1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN QUANG QUÂN
TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC CỦA NHO GIA VÀ PHÁP GIA ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY.
NGUYỄN QUANG QUÂN
TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC CỦA NHO GIA VÀ PHÁP GIA ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY.
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80.
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THANH BÌNH
nay. 93
KẾT LUẬN……………………………………………………………… 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………… 107
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Cai trị và quản lý xã hội luôn là một trong những vấn đề được quan tâm
hàng đầu của các quốc gia ở mọi thời đại. Ngay từ thời cổ đại, các triết gia
Trung Quốc đã nhận thức được vai trò to lớn của đạo đức và pháp luật trong
việc cai trị, quản lý xã hội, thiết lập trật tự xã hội , để từ đó đề xướng các học
thuyết “Đức trị” và “Pháp trị”. Những học thuyết ấy đã vượt ra khỏi phạm vi
Trung Quốc và có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia phương Đông suốt hai nghìn
năm trong đó có Việt Nam.
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu thực
tiễn của việc trị nước, các triều đại đã kế thừa, tiếp thu nhiều tư tưởng về
đường lối trị nước của Trung Quốc. Tuy nhiên, do sự tác động của nhiều yếu
tố, của truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc, đặc biệt là từ nhu cầu,
nhiệm vụ của công cuộc dựng nước và giữ nước, tư tưởng về đường lối trị
nước của Việt Nam có những nét sáng tạo, độc đáo riêng, không hoàn toàn
giống như Trung Quốc.
Ở Việt Nam hiện nay, trong việc quản lý xã hội nói riêng, xây dựng và
phát triển đất nước về mọi mặt nói chung nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta có thể kế thừa nhiều
giá trị của những học thuyết, tư tưởng và nhiều bài học, kinh nghiệm trong
công cuộc dựng nước và giữ nước của cha ông ta trong lịch sử.
Nho giáo là một học thuyết chính trị-xã hội ra đời ở Trung Quốc, tư
tưởng trị nước bao trùm trong học thuyết Nho giáo là tư tưởng Đức trị. Các
nhà nho từ Khổng Tử trở đi đều đề cao vai trò của đạo đức, coi đạo đức là
công cụ, phương tiện hữu hiệu nhất của các triều đại phong kiến Trung Hoa
thi hành công vụ, tội phạm ngày càng tăng, lối sống thực dụng, chạy theo
đồng tiền đang trở thành “mốt thời đại”, nhiều giá trị xã hội bị đảo lộn, sự mất
7
phương hướng, tệ sùng ngoại đang là những vấn đề đáng lo ngại của xã hội.
Đặc biệt là sự thoái hóa, biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ
phận cán bộ, đảng viên, sự quan liêu của bộ máy nhà nước đang trở thành
những nguy cơ lớn đến sự tồn vong của chế độ. Bên cạnh đó, các thế lực thù
địch không ngừng tìm mọi cách phá hoại với những thủ đoạn thâm độc và
ngày càng tinh vi hơn.
Vì vậy, việc nghiên cứu nội dung tư tưởng trị nước của Nho gia và Pháp
gia và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức công vụ ở
nước ta hiện nay sẽ cung cấp và luận chứng cho chúng ta tiếp thu, kế thừa
những yếu tố tích cực của nó để góp phần xây dựng nền đạo đức và pháp luật
mới, hoàn thiện đạo đức con người nhằm phát huy nội lực của con người Việt
Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước một cách vững chắc,
tiến cùng thời đại, đồng thời phê phán và khắc phục những biểu hiện tiêu cực
đang tồn tại trong nhiều mặt, nhiều lĩnh vực ở nước ta hiện nay.
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Tư tưởng trị nước của
Nho gia và Pháp gia đối với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức công vụ ở
nước ta hiện nay.” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Triết học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, Nho gia và Pháp gia nói chung, tư tưởng Đức trị của Nho gia
và tư tưởng Pháp trị của phái Pháp gia nói riêng đã thu hút nhiều người, nhiều
ngành khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều công trình, nhiều hội nghị,
hội thảo trong và ngoài nước. Đặc biệt là ở Việt Nam, trong những năm gần
đây, vấn đề đó càng được quan tâm thêm và nhiều hơn trong nghiên cứu và
giảng dạy Nho gia và Pháp gia.
