1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN QUANG QUÂN
TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC CỦA NHO GIA VÀ PHÁP GIA ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY.
NGUYỄN QUANG QUÂN
TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC CỦA NHO GIA VÀ PHÁP GIA ĐỐI VỚI
VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY.
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80.
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THANH BÌNH
nay. 93
KẾT LUẬN……………………………………………………………… 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………… 107
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Cai trị và quản lý xã hội luôn là một trong những vấn đề được quan tâm
hàng đầu của các quốc gia ở mọi thời đại. Ngay từ thời cổ đại, các triết gia
Trung Quốc đã nhận thức được vai trò to lớn của đạo đức và pháp luật trong
việc cai trị, quản lý xã hội, thiết lập trật tự xã hội , để từ đó đề xướng các học
thuyết “Đức trị” và “Pháp trị”. Những học thuyết ấy đã vượt ra khỏi phạm vi
Trung Quốc và có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn
của việc trị nước, các triều đại đã kế thừa, tiếp thu nhiều tư tưởng về đường lối
trị nước của Trung Quốc. Tuy nhiên, do sự tác động của nhiều yếu tố, của
truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc, đặc biệt là từ nhu cầu, nhiệm vụ
của công cuộc dựng nước và giữ nước, tư tưởng về đường lối trị nước của Việt
Nam có những nét sáng tạo, độc đáo riêng, không hoàn toàn giống như Trung
Quốc.
Ở Việt Nam hiện nay, trong việc quản lý xã hội nói riêng, xây dựng và
phát triển đất nước về mọi mặt nói chung nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta có thể kế thừa nhiều giá
trị của những học thuyết, tư tưởng và nhiều bài học, kinh nghiệm trong công
cuộc dựng nước và giữ nước của cha ông ta trong lịch sử.
Nho giáo là một học thuyết chính trị-xã hội ra đời ở Trung Quốc, tư tưởng
trị nước bao trùm trong học thuyết Nho giáo là tư tưởng Đức trị.
Pháp gia cũng là một trong những trường phái tư tưởng lớn nhất của Trung
Quốc cổ đại. Khác với đường lối trị nước của Nho gia, Pháp gia chủ trương
dùng pháp luật để “trị quốc, bình thiên hạ”.
những yếu tố tích cực của nó để góp phần xây dựng nền đạo đức và pháp luật
mới, hoàn thiện đạo đức con người nhằm phát huy nội lực của con người Việt
Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước một cách vững chắc, tiến
cùng thời đại.
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Tư tưởng trị nước của
Nho gia và Pháp gia đối với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức công vụ ở
nước ta hiện nay.” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Triết học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài của luận văn, trước hết, là các công trình đi sâu vào
nghiên cứu từng lĩnh vực hay từng phạm trù cụ thể trong học thuyết Nho giáo.
Các tác giả đi theo hướng này đề cập đến tư tưởng của Nho gia về giáo dục,
luân lý, đạo đức và vai trò của nó đối với xã hội và với con người. Có thể kể
đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: Trong “Học thuyết chính trị
xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (Từ thế kỷ XI đến nửa thế
kỷ XIX) của Nguyễn Thanh Bình, tác giả đã nghiên cứu Nho giáo chủ yếu với tư
cách là một học thuyết chính trị-xã hội, được các triều đại phong kiến Việt Nam
tiếp nhận và sử dụng làm hệ tư tưởng, công cụ cai trị và quản lý xã hội, trong
việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị, thực tiễn đặt ra cho các triều đại
phong kiến và dân tộc. Tác giả cho rằng, học thuyết chính trị-xã hội của Nho
giáo là căn cứ chủ yếu để thi hành đường lối Đức trị, xây dựng và thực thi pháp
luật.
Các cuốn sách như: “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm, “Nho giáo và
đạo đức” của Vũ Khiêu, “Nho học và Nho học ở Việt Nam” của Nguyễn Tài
Thư và “Đến hiện đại từ truyền thống” của Trần Đình Hượu đã đề cập đến nội
dung của tư tưởng Đức trị với tư cách là điểm xuất phát, thực chất của Nho
giáo. Đặc biệt, trong cuốn sách “Đức trị và Pháp trị trong Nho giáo”, GS Vũ
Khiêu đã trình bày sự thống nhất biện chứng giữa Đức trị và Pháp trị trong hệ
tư tưởng Nho giáo.
