Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
5
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu về ý thức pháp luật và một số đánh giá chung
5
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về ý thức pháp luật
5
1.1.2. Một số đánh giá chung
8
1.2. Tình hình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp và một số đánh giá
10
chung
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp
10
23
2.1.2. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp
32
2.2. Ý thức pháp luật
36
2.2.1. Khái niệm, cấu trúc ý thức pháp luật
36
2.2.2. Những đặc trưng cơ bản của ý thức pháp luật trong hoạt động
39
của doanh nghiệp hiện nay
2.3. Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh
41
nghiệp - một số biểu hiện chủ yếu
2.3.1. Ý thức pháp luật xây dựng văn hóa pháp luật cho các chủ thể
doanh nghiệp
4
hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
3.1.1. Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa pháp
64
luật cho các chủ thể doanh nghiệp
3.1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng môi trường
71
kinh doanh và các mối quan hệ cơ bản của doanh nghiệp
3.1.3. Vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình sản xuất sản phẩm
84
của doanh nghiệp
3.1.4. Vai trò của ý thức pháp luật trong việc sáng tạo các giá trị văn
87
hóa, triết lý kinh doanh và hệ thống giá trị của doanh nghiệp
3.2. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng vai trò của ý thức pháp luật
95
trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
3.2.1. Một bộ phận chủ thể doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về
95
hóa doanh nghiệp phải thông qua quá trình hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và lành mạnh
hóa đời sống xã hội
4.1.2. Phát huy vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn
107
hóa doanh nghiệp là trách nhiệm của toàn xã hội mà trước hết là
trách nhiệm của bản thân doanh nghiệp và cần được các chủ thể
doanh nghiệp tiến hành thường xuyên, liên tục
4.2. Giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp luật
109
trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
4.2.1. Nhóm giải pháp thứ nhất: Nâng cao nhận thức của các chủ thể
109
doanh nghiệp và toàn xã hội về tầm quan trọng của ý thức pháp
luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp hiện nay
4.2.2. Nhóm giải pháp thứ hai: Đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật
120
để tạo khuôn khổ pháp lý cho các doanh nghiệp tiếp tục xây
dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp
4.2.3. Nhóm giải pháp thứ ba: Xử lý nghiêm minh những hành vi vi
130
VHDN
: Văn hóa doanh nghiệp
VHKD
: Văn hóa kinh doanh
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
YTPL
: Ý thức pháp luật
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Doanh nghiệp là nhân tố cấu thành quan trọng trong hệ thống hữu cơ nhà nước doanh nghiệp - thị trường của nền kinh tế thị trường (KTTT). Trong dòng luân chuyển
kinh tế vĩ mô, doanh nghiệp với tính cách là chủ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh,
tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Trong nền KTTT định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) ở nước ta, doanh nghiệp là lực lượng vật chất đặc biệt, thúc đẩy quá trình
hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, chăm lo xây
dựng, phát triển hệ thống doanh nghiệp là trách nhiệm của toàn xã hội mà trước hết là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các chủ thể doanh nghiệp. Tuy nhiên, để doanh
nghiệp phát triển bền vững, vấn đề cần đặc biệt quan tâm là xây dựng, phát huy các yếu
tố văn hóa của doanh nghiệp, hình thành văn hóa doanh nghiệp (VHDN). Đối với sự vận
nhân tố của VHDN. Các yếu tố "hữu hình" và "vô hình" của VHDN ra đời nhanh chóng
khi được YTPL "vạch đường đi", "tạo lực đẩy". Do đó, lấy YTPL làm tiền đề, là điều
kiện tối thiểu ban đầu cho mỗi doanh nghiệp nước ta biết điều chỉnh hành vi cho cả quá
trình hình thành bản sắc văn hóa riêng biệt đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay có ý
nghĩa vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề này từ góc độ lý luận trong
thời gian qua ở nước ta chưa nhiều. Mặt khác, quá trình hình thành những giá trị văn hóa
của doanh nghiệp hiện nay mang tính "tự phát", chạy theo "phong trào". Đa số các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta chưa có ý thức về VHDN và xây dựng VHDN; chưa
tạo ra được hình ảnh, bản sắc văn hóa riêng. Chúng ta cũng chưa xây dựng được bảng
thang giá trị cụ thể làm tiêu chí của VHDN Việt Nam.
Với mong muốn góp phần xây dựng VHDN nhằm thúc đẩy doanh nghiệp
phát triển theo hướng bền vững, tác giả lựa chọn đề tài "Vai trò của ý thức pháp
luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài
nghiên cứu luận án tiến sĩ triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Hy vọng từ tên đề tài, với những kết quả nghiên cứu sẽ
góp phần phát hiện các giải pháp nhằm phát huy vai trò của YTPL đối với việc xây
dựng VHDN ở Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích của luận án
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của YTPL trong việc xây dựng
VHDN để đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của YTPL đối với việc xây
dựng VHDN ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
- Làm rõ khái niệm VHDN, xây dựng VHDN, YTPL và vai trò của YTPL
trong việc xây dựng VHDN.
9
doanh nhân trong đời sống xã hội.
10
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Về mặt khoa học
Dưới góc độ triết học, luận án góp phần làm rõ một số vấn đề như VHDN, nội
dung xây dựng VHDN, các nhân tố dẫn đến sự hình thành VHDN, trong đó có nhân tố
YTPL. Từ đó, luận án làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của YTPL trong việc xây dựng
VHDN cũng như thực trạng và những vấn đề đặt ra từ thực trạng vai trò của YTPL trong
việc xây dựng VHDN ở Việt Nam hiện nay, làm cơ sở kiến nghị các giải pháp nhằm phát
huy vai trò YTPL trong xây dựng VHDN ở nước ta