Liên quan đến đề tài của luận văn, trước hết, là các công trình đi sâu vào
9
Cuốn sách “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, đã nghiên cứu Nho giáo từ
tâm thế của nhà Nho. Ông nhìn nhận Nho giáo không chỉ là một học thuyết
triết học, chính trị xã hội, học thuyết đạo đức mà còn là học thuyết trị nước.
Thứ hai, là các công trình nghiên cứu về Pháp gia và tư tưởng pháp trị
của phái Pháp gia như trong cuốn “Tư tưởng pháp trị của Pháp gia với sự
nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” của PGS. TS Doãn Chính
và TS. Nguyễn Văn Trịnh, đã nghiên cứu sâu sắc bối cảnh ra đời của phái
Pháp gia; phân tích những mặt tích cực, hạn chế của tư tưởng Pháp trị. Nội
dung chủ yếu trong cuốn sách này là tư tưởng Pháp trị, pháp luật là công cụ
chủ yếu để cai trị và quản lý xã hội, là phương thức cơ bản để thiết lập và duy
trì trật tự, kỷ cương của xã hội. Trong các cuốn sách: “Hàn Phi tử” của
Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi và “Hàn Phi tử” của Phan Ngọc, các tác giả đã
tập trung nghiên cứu nội dung tư tưởng chính trị-xã hội của Hàn Phi, nhất là
tư tưởng Pháp trị của ông.
Thứ ba, là các công trình nghiên cứu về đạo đức công vụ có cuốn sách
:Đạo đức trong nền công vụ do Tô Tử Hạ, Trần Anh Tuấn và Nguyễn Thị
Kim Thảo là những người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực tổ chức và cán bộ
của Việt Nam biên soạn trên cơ sở các bài viết và tham luận của các đại biểu
từ các nước ASÊAN tham dự Hội thảo quốc tế: “Đạo đức trong nền công vụ”
tại Hà Nội vào ngày 30 và 31 tháng 5 năm 2001. Cuốn sách gồm hai phần:
Phần thứ nhất, các tác giả nêu vị trí, vai trò và ý nghĩa vấn đề đạo đức công
chức trong nền công vụ. Phần thứ hai, nói về sáng kiến nâng cao đạo đức
công vụ của các nước, xuất phát từ thực tế của đất nước mình. Trong nhiều
bài viết của các tác giả Việt Nam, đều nhấn mạnh đặc điểm dân tộc và tính
giai cấp của vấn đề đạo đức và đưa ra một số nguyên tắc cơ bản xây dựng đạo
đức công chức ở Việt Nam. Ngoài ra, còn có một số tạp chí như: Tạp chí
Quản lý Nhà nước có bài “Bàn về đạo đức công vụ” của TS. Vũ Duy Yên.
Tạp chí Giáo dục lý luận có bài “Nâng cao đạo đức công vụ góp phần đấu
và hoàn thiện đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay. 11
3.2. Nhiệm vụ của luận văn.
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ
sau:
Thứ nhất, trình bày một cách có hệ thống những nội dung chủ yếu trong
tư tưởng trị nước của phái Nho gia và phái Pháp gia.
Thứ hai, làm rõ ý nghĩa nổi bật của tư tưởng trị nước của Nho gia và
Pháp gia đối với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức công vụ ở nước ta hiện
nay. Trên cơ sở đó, luận chứng một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy những
giá trị tích cực của tư tưởng trị nước Nho gia và Pháp gia trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay.
4 . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn.
- Tư tưởng trị nước của Nho gia và Pháp gia.
- Thực trạng của đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Những quan điểm, luận điểm chủ yếu trong tư tưởng trị nước của Nho
gia (qua các tác phẩm kinh điển của Nho gia) và trong tư tưởng trị nước của
Pháp gia (chủ yếu qua sách Hàn Phi tử của Hàn Phi).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1. Cơ sở lý luận.
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm, nguyên lý cơ
bản của triết học Mác-Lênin và những quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam làm cơ sở lý luận.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin, kết hợp với một số phương
13
Chương 1: TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC CỦA NHO GIA VÀ PHÁP GIA.
1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng hình thành tư
tưởng trị nước của Nho gia và Pháp gia.