Với cuốn “Lịch sử các học thuyết chính trị Trung Quốc” của Lã Trấn Vũ,
cho đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Hữu Khiển,
năm 2003.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, liên quan đến đề tài luận văn, còn
có nhiều luận án, luận văn, các bài viết trên nhiều tạp chí như “Quan niệm của
Nho giáo về xã hội lý tưởng”, “Tư tưởng về Đạo trị nước của các nhà Nho Việt
Nam”, “Đạo đức Nho giáo với việc nâng cao phẩm chất đạo đức cộng sản” của
Nguyễn Thanh Bình, “Tìm hiểu tư tưởng Đức trị trong Nho giáo” của Nguyễn
Thế Kiệt, “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh thế
thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục” của Nguyễn Đình
Tường
Nhìn chung, dù với góc độ, mục đích nghiên cứu khác nhau nhưng các
công trình nghiên cứu trên đều là những kết quả nghiên cứu đáng ghi nhận về tư
tưởng trị nước của Nho gia và Pháp gia. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng trị
nước trong Nho gia và Pháp gia và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng hoàn
thiện đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều, nghiên
6
cứu một cách có hệ thống và còn có một số đánh giá chưa thật sự khách quan và
toàn diện. Vì vậy, với khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, từ góc độ tiếp cận
triết học, luận văn cố gắng trình bày một cách có hệ thống và làm sáng tỏ hơn
một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng trị nước của Nho gia và Pháp gia đối
với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
3.1. Mục đích của luận văn.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung tư tưởng trị nước
của Nho gia và Pháp gia, luận văn chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng
và hoàn thiện đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn.
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày một cách có hệ thống những nội dung chủ yếu trong tư
Những kết quả đạt được của Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục
vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập về Lịch sử triết học Trung Quốc
và Đạo đức học.
7. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của
Luận văn gồm 02 chương, với 7 tiết.
Chương 1: Tư tưởng trị nước của Nho gia và Pháp gia, với 3 tiết
Chương 2: Ý nghĩa tư tuởng trị nước của Nho gia và Pháp gia đối với việc
xây dựng và hoàn thiện đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay, với 4 tiết. Chương 1: TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC CUẢ NHO GIA VÀ PHÁP GIA.
1.1. Bối cảnh kinh tế-xã hội và tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng trị
nước của Nho gia và Pháp gia
1.1.1. Bối cảnh kinh tế-xã hội.
Trên lĩnh vực kinh tế:
Xã hội Trung Quốc vào thời Xuân Thu- Chiến Quốc, với việc sử dụng
công cụ lao động chuyển từ đồ đồng sang công cụ bằng sắt đã làm cho lực
lượng sản xuất phát triển lên trình độ cao hơn. Với việc chế tạo, phát minh và
sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ
thuật sản xuất nông nghiệp.
Việc thay thế công cụ bằng đồng sang bằng sắt lúc này ngày càng trở nên
phổ biến, sự mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, thủ công nghiệp
ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn với rất nhiều ngành nghề đã được mở ra
như nghề rèn, nghề mộc, nghề đúc
Trên cơ sở phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp
cũng phát triển hơn trước, tiền tệ đã xuất hiện. Đây là thời kỳ khởi sắc của nền
thêm tư tưởng kính trời, thờ thượng đế, hợp mệnh trời, người với trời hợp nhất.
Về chính trị: Tư tưởng chính trị chủ yếu của giai cấp quý tộc Chu là “Nhận
dân”, “Hưởng dân”, “Trị dân”.
Về đạo đức: Tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm
nòng cốt.
Tư tưởng pháp trị của Pháp gia là sự kế thừa nhiều tư tưởng triết học của
các bậc tiền bối đương thời. Đặc biệt là sự kế thừa tư tưởng “tôn quân”, “chính
danh” của Khổng Tử, tư tưởng “thượng đồng”, “công lợi” của Mặc gia và kế
thừa tư tưởng quan điểm về “đạo”, “đức”, “đạo vô vi” của Đạo gia, tư tưởng
“tính ác” của Tuân Tử
Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi còn tiếp thu, phát triển và hệ thống hóa
những quan niệm về đường lối trị nước theo pháp luật của các nhà tư tưởng
trước Hàn Phi như Ngô Khởi, Lý Khôi và ba phái trong phái Pháp gia: Thương
Ưởng, Thân Bất Hại, Thận Đáo.
