nhân
dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa hai yếu tố đó. ở mỗi thời đại lịch sử
khác nhau thì cách hiểu về khái niệm nhân dân và tính chất trực tiếp của mối quan hệ
sở hữu quyền lực công cộng sẽ khác nhau (chúng ta sẽ phân tích sự khác biệt đó ở
phần sau).
Điểm khác nhau căn bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại với thời hiện
trình lâu dài.
Do đó, tác giả đồng ý với quan điểm: Nền dân chủ là lĩnh vực thâu tóm mọi khía
cạnh vật chất và tinh thần của dân chủ từ kinh tế, chính trị, xã hội cho đến văn hóa, tư
tưởng. Nhà nước chỉ là một bộ phận trong đó, mặc dù nó rất quan trọng.
Nền dân chủ XHCN là quyền lực thuộc về nhân dân lao động, nó được thực
hiện trong đời sống hiện thực trên các mặt chính trị, kinh tế và văn hóa, xã hội.
Dân chủ, xét từ bản chất ngữ nghĩa của nó, là quyền lực thuộc về nhân dân
Song khi lý giải vấn đề này chúng ta phải thấy rằng: Nếu dân chủ có trong thời đại
chiếm hữu nô lệ, trong xã hội tư bản chủ nghĩa và trong xã hội XHCN thì tất yếu phải
có cái gì chung đặc trưng cho cái riêng đó, mà đã là cái chung thì nó không còn là của
một thời đại nào, giai cấp nào. Nó là một giá trị mang tính nhân loại. Hơn nữa, với tính
cách là một giá trị xã hội phản ánh khát vọng của con người, dân chủ là một giá trị
mang tính nhân văn, là nấc thang mà nhân dân đã, đang và sẽ đi tới một xã hội thực sự
văn minh tiến bộ. Điều cốt yếu ở đây cần hiểu đúng thực chất cái chung trong cái riêng
đó chính là giá trị đích thực của dân chủ. Đã là một nền dân chủ thì nó phải chứng tỏ
quyền lực thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân mang nội dung thế nào lại tùy thuộc
vào các thời đại khác nhau mà được xác định. Nói cách khác, dân chủ chỉ là một
nhưng nó bị chế ước bởi những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau.
Chế độ dân chủ nào Nhà nước cũng là của nhân dân, nhưng sự khác nhau giữa
chế độ dân chủ này với chế độ dân chủ khác là ở chỗ nhân dân là ai và ai trong nhân
dân có thực quyền. Điều này nói lên nội dung bản chất giai cấp của dân chủ. Không có
dân chủ trừu tượng, bao giờ dân chủ cũng có nội dung cụ thể, xác định. Trong xã hội
ai là nhân dân mới có dân chủ, và trong nhân dân quyền lực thực sự, cuối cùng không
phải trong thời đại nào cũng thuộc về tất cả nhân dân. Quyền lực thực sự trước hết và
chủ yếu bao giờ cũng thuộc về giai cấp thống trị, thuộc và những kẻ có thế lực.
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, cộng đồng thị tộc được hình thành trên cơ
sở huyết thống, công hữu tài sản, chung ngôn ngữ và những tập quán Trong thị tộc
này toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những người tự do, có nhiệm vụ bảo vệ tự
do của nhau cả tù trưởng lẫn thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền ưu tiên
xử như một con vật, không thể bị giết như con vật, tuy nhiên hạn chế của nó là coi
thường, khinh miệt con người, làm cho con người mất nhân tính.
Trong thời đại phong kiến, nô lệ đã được trở thành "người tự do" nhưng quyền
lực chính trị, quyền lực nhà nước nằm trong tay chúa đất và nhà thờ. Ph. Ăngghen đã
mô tả chế độ phong kiến Châu Âu như "đêm trường trung cổ" kéo dài từ thế kỷ thứ VI
đến thế kỷ XIV. Những tư tưởng tự do, bình đẳng đã bị các giáo lý kinh thánh bóp
nghẹt, pháp luật là pháp luật của nhà thờ, xét xử là do tòa án của giáo hội
Đây là thời kỳ ngừng trệ của tư tưởng dân chủ, thậm chí như phản dân chủ, do
vậy lịch sử loài người đã xem thời đại phong kiến có rất ít dân chủ, nó được gọi là
"chế độ chuyên chế phong kiến".