Với tính cách là hình thái ý thức xã hội, quá trình phát sinh và phát triển
mỗi trường phái triết học đều gắn liền và bị chi phối bởi những đặc điểm, điều
kiện lịch sử nhất định đã nảy sinh ra nó, đúng như C. Mác đã nói: “Các triết
gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại của mình,
của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung
lại trong những tư tưởng triết học” [46, tr.156]. Tư tưởng trị nước của Nho gia
và Pháp gia cũng vậy, nó hình thành không phải ngẫu nhiên, hay xuất phát từ
ý muốn chủ quan của nhà tư tưởng nào đó, mà nó bị quy định, chi phối và
phản ánh những điều kiện lịch sử xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu-Chiến
Quốc. Vì vậy, muốn xem xét, đánh giá một cách đúng đắn nội dung, tính chất
của các trào lưu tư tưởng triết học Trung Quốc nói chung và tư tưởng trị nước
của Nho gia và Pháp gia nói riêng, chúng ta không thể không nghiên cứu bối
cảnh lịch sử, cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của Trung Quốc trong hai thời kỳ
ấy.
1.1.1. Bối cảnh kinh tế-xã hội.
Theo quan niệm của triết học Mác-Lênin, ý thức xã hội do tồn tại xã hội
quyết định và phản ánh điều kiện kinh tế-xã hội của xã hội trong từng giai
đoạn phát triển nhất định. C.Mác cho rằng: “không phải ý thức của con người
quyết định tồn tại của họ, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”
[Dẫn theo 51, tr.15]. Tư tưởng trị nước của mỗi thời đại bao giờ cũng phản
ánh những dấu ấn của thời đại đó. Với tính cách là một bộ phận của kiến trúc
thượng tầng, một hình thái ý thức xã hội, Nho giáo (trong đó có tư tưởng Đức
trị), Pháp gia (trong đó có tư tưởng Pháp trị) cũng nảy sinh, tồn tại trên một
các mặt của đời sống chính trị-xã hội. Nó làm xuất hiện một cục diện mới
trong xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu –Chiến Quốc, đó là tình trạng các
15
nước chư hầu nổi lên lấn át địa vị và quyền lực của nhà Chu. Sự phát triển của
sức sản xuất, kinh tế phát triển đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu
ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội. Nhiều tầng lớp mới xuất hiện và
ngày càng khẳng định địa vị và vai trò của mình. Cái mới và cái cũ cùng đan
xen tồn tại, những mâu thuẫn giữa các giai tầng được hình thành và ngày càng
phát triển, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với giai cấp nông dân
và các tầng lớp bị thống trị khác. Nếu như vào đầu thời Chu, “Đất đai và thần
dân ở khắp dưới gầm trời này không đâu không phải là sở hữu của nhà vua”
(Kinh Thi) thì cho đến lúc này, cái quyền sở hữu tối cao (về đất và dân) ấy đã
bị một tầng lớp người mới lên có sức mạnh kinh tế tấn công và chiếm lấy làm
tư hữu. Tầng lớp quý tộc, thị tộc- cơ sở xã hội của nhà Chu- do bị mất đất,
mất dân, địa vị kinh tế ngày càng sa sút, vì vậy mà đương nhiên, địa vị và vai
trò chính trị cùng ngôi thiên tử của nhà Chu ngày càng suy giảm và trên thực
tế chỉ còn là hình thức. Các nước chư hầu của nhà Chu không những không
chịu phục tùng địa vị và quyền uy của thiên tử (vua nhà Chu), không chịu
cống nạp mà còn phát động chiến tranh thôn tính lẫn nhau, luôn tự xưng và
cho mình là bá chủ thiên hạ. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên miêu tả thời kỳ này là
thời đại “vương đạo suy vi”, “bá đạo” cường thịnh lấn át “vương đạo”.
Trong nội bộ các nước- đặc biệt là các nước lớn- quý tộc chia bè lập
cánh, chia cắt đất đai của các nước chư hầu để mở rộng bờ cõi. Vì thế, nếu ở
đầu thời Chu có khoảng trên dưới 1000 nước chư hầu thì đến thời Xuân Thu
chỉ còn lại hơn trăm nước. Trong đó có khoảng chục nước lớn, mạnh nhất là
nhóm Thất hùng (Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống, Ngô, Việt). Chiến tranh ngày càng
dai dẳng và khốc liệt, nhân dân gánh chịu nhiều tổn thất. Đời sống của họ vốn
đã cơ cực ngày càng lâm vào bế tắc.