Thương Ưởng, người nước Vệ, tên họ là Công Tôn, xuất thân từ giới quý
tộc nhưng đã su sút, sống cùng thời với Mạnh Tử, Thân Bất Hại, Thận Đáo.
Ông là nhà chính trị có tài được Tần Hiếu Công trọng dụng làm tể tướng. Trong
thời gian này, ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách pháp luật, hành chính và
kinh tế làm cho nước Tần ngày càng hùng mạnh. Với những công lao đó, ông
được Tần Hiếu Công phong tước Thương Công (bởi vậy mới có tên là Thương
Ưởng. Thương Ưởng là đại biểu cho nhóm trọng “pháp” trong Pháp gia.
Thân Bất Hại (khoảng 401-337 trước Công Nguyên) là người đất Kinh
thuộc nước Trịnh, chuyên học về hình danh, trước làm một chức danh nhỏ nước
Trịnh, sau được Chiêu Ly Hầu dùng làm tướng quốc nước Hàn, là người xuất
9
thân từ giai cấp quý tộc mới. Thân Bất Hại chủ trương ly khai “đạo đức”, chống
“lễ”, đề cao “thuật” trong phép trị nước.
Thận Đáo (370-290 trước Công Nguyên) là người nước Triệu. Thận Đáo là
đại biểu tiêu biểu trong nhóm trọng “thế” trong Pháp gia. Tư tưởng triết học của
sự vật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó sao cho “danh” đúng với thực chất
của sự vật.
Hai là: Vai trò đạo đức của nhà vua và kẻ cầm quyền trong việc thực hiện
đường lối Đức trị.
Quan niệm của Nho giáo về một ông vua, người cầm quyền có đạo đức
biểu hiện trong sự thống nhất giữa “nội thánh và ngoại vương”, giữa “tri” và
“hành”.
10
Nho giáo cho rằng, nhà vua có đạo đức và thi hành cái đạo đức của mình
có ý nghĩa quyết định trong việc trị dân, giáo hóa dân, thu phục lòng người.
Ba là, Dân và vai trò của dân trong việc thực thi đường lối Đức trị.
Vai trò của dân trong quan niệm của Nho gia biểu hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất: Dân là một lực lượng to lớn trong xã hội mà Mạnh Tử gọi là
“lao lực”, tức là làm việc mệt nhọc bằng sức lực chân tay để tạo ra của cải vật
chất cho chính họ, gia đình họ và cả tầng lớp “lao tâm” cai trị người.
Thứ hai: Dân là gốc nước, là nền tảng của nền chính trị. Theo đó, thì
không có dân thì không có nước, không có vua.
1.2.3. Giá trị và hạn chế cơ bản trong tư tưởng đức trị của Nho giáo.
1.2.3.1. Một số giá trị nổi bật, chủ yếu.
Thứ nhất, trong học thuyết Nho giáo, “Nhân”, “Nghĩa” được đề cao và
được coi là nguồn gốc của mọi đức khác.
Thứ hai, Nho giáo đề cao đạo tu thân, coi đây là một yêu cầu quan trọng
bậc nhất trong việc tu dưỡng đạo đức của mọi người từ bậc thiên tử xuống thứ
dân.
1.2.3.2. Một số hạn chế.
Thứ nhất, Nho giáo quá coi trọng vai trò của đạo đức và tư tưởng Đức trị.
Thứ hai, với việc Nho giáo nêu lên những chuẩn mực đạo đức cứng nhắc,
sự tu dưỡng đạo đức bằng phương pháp khắc kỷ nghiêm ngặt đã gò bó, trói
buộc con người.
mà mọi việc được chia cho văn võ bá quan còn quyền bính chủ yếu, quan trọng
được đặt trong tay vua.
1.3.4. Một số giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng pháp trị của
phái Pháp gia.
1.3.4.1. Một số giá trị nổi bật.
Pháp gia là một học thuyết duy vật và biện chứng chất phát nhưng triệt để
nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại.