Trong thời đại tư sản, nền dân chủ đã đưa quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân
trở về mảnh đất hiện thực, tức là dựa trên cơ sở kinh tế và thế tục (khác với chế độ
phong kiến, quyền lực nhà nước được coi là mệnh trời và có quyền thế tập). Nền dân
chủ tư sản đã ra đời trên cơ sở biến Nhà nước chuyên chế tập quyền phong kiến thành
Nhà nước pháp quyền, biến xã hội thần dân thành xã hội công dân. Về mặt lý thuyết,
nền dân chủ ấy đã chỉ ra rằng quyền lực công cộng hiện đang tồn tại dưới hình thái
Nhà nước và pháp luật bắt nguồn từ mỗi cá thể cấu nên cộng đồng đó. Lần đầu tiên
trong lịch sử nền dân chủ tư sản đã xây dựng các thể chế, các quy tắc để thực thi quyền
lực nhà nước bằng các cách thức phù hợp. Nhưng trên thực tế nền dân chủ đó, các
quan hệ kinh tế và chính trị, đã mở đường cho sự thống trị của những người có của
(giai cấp hữu sản), sự thống trị của những người giàu có đối với những người không có
của hoặc có của ít mà đây là bộ phận chủ yếu (đa số) của nhân dân. Trong xã hội tư
bản, nền dân chủ chỉ được thừa nhận về mặt chính trị mà không được thừa nhận về
mặt kinh tế. Như vậy giai đoạn này chưa phải là nền dân chủ trong chỉnh thể.
Chúng ta luôn trân trọng những yếu tố tiến bộ mà cuộc cách mạng tư sản đã
ghi dấu ấn trong lịch sử. Những cơ sở vật chất kỹ thuật đồ sộ, những di sản văn hóa,
khoa học - kỹ thuật cực kỳ quý báu, những kinh nghiệm tổ chức bộ máy Nhà nước và
quản lý kinh tế, tinh thần dân chủ của chế độ tam quyền phân lập là những thành tựu
đáng quý. Song, lại cũng không vì thế mà thừa nhận rằng nền dân chủ tư sản có tính
của Đảng sẽ không có nền dân chủ thực sự, dân chủ cho đa số nhân dân. Đại hội VII
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện
nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lợi thuộc về nhân dân" [12, tr. 19].
ở các nước XHCN đã có sự thay đổi sâu sắc trong quan hệ con người, quyền
lực thuộc về tay nhân dân lao động, quan hệ bình đẳng, hợp tác, tương trợ thay cho
quan hệ áp bức bóc lột giữa con người và giữa các dân tộc với nhau. Người dân có
quyền tham gia công việc Nhà nước, tham gia các quyết định trọng đại của đất nước,
có quyền lao động, học hành, chữa bệnh, hưu trí, bình đẳng nam nữ, dân tộc Thành
tựu to lớn của chủ nghĩa xã hội và dân chủ XHCN là đã giành được và đảm bảo quyền
sống, quyền độc lập tự do cho dân tộc. Từ thân phận của những người dân mất nước,
bị nô lệ, bị áp bức bóc lột, nhân dân lao động ở các nước đó đã trở thành người chủ
của một nước tự do và độc lập.
Nội dung đầy đủ đích thực của dân chủ XHCN được thể hiện ở những điểm
sau:
- Dân chủ XHCN là quyền lực thuộc về nhân dân.
- Bản chất của nền dân chủ XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân.
- Nền tảng kinh tế của nền dân chủ XHCN dựa trên công hữu là chủ yếu.
- Chủ thể của dân chủ XHCN là toàn bộ quần chúng nhân dân, trước hết là
quần chúng nhân dân lao động. Quyền công dân được bảo đảm bằng kinh tế, chính trị,
tư tưởng, tổ chức, pháp luật, trong đó đảm bảo bằng kinh tế là cái quan trọng nhất.
- Quyền lợi và trách nhiệm gắn liền chặt chẽ với nhau, dân chủ đi đôi với công
bằng, tự do, bình đẳng, kỷ luật, kỷ cương.
- Yêu cầu cao nhất của dân chủ vô sản là xóa bỏ giai cấp.
- Dân chủ XHCN được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển bằng toàn bộ
những giá trị văn hóa chân thực của nhân loại, nó tiếp thu, kế thừa và phát triển những
truyền thống tốt đẹp của quá khứ.
- Trong nền dân chủ XHCN, con người và nhu cầu đa dạng của họ bao giờ
cũng là trung tâm trong sự chú ý của Đảng cộng sản và Nhà nước XHCN.