Thực chất, sự xuất hiện những tầng lớp mới, những mâu thuẫn về lợi ích
Quốc, đã xuất hiện tầng lớp địa chủ lớn, địa chủ kiêm thương nhân, làm nảy
sinh thêm mâu thuẫn giai cấp này với đẳng cấp, giai cấp khác. Tất cả đã dẫn
17
đến xã hội hết sức rối loạn, không có trật tự, kỷ cương. Việc cai trị, quản lý xã
hội, việc khắc phục loại trừ sự rối loạn trong xã hội theo phương thức cai trị
cũ không có hiệu quả, yêu cầu phải thay thế bằng một phương thức cai trị mới
phù hợp.
Nhằm loại trừ thực trạng xã hội ấy và đưa xã hội từ loạn tới bình trị, một
vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách là cần phải có một cuộc cải
cách về đường lối trị nước, phải kiến tạo một phương thức trị nước có hiệu
quả. Bởi vậy mà, hàng loạt các học thuyết chính trị-xã hội được xem là lý
tưởng do những mưu sĩ đưa ra và được các vua chư hầu tùy chọn làm công cụ
cai trị. Lịch sử gọi đây là thời kỳ “Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy),
“Bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng). Từ đây đã sản sinh hàng loạt
những nhà tư tưởng, những nhà chính trị xuất sắc và hình thành nhiều tư
tưởng triết học, chính trị-xã hội như Nho gia, Pháp gia, Mặc gia, Đạo
gia…Trong số “bách gia” xuất hiện thời Tiên Tần ở Trung Quốc thì Nho giáo
và Pháp gia là những học thuyết có tính hiệu quả và sức sống lâu dài nhất.
Nếu phái Nho gia đặc biệt đề cao đạo đức, coi đạo đức là công cụ, là phương
tiện cai trị, quản lý xã hội có hiệu quả nhất thì phái Pháp gia lại đề cao vai trò
của pháp luật trong việc trị nước, trong việc đưa xã hội từ “loạn” đến “bình
trị”.
1.1.2. Tiền đề tư tưởng.
Tư tưởng Đức trị của Nho giáo và tư tưởng Pháp trị của Pháp gia còn
được hình thành trên cơ sở tiếp thu những tiền đề tư tưởng sau:
Về tôn giáo: Nhà Ân chỉ tôn sùng và cúng tế một vị thần toàn năng, đó là
thần tổ tiên, vì nhà Ân cho rằng, phàm như mọi việc như gió, bệnh tật, hạn
hán, được mùa, mất mùa đều do sự giáng phúc, giáng họa của tổ tông. Vào
khoảng thế kỷ XI TCN, tộc Chu từ phía Bắc tiến vào đất Ân và tiêu diệt hoàn
tỏ khuôn phép của tổ tiên để lại, có như vậy, mới nhận được mệnh trời mà
được hưởng nước, hưởng dân mãi mãi. Rõ ràng, đây là quan niệm đạo đức
19
duy tâm, bảo thủ và phản động nhằm tuyên truyền và củng cố địa vị thống trị
vĩnh viễn của giai cấp quý tộc, thị tộc, bảo vệ nhà nước chuyên chính thị tộc.
Nhưng về sau, quan niệm này lại được nhiều nhà Nho tiếp nhận vào hệ thống
Nho giáo nói chung và tư tưởng đạo đức của Nho giáo nói riêng. Chính điều
này, một phần giúp chúng ta cắt nghĩa vì sao, ở Nho giáo, đạo đức và chính trị
gắn chặt với nhau, coi đạo đức là một trong những công cụ, phương tiện chính
trị chủ yếu của nhà vua, của người cầm quyền trong việc trị dân, trị nước,
bình thiên hạ.
Như vậy, tư tưởng trị nước của Nho giáo là tư tưởng Đức trị nhằm mục
đích là đưa xã hội từ “vô đạo” thành xã hội “hữu đạo”. Nho giáo tiếp nhận
vào hệ thống của mình nhiều tư tưởng tôn giáo để giáo hóa con người, buộc
con người phải tuân theo những quy tắc, chuẩn mực xã hội mà các nhà Nho
đưa ra.