Pháp gia là trường phái triết học lần đầu tiên của Trung Quốc cổ coi kinh tế
là một động lực và là sự biểu hiện của sự phát triển lịch sử xã hội.
Pháp gia còn là một học thuyết kết tinh trên cơ sở nâng cao hơn về chất
toàn bộ những tư tưởng pháp luật, tản mạn, tự phát trong lịch sử Trung Hoa từ
trước đó.
1.3.4.2. Một số hạn chế chủ yếu.
Quá nhấn mạnh đến vai trò của pháp luật, đến biến pháp mà không chú ý
đến việc giáo hóa về mặt đạo đức.
Nội dung pháp luật của Pháp gia vẫn còn phiến diện. Tư tưởng pháp trị của
Pháp gia về bản chất vẫn là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Chương 2: Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC CỦA NHO GIA VÀ
PHÁP GIA ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC
CÔNG VỤ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
2.1. Khái niệm công vụ và đạo đức công vụ ở Việt Nam.
2.1.1. Khái niệm công vụ:
Theo nghĩa bao quát, cơ bản: “Công vụ là hoạt động thực hiện chức trách
nhiệm vụ Nhà nước của cán bộ, công chức. Công chức là khái niệm chỉ người,
chủ thể, còn công vụ là khái niệm chỉ việc, mặt hành động, hoạt động. Thông
Hiện nay, đông đảo cán bộ, công chức đã kế thừa được truyền thống cách
mạng của Đảng và của dân tộc, đã ý thức được trách nhiệm của người cán bộ,
công chức, vượt khó khăn, gian khổ.
Qua thực tiễn cách mạng, Đảng ta đánh giá “cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ
các cấp từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị
vững vàng, kiên định mục tiêu, con đường mà Bác Hồ và nhân dân đã chọn” và
“số đông cán bộ giữ được đạo đức, phẩm chất cách mạng, lối sống lành mạnh,
giản dị, gắn bó với nhân dân”.
2.2.2. Mặt tiêu cực và nguyên nhân.
2.2.2.1. Một số biểu hiện tiêu cực chủ yếu.
Trong những năm gần đây, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đẩy mạnh
công nghiệp hóa- hiện đại hóa, chúng ta đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những mặt tích cực, còn không ít
những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã và đang tác động tiêu cực đến lĩnh
vực đời sống đạo đức công vụ của cán bộ, công chức. Như Đảng ta đã đánh giá:
“có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là một số đồng chí có chức,
có quyền đã thoái hóa, biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống, lợi dụng chức
13
quyền để tham nhũng, buôn lậu, lảng phí của công, quan liêu, xa dân, kèn cựa
địa …”. Một số biểu hiện cụ thể:
Một là, chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng, vụ lợi có xu hướng
ngày càng phát triển.
Hai là, tệ tham nhũng, quan liêu, hối lộ, bòn rút của công, lãng phí diễn ra
ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực…
Ba là, lối sống thiếu trung thực, tư tưởng bản vị, lợi dụng chức quyền, cơ
hội, “chạy chọt” vì lợi ích cá nhân, như chạy thành tích, bằng cấp, chức quyền,
Bốn là, lời nói không đi đôi với việc làm, nói và làm trái với nghị quyết
của Đảng; nói một đằng, làm một nẻo; nói nhiều, làm ít
Năm là, suy thoái về đạo đức trong quan hệ gia đình và quan hệ giữa cá
14
Nho giáo đề cao việc học tập, nghề được tôn vinh là nghề dạy học. Điều
này đã tạo nên một xã hội hiếu học, con người ham học, hiếu học ấy trong lịch
sử đã góp phần đào tạo nên những người hiền tài, tuấn kiệt, biết trọng nghĩa
kinh tài.
Tư tưởng chú trọng kỷ cương, phép nước, quy ước cộng đồng. Ở Nho giáo,
việc giáo dục vấn đề này được đặt lên hàng đầu, nó thể hiện ở phạm trù “lễ”.
Tư tưởng chính danh và đề cao trách nhiệm của người cầm quyền. Tư
tưởng chính danh của Nho giáo có ý nghĩa tác động đến đội ngũ cán bộ, công
chức cố gắng làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình.
