LỜI MỞ ĐẦU
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do
cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa
đã trở thành nền tảng quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn giúp dân
tộc Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, thử
thách trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đại hội lần thứ VII
(tháng 6 năm 1991) của Đảng Cộng sản đã thông qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó Cương lĩnh đã
xác định nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc
trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Như vậy, nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm
vụ trọng yếu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp đổi
mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối xây
dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm này đánh
dấu sự phát triển ,tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết
thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh
đạo của Đảng.
Vận dụng những quan điểm lãnh đạo của Đảng, ngày nay, mỗi doanh
nghiệp đều tạo dựng cho mình một nét văn hóa riêng, tạo nên bản sắc của
doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh tự nó là một nhu cầu của văn minh thị
trường và là đòi hỏi của sự phát triển. Xây dựng văn hóa kinh doanh vừa là
mục tiêu vừa là thách thực lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân
Việt Nam trong xu hướng phát triển, gia nhập WTO và toàn cầu hóa hiện nay.
Xây dựng một nền văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến chính là nội dung,
biện pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng, củng cố lại nội tại, tạo tư thế mới
làm tiền đề và điểm tựa cho việc hội nhập của mỗi doanh nghiệp.
Với đề tài: “Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên
+ Điều tiết xã hội: Với hệ giá trị tốt đẹp chân thiện mỹ của mình, văn hóa luôn
làm tròn trách nhiệm của mình đối với việc điều tiết sự vận hành của xã hội.
+ Cải biến xã hội: ứng với nó là văn hóa chính trị, văn hóa pháp quyền, văn
hóa quản lý xã hội, văn hóa dân chủ, văn hóa công dân, văn hóa giao tiếp, văn
hóa ứng xử, văn hóa đối thoại, văn hóa lối sống và nếp sống, văn hóa giáo
dục, văn hóa môi trường…
Văn hóa góp phần giữ ổn định xã hội trong giai đoạn phát triển bền vững
hiện nay.
Điều quan trọng nhất khi nói văn hóa là nền tảng tinh thần bởi văn hóa có
chức năng định hình các giá trị, chuẩn mực trong đời sống xã hội, chi phối
các hành vi của mỗi người và toàn xã hội. Với tính lịch sử, các giá trị, chuẩn
mực đó được truyền bá, lưu giữ, chắt lọc và phát triển trong tiến trình lịch sử
của dân tộc, trở thành hệ thống các giá trị đặc trưng cho một dân tộc, bao
gồm chính trị, đạo đức, luật pháp, khoa học, văn học, nghệ thuật, các thể chế,
thiết chế văn hóa, tập quán, lối sống, tạo nên cái cốt, cái hồn, bản sắc văn hóa
của mỗi dân tộc. Chẳng hạn, khi nói bản sắc văn hóa của con người Việt Nam,
chúng ta đặt lên hàng đầu lòng yêu nước với những khía cạnh như yêu quê
hương, xứ sở; lấy dân làm gốc; trân trọng lịch sử, văn hóa dân tộc; bảo vệ chủ
quyền, lãnh thổ; chiến đấu vì độc lập, tự do. Những giá trị đó là truyền thống
văn hóa tốt đẹp được truyền bá, kế thừa và phát triển từ thế hệ này sang thế
hệ khác trong tiến trình lịch sử của dân tộc.
-
Thứ hai: Văn hóa là nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển xã hội
Chìa khóa của sự phát triển, cũng như phát triển bền vững bao gồm những
nhân tố như: Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, nguồn khoa học
công nghệ, nguồn lực con người, trong đó nguồn lực con người đóng vai trò
phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng. Trong thời kỳ đổi mới, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã xác định nền văn
hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trình độ tiên tiến của nền văn hóa không mâu thuẫn với bản sắc văn hóa dân
tộc, ngược lại, hai đặc tính thống nhất biện chứng với nhau, tác động qua lại
và quy định lẫn nhau. Tuy nhiên, để tìm hiểu đặc trưng của nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta có thể cần làm rõ từng nội dung “tiên
tiến” và “đậm đà bản sắc dân tộc”.
Nền văn hóa tiên tiến trước hết là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ mà
nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dựa trên cơ
sở của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả
vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của
con người trong mối quan hệ hài hoà giữa tự nhiên với cá nhân và cộng
đồng, giữa tự nhiên với xã hội.