Bên cạnh đó, Tư tưởng Pháp trị của phái Pháp gia được hình thành trên
những tiền đề chủ yếu sau đây:
Tư tưởng pháp trị của Pháp gia là sự kế thừa nhiều tư tưởng triết học của
các bậc tiền bối đương thời. Đặc biệt là sự kế thừa tư tưởng “tôn quân”,
“chính danh” của Khổng Tử, tư tưởng “thượng đồng”, “công lợi” của Mặc gia
và kế thừa tư tưởng quan điểm về “đạo”, “đức”, “đạo vô vi” của Đạo gia, tư
tưởng “tính ác” của Tuân Tử. Tư tưởng về “đạo”, “lý” của Pháp gia là sự kế
thừa tư tưởng duy vật về thế giới của Lão Tử. “Đạo” được thể hiện (bộc lộ,
hiện ra) trong các sự vật, hiện tượng cụ thể bằng cái “lý”, vì vậy “lý” đó là sự
phân biệt giữa vuông và tròn, ngắn và dài, thô kệch và tinh tế, mạnh và yếu” [
Dẫn theo 5, tr.336]. Trong học thuyết của Lão Tử, học thuyết về “đạo” có một
vị trí cực kỳ quan trọng. Nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong
triết học của ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của người
hành vi con người”, Hàn Phi cho rằng, con người sinh ra vốn tham dục, vị lợi,
21
luôn “thích điều lợi và tìm nó, ghét cái hại và tránh nó ”[ Dẫn theo 5, tr.339],
đó là bản tính tự nhiên. Vì vậy, tất cả các quan hệ xã hội (kể cả quan hệ đạo
đức, tình cảm ruột thịt ) đều được xây dựng trên cơ sở tính toán lợi hại cá
nhân. Người chủ cho người làm thuê ăn uống và trả tiền công khá sòng phẳng
không phải vì lòng thương người, mà chính để cho người làm thuê gắng sức
làm việc, còn người làm thuê tận tâm làm việc không phải vì thương chủ, mà
vì được ăn uống, có tiền bạc Tất cả quan hệ cha-con, chồng-vợ, anh-em,
vua- tôi đều có chỗ lợi hại như vậy.
Theo Hàn Phi, bản tính con người thực ra chỉ là sự tính toán cho riêng
mình mà thôi, bởi vì: “Thầy lang khéo mút vết thương, ngậm máu bệnh nhân
đâu phải là vì tình cốt nhục mà chỉ vì lợi. Thợ đóng xe mong cho nhiều người
giàu sang, còn thợ đóng quan tài mong cho nhiều người chết yểu, không phải
là thợ đóng xe có lòng nhân mà thợ đóng quan tài tàn nhẫn, chỉ vì người ta
không giàu sang thì người ta không mua xe, người ta không chết thì quan tài
không bán được” [40, tr.468] và “Cha mẹ đối với con, sanh con trai thì mừng,
sanh con gái thì giết, là do nghĩ đến sau này, đứa nào có lợi lâu dài cho mình
hơn. Vậy, cha mẹ đối với con mà còn đem lòng tính toán lợi hại huống hồ là
những người không có tình cha con với nhau” [40, tr.459]. Chính vì vậy, theo
Hàn Phi muốn trị dân, muốn nước mạnh không thể lấy giáo dục, lễ nghĩa làm
trọng, mà phải đề cao pháp luật vì: “Người tuân theo nhân nghĩa mà trị dân,
để dân theo nghĩa chỉ là một ảo tưởng của Nho gia, làm hại cho nước vì tính
con người ta vốn ác”[ Dẫn theo 5, tr.339]. Hơn nữa, theo ông, nếu dùng nhân
nghĩa để phán xét phải trái sẽ rơi vào tình trạng dùng tâm lý cá nhân để định
nặng nhẹ, thiếu công minh, bởi vì ông vua nhân đức nào mà không có lòng tư
dục, ân oán? Sự thiếu khách quan và công bằng là đầu mối của sự náo loạn
thiên hạ. Vì vậy, phép trị nước công bằng và hữu hiệu hơn cả là dùng luật
pháp.
23
Ông là nhà chính trị có tài được Tần Hiếu Công trọng dụng làm tể tướng.
Trong thời gian này, ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách pháp luật, hành
chính và kinh tế làm cho nước Tần ngày càng hùng mạnh. Với những công
lao đó, ông được Tần Hiếu Công phong tước Thương Công (bởi vậy mới có
tên là Thương Ưởng. Thương Ưởng là đại biểu cho nhóm trọng “pháp” trong
Pháp gia.