Phương pháp rèn luyện đạo đức cá nhân của Nho giáo- tu thân. Người cán
bộ, công chức cần không ngừng tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân mình.
Bên cạnh ảnh hưởng tích cực như đã nêu trên đây, đức Nhân, đức Nghĩa
của đạo đức Nho giáo cũng có ảnh hưởng tiêu cực đến một số cán bộ, công
chức, bởi họ quá coi trọng nội dung đạo đức đó trong xử lý các mối quan hệ xã
hội, dẫn đến sự buông lỏng kỷ cương phép nước và vi phạm pháp luật, kéo bè,
kéo cánh, đưa những người thân, anh em họ hàng vào công tác nơi mình đang
quản lý
Tính giáo điều, ảo tưởng trong đạo đức của Nho giáo đã gây lên bệnh hinh
thức, quan liêu, thói đạo đức giả.
Tư tưởng trị nước của Pháp gia ảnh hưởng rất lớn đến đất nước Trung
Quốc. Do vậy, tư tưởng trị nước dùng pháp luật của phái Pháp gia có ý nghĩa
sâu sắc đối với việc xây dựng đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay.
Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi góp phần vào việc khắc phục hành vi, vi
phạm đạo đức, vi phạm pháp luật.
Góp phần vào việc giáo dục thói tôn trọng pháp luật. Đặc biệt là hiện tượng
vi phạm luật an toàn giao thông hiện nay.
Bên cạnh mặt tích cực của học thuyết Pháp gia đối với đạo đức trong nền
công vụ, còn một số nhược điểm cần khắc phục như:
trị nước của phái Nho gia thể hiện như cụ thể như: đề cao những chuẩn mực
đạo đức như Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hiếu, Trung…Coi đạo đức là công cụ,
phương tiện chủ yếu nhất của giai cấp thống trị trong việc cai trị và quản lý xã
hội. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực và ảnh hưởng rất lớn đến việc xây
dựng dựng đạo đức công vụ, đặc biệt là đạo đức cho cán bộ, công chức trong
khi thi hành công vụ còn có mặt hạn chế nhất định của lịch sử.
Trong khi Khổng Tử đề cao vai trò của đạo đức trong việc cai trị và quản
lý xã thì tư tưởng trị nước của phái Pháp gia lại đối lập hoàn toàn. Tư tưởng trị
nước trong học thuyết Pháp gia là tư tưởng pháp trị. Pháp gia đề cao vai trò của
pháp luật trong đời sống xã hội, sử dụng pháp luật để cai trị, quản lý đất nước.
Thuyết Pháp trị của Hàn Phi không chỉ tổng hợp mà còn phát triển tư tưởng của
các Pháp gia trước ông.
Vấn đề nổi bật trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi là tư tưởng đề cao pháp
luật, pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu nhất để quản lý xã hội, để duy trì trật
tự xã hội, duy trì chế độ quân chủ trung ương tập quyền. Phương pháp trị nước
của phái Pháp gia tổng hợp từ nhiều các triết gia khác để xây dựng nên học
thuyết của mình. Nếu như Thương Ưởng đề cao “Pháp”, Thân Bất Hại để cao
“Thuật”, Thận Đáo đề cao “Thế” trong phép trị nước thì Hàn Phi tổng hợp cả ba
phái này và phát triển thêm thành một thuyết cai trị- thuyết Pháp trị, có ảnh
hưởng rất lớn trong lịch sử Trung Quốc và tới việc xây dựng đạo đức công vụ ở
nước ta hiện nay. Tư tưởng trị nước Nho gia và Pháp gia đều có mặt tích cực và
hạn chế trong việc trị nước.
Cuối cùng là, do khuôn khổ và giới hạn của một Luận văn Thạc sĩ ngành
Triết học và năng lực nghiên cứu của tác giả còn nhiều hạn chế, do vậy, những
nội dung trình bày, phân tích trong luận văn này không thể nào phản ánh đầy đủ
nội dung vốn có của đối tượng nghiên cứu. Nhất là, để có một cái nhìn khách
quan, toàn diện hơn nội dung tư tưởng trị nước của Nho gia và Pháp gia đối với
16
việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay, cần phải được