- Chủ nghĩa yêu nước là hệ thống quan niệm, tư tưởng, lý luận về địa vị
và sự tồn tại của đất nước, về độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, về tinh
thần yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, về trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của người dân đối với đất
nước…, trong đó, lý tưởng độc lập dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Đây là chủ
nghĩa yêu nước chân chính, hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi
hoặc chủ nghĩa sôvanh nước lớn. Chủ nghĩa yêu nước là giá trị cao nhất
trong thang bậc giá trị của văn hóa Việt Nam. Nó là cơ sở để liên kết cộng
đồng và liên kết thế hệ tạo thành sức sống liên tục của truyền thống văn hóa
dân tộc. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam phải
được nâng lên tầm cao của thời đại và phải được bổ sung những nội dung
mới gắn liền với lý tưởng tiến bộ và cách mạng của thời đại, thời đại quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, lý tưởng độc lập dân tộc phải gắn liền với lý
tự nhiên”6.
Tính dân chủ của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là dân
chủ xã hội chủ nghĩa, gắn liền với chế độ chính trị - xã hội tiến bộ “của dân, do
dân và vì dân”. Nền văn hóa này khai thác động lực dân chủ trong nhân dân,
tạo điều kiện để phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân và cộng đồng, đề
cao trách nhiệm của công dân trước nhân dân, dân tộc và thời đại. Tính chất
dân chủ của nền văn hóa thống nhất với việc đề cao ý thức công dân, đề cao
trật tự kỷ cương xã hội và thống nhất giữa quyền lợi, nghĩa vụ và trách
nhiệm của công dân trước pháp luật. Đồng thời phát huy dân chủ phải gắn
liền với việc nâng cao ý thức chính trị, đạo đức xã hội và trình độ dân trí, tạo
điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng bộ máy nhà nước, chống lãng phí,
tham nhũng, quan liêu và các tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước và ngoài
xã hội. Phát huy dân chủ phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của
Nhà nước, chống tư tưởng tự do vô chính phủ, tự do vô kỷ luật.
Nền văn hóa tiên tiến phản ánh trình độ phát triển cao mang tính hiện
đại, cập nhật với thành tựu văn hóa chung của khu vực và cộng đồng quốc
tế. Bên cạnh hệ tư tưởng tiên tiến là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, các thành tố khác của nền văn hóa Việt Nam cũng phải được hiện
đại hóa. Cần phải phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, nâng
cao trình độ dân trí, khả năng chiếm lĩnh và sử dụng những thành tựu của
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại để thúc đẩy quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nền văn hóa mới phải tập trung xây
dựng những phẩm chất mới, xây dựng đạo đức, lối sống của con người Việt
Nam hiện đại ngang tầm với công cuộc đổi mới. Mặt khác, nền văn hóa Việt
Nam phải tham gia cùng cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề đặt ra
trong xu thế toàn cầu hóa, khẳng định bản lĩnh và bản sắc dân tộc trong
giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế.
Nền văn hóa tiên tiến thể hiện ở nội dung phản ánh, đó là toàn bộ sự
tộc trở thành yêu cầu khách quan và là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay.
Bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm “động” và “mở”, mang tính
lịch sử cụ thể và vận động, đổi mới không ngừng trên cơ sở loại bỏ những yếu
tố bảo thủ và tiêu cực, tiếp thu và phát huy những yếu tố tích cực và tiến bộ,
đồng thời tạo lập các giá trị mới để đáp ứng với yêu cầu phát triển của thời
đại. Không nên đồng nhất bản sắc dân tộc với “cái cũ”, với quá khứ, với cái
“nguyên gốc” do dân tộc mình tạo ra. Bản sắc văn hóa dân tộc vừa bao hàm
các giá trị do dân tộc mình sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại, vừa bao
hàm các giá trị tinh hoa của văn hóa nhân loại được dân tộc tiếp nhận một
cách sáng tạo, biến nó thành nguồn lực bên trong để xây dựng và bảo vệ đất
nước. Cũng không nên đồng nhất bản sắc văn hóa dân tộc với một số yếu tố
hình thức bên ngoài của nền văn hóa, mà đây là sự thống nhất giữa nội dung
và hình thức, thống nhất giữa trình độ tư duy, tinh thần độc lập tự cường, ý
chí và bản lĩnh dân tộc với các hình thức biểu hiện bên ngoài của nó. Bảo vệ
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trước hết cần bảo vệ và phát huy truyền
thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, khẳng định ý chí và bản lĩnh của con
người Việt Nam hiện đại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời bảo vệ
và phát huy các tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các giá trị tinh hoa của
văn hóa dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để làm động lực
thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.
c. Nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc của Đảng.
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã
xác định các quan điểm chỉ đạo cơ bản và những nhiệm vụ cụ thể để
xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Các quan điểm này được bổ sung, phát triển, thể hiện trong Văn kiện
phát triển toàn diện và cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển đất nước.
-
Nhiệm vụ thứ hai: Xây dựng môi trường văn hóa.
Môi trường văn hóa là môi trường chứa những giá trị văn hóa và những quan
hệ văn hóa của con người từ quá khứ đến hiện tại và hướng tới tương lai. Môi
trường văn hóa là nơi đồng thời diễn ra các hoạt động văn hóa từ hoạt động
sáng tạo, sản xuất, bảo quản, lưu giữ, truyền bá, thưởng thức và đánh giá các
giá trị văn hóa. Môi trường văn hóa được hiện diện bằng sự tồn tại của các giá
trị văn hóa vật thể, các giá trị văn hóa phi vật thể, các hoạt động văn hóa cá
nhân và cộng đồng trong những mối quan hệ đa dạng và sinh động, từ hành vi
của cá nhân tới gia đình, họ hàng, làng xóm và cộng đồng xã hội cùng với sự
ứng xử của họ với quá khứ, hiện tại và tương lai, với con người và tự nhiên.
Môi trường văn hóa chính là hệ sinh thái văn hóa, nuôi dưỡng đời sống tinh
thần của xã hội. Xây dựng môi trường văn hóa góp phần ổn định chính trị - xã
hội, tạo bầu không khí tinh thần lành mạnh làm tiền đề để xây dựng con người,
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của con
người.
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để
xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Đảng ta đã nhấn mạnh: "Tạo ra ở
các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí
nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội...), các vùng dân
cư (đô thị, nông thôn, miền núi...) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng
những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp
nhân dân... Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của
các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hoá
trọng điểm tầm quốc gia. Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa,
nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn
nhân lành nghề, các chuyên gia và các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà quản
lý và kinh doanh giỏi. Có chính sách tốt trong việc sử dụng nhân lực và nhân
tài để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội
hóa.
Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ cũng được coi là chìa
khoá cho sự phát triển. Do đó, cần tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế
quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất
nước. Phát huy vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong việc tổng kết
thực tiễn và đi sâu nghiên cứu những vấn đề lớn của đất nước, khu vực và
toàn cầu, giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chiến
lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát huy nhân tố con người và
văn hóa Việt Nam.
Khoa học tự nhiên chú trọng việc nghiên cứu thực
tiễn, nghiên cứu cơ sở khoa học của việc phát triển công nghệ trọng điểm,
khai thác tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, dự báo phòng tránh
thiên tai. Khoa học và công nghệ tập trung nâng cao năng suất, chất lượng
sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh, bảo vệ môi
trường và an ninh quốc phòng. Coi trọng việc phát triển và ứng dụng công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự
động hoá vào trong sản xuất và dịch vụ. Mở rộng giao lưu và hợp tác khoa
học giữa các địa phương, các ngành trong nước và quốc tế. Các địa phương,
các ngành cần chú trọng xây dựng các luận cứ khoa học cho các dự án, các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, có cơ chế để phát huy vai trò dân chủ
của nhân dân tham gia đóng góp vào các chương trình, dự án này. Mặt khác,
thiểu số.
Nước ta gồm có 54 dân tộc anh em từng đoàn kết, gắn bó với nhau trong quá
trình xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu văn
hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận tạo nên nền văn hóa Việt
Nam đa dạng và phong phú trong sự thống nhất; bổ sung và hỗ trợ, tạo điều
kiện để mỗi dân tộc phát triển bình đẳng trong cộng đồng quốc gia Việt Nam.
Vì vậy, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
không thể không chú ý tới nhiệm vụ hết sức quan trọng là bảo tồn, phát huy
và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của
Đảng đã nhấn mạnh: “Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá
trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các
dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; khai
thác các kho tàng văn hóa cổ truyền. Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm
phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại. Đấu tranh chống sự xâm nhập
của văn hóa độc hại”11.
Cần nâng cao trình độ dân trí, trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ ở vùng
đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng xây dựng đội ngũ trí thức và những nhà
quản lý người dân tộc, khuyến khích họ công tác tại địa phương mình. Tăng
cường công tác điều tra, sưu tầm, tôn tạo, bảo vệ và phát huy các công trình
văn hóa mới, xây dựng lối sống, tác phong, phong tục và tập quán mới phục
vụ yêu cầu phát triển hiện nay, mở rộng hợp tác giao lưu, hỗ trợ giúp đỡ lẫn
nhau giữa các dân tộc để cùng tiến bộ.
-
Nhiệm vụ thứ tám: Chính sách văn hóa đối với tôn giáo.
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và
Làm tốt việc giới thiệu văn hoá đất nước và con người Việt Nam với
thế giới, để nhân dân thế giới hiểu biết, chia sẻ, đồng cảm và ủng hộ
•
nhiều hơn nữa sự nghiệp đổi mới của Việt Nam.
Tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học tiến bộ của nước
ngoài; phổ biến những kinh nghiệm tốt về xây dựng và phát triển văn
•
hoá của các nước trên thế giới.
Chú trọng giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn và
bảo vệ văn hóa dân tộc, hiểu biết hơn về đất nước và sự nghiệp đổi
mới, tạo điều kiện để họ tham gia vào xây dựng, phát triển văn hóa
dân tộc.
Mở rộng giao lưu văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại phải gắn liền
với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển văn hóa Việt
Nam lên tầm cao mới để góp phần đóng góp cho nền văn hóa nhân loại. Đồng
thời phải nâng cao cảnh giác, chống xu hướng “lai căng” và sự xâm nhập các
loại sản phẩm phản văn hóa, đồi trụy, phản động vào đời sống tinh thần của
nhân dân.
-
Nhiệm vụ thứ mười: Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá.
Thể chế văn hoá là hệ thống các quy định về quản lý, xây dựng và phát triển
văn hoá, bao gồm:
chơi, sân thể thao, trung tâm văn hóa giải trí cho thanh, thiếu niên...
Thực hiện nghiêm túc các văn bản luật pháp về văn hóa, thông tin mà
Nhà nước ban hành. Củng cố nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý văn
hóa ở cấp xã, phường; giải quyết tốt các chế độ, chính sách cho hoạt
động văn hóa ở cơ sở và đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ văn hóa của
nhân dân.
Trước mắt cần tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng tư
tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước
hết là trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng
và gia đình. Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm này, cần thực hiện tốt các nội
dung sau:
•
Kiên quyết loại bỏ các phần tử thoái hóa, biến chất về đạo đức ra khỏi
tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước. Nghiêm trị tội phạm. Ngăn ngừa
và đẩy lùi các hoạt động phản văn hóa, các sản phẩm văn hóa độc hại.
•
Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi
hủ tục, tệ nạn cờ bạc, ma tuý, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công
•
cộng.
Cải thiện văn hóa ở những vùng đời sống còn quá khó khăn, nhất là
những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, đáp ứng nhu cầu thiết yếu về văn hóa tinh thần cho nhân
đạo đức của người kinh doanh. Nói cách khác kinh doanh có văn hóa là
kinh doanh phải có đạo đức. Đạo đức của người kinh doanh không phải là
vấn đề trừu tượng, mà rất cụ thể: tính trung thực, giữ chữ tín, đáp ứng
được đòi hỏi của cuộc sống, không chạy theo lợi ích của cá nhân hay nhóm
người để làm ăn dối trá, lừa đảo,chụp giật,
- Xây dựng văn hóa kinh doanh không chỉ đơn thuần là sự kết hợp giữa
kinh doanh và văn hóa mà cao hơn, nó phải là sự nhập thân của văn hóa
vào công tác kinh doanh. Điều đó có nghĩa là chủ thể -người làm kinh
doanh-phải thực sự là những doanh nhân văn hóa.
- Để đánh giá một doanh nhân có phải là một doanh nhân văn hóa hay
không, theo chúng tôi cần nhìn nhận trên 6 yếu tố, điều kiện sau:
•
Là người có đạo đức tốt, có “tâm” theo những chuẩn mực của lối
•
•
•
•
•
sống, văn hóa dân tộc.
Có sự trung thực và chữ “tín”
Tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật
Có trình độ học vấn và ngoại ngữ
Phát triển bền vững, sáng tạo và vì quyền lợi quốc gia
Hoạt động xã hội –từ thiện
Trong 6 tiêu chuẩn trên, tiêu chuẩn thứ 6 được đánh giá là tiêu chuẩn hệ
quả tất yếu của 5 tiêu chuẩn trước nó. Tức là bất cứ loại hình kinh doanh
-
sẽ góp phần tạo nên văn hóa doanh nhân
Doanh nhân càng có vị trí cao trong xã hội,đóng góp phần quan trọng
cho sự phát triển của đất nước.
Văn hóa thương trường:
-
Văn hóa thể hiện trong cơ cấu tổ chức, hệ thống pháp chế, các chính
sách chế độ, trong mọi hình thức hoạt động liên quan đến quá trình sản
xuất kinh doanh, gồm cả sự cạnh tranh .v.v.. tất cả nhằm tạo ra một
-
môi trường kinh doanh thuận lợi tốt đẹp...
Nói cách khác văn hóa thương trường cũng là văn hóa kinh doanh
cạnh tranh lành mạnh, tôn trọng pháp luật, tôn trọng đối tác, tôn trọng
người tiêu dùng, trân trọng thương hiệu do mình tạo dựng...
Văn hóa doanh nhiệp:
-
Văn hóa tập trung và tỏa sáng trong các thiết chế, các đơn vị tổ chức
sản xuất kinh doanh thể hiện qua:
Biểu hiện hữu hình:
•
•
Các giá trị
Đối thoại riêng
Các quy tắc vô hình
Thái độ
Niềm tin
Quan sát thế giới
Tâm trạng và cảm xúc
Tiêu chuẩn
Giả định
- Bản chất của văn hóa doanh nghiệp( VHDN) là đối nội phải tăng cường
tiềm lực, quy tụ được sức sáng tạo của công nhân viên chức, khích lệ họ
sáng tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp; đối ngoại phải được xã hội
bản địa chấp nhận.
- VHDN thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Cấp dễ thấy nhất thể hiện ngay
trong công việc hằng ngày như cách báo cáo công việc, giữ gìn tài sản
chung, ngôn ngữ khi giao tiếp với đồng nghiệp, đối tác, khách hàng, các
thue tục hành chính...cấp thứ hai là các giá trị tinh thần xác định việc phải
làm, hành động của mình đúng hay sai, có mang lại lợi ích hay thiệt hại
chung hay không. Đây là điều lãnh đạo doanh nghiệp mong muốn nhận
được ở nhân viên và phải xây dựng dần từng bước. Cấp đọ thứ ba là nền
tảng cho các hành động chính là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và xúc cảm
được coi là thiên đường ăn sâu trong tiềm thức các nhân mỗi doanh
nghiệp. Các ngầm định ngầm này là nền tảng cho các giá trị và hành động
của mỗi nhân viên. Văn hóa kinh doanh trong một tổ chức đã tiến đến mức
độ cao nhất ,trở thành một thứ Đạo, mà từ thế hệ này tới thế hệ khác tôn
sùng và làm theo
thể như sau:
•
Thứ nhất, văn hóa kinh doanh góp phần gia tăng nguồn lực con
người cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay, người ta nói nhiều đến vai
trò của công nghệ, của thông tin về kinh tế và kỹ thuật nhưng biến nó
thành sản phẩm có chất lượng phải thông qua con người. Con người là
một nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Văn
hóa kinh doanh chính là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ nguồn lực con người
cho sự phát triển của doanh nghiệp. Ông Ta-ca-hi-rô Xê-ki-mô-tô
(Takahiro Sekimoto), Tổng Giám đốc Công ty điện tử Nippon (NEC) nhấn
mạnh: Trên thực tế, trong thời đại toàn cầu hóa, tầm quan trọng của nền
văn hóa công ty có thể được coi như người quản lý thứ năm, đứng sau