Thân Bất Hại (khoảng 401-337 trước Công Nguyên) là người đất Kinh
thuộc nước Trịnh, chuyên học về hình danh, trước làm một chức danh nhỏ
nước Trịnh, sau được Chiêu Ly Hầu dùng làm tướng quốc nước Hàn, là người
xuất thân từ giai cấp quý tộc mới. Thân Bất Hại chủ trương ly khai “đạo đức”,
chống “lễ”, đề cao “thuật” trong phép trị nước.
Thận Đáo (370-290 trước Công Nguyên) là người nước Triệu. Thận Đáo
là đại biểu tiêu biểu trong nhóm trọng “thế” trong Pháp gia. Tư tưởng triết học
của ông chịu ảnh hưởng “đạo” tự nhiên, “vô vi” thuần phát của Lão Tử. Tuy
nhiên, về chính trị, ông chủ trương trị nước bằng pháp luật. Theo ông, pháp
luật phải khách quan như “vô vi”, điều đó, loại trừ thiên kiến chủ quan, riêng
tư của người cầm quyền. Trong phép trị nước, Thận Đáo đặc biệt đề cao thuật
trị nước.
1.2. Một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng trị nước của Nho gia
(Tư tưởng Đức trị).
Ở Trung Quốc, “đức trị”, “pháp trị” là hai đường lối cơ bản của Nho gia
và Pháp gia được xây dựng từ thời cổ đại. Nó trở thành nền tảng lý luận trong
chính sách cai trị của các vương triều phong kiến Trung Quốc suốt hơn hai
nghìn năm.
Ngay từ thời cổ đại, các triết gia phương Đông đã nhận thức một cách
khá tinh tế về vai trò, tác dụng của đạo đức và pháp luật trong việc thiết lập,
ổn định chính trị-xã hội. Đặc biệt ở Trung Quốc, như đã trình bày thời kỳ
Xuân Thu-Chiến Quốc đã có sự chuyển biến sâu sắc từ chế độ chiếm hữu nô
25
nhau từ thấp đến cao. Trong quá trình phát triển đó, cùng với sự vận động
biến đổi của tồn tại xã hội, đạo đức cũng có những biến đổi, đã tồn tại nhiều
những quan niệm đạo đức khác nhau, thậm chí đối lập nhau trong lịch sử.
Theo quan niệm mác xít, đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập
hợp những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách
ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực
hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội
[13, tr.816].
Đạo đức có vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của
con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm
bảo đảm cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại và phát triển. Vai trò của đạo
đức còn được biểu hiện thông qua các chức năng cơ bản của đạo đức: điều
chỉnh hành vi, giáo dục, nhận thức
Vai trò nổi bật của đạo đức theo quan niệm của Nho giáo biểu hiện cụ
thể như sau:
Thứ nhất, đạo đức và thi hành đạo đức là tiền đề, điều kiện quan trọng
nhất để hình thành, hoàn thiện đạo đức của con người và xã hội, góp phần to
lớn vào việc củng cố, duy trì trật tự, kỷ cương và ổn định của xã hội.
Trong Nho giáo Khổng-Mạnh và Nho giáo nói chung, mẫu người lý
tưởng- cần có của xã hội và phù hợp với yêu cầu của giai cấp thống trị chủ
yếu là con người đạo đức. Các nhà Nho đưa ra nhiều chuẩn mực đạo đức,
nhiều quy phạm đạo đức để khuyên răn, ràng buộc và điều chỉnh mọi suy
nghĩ, hành vi của con người trong mối quan hệ xã hội-chính trị của con người.
Theo sách Tứ thư, những chuẩn mực đó là Nhân, Nghĩa, Lễ, Hiếu, Trung, Trí,
Tín Các chuẩn mực đạo đức này cũng chính là những quy phạm đạo đức và
là những phương thức cơ bản để con người đạt đạo có đạo đức. Trong sách
Mạnh tử đã nói : “Người quân tử tiến sâu (về đức hạnh) nhờ vào đạo lý, muốn
rằng tự nắm bắt được đạo lý. Nắm bắt được thì ở yên với đạo, ở yên thì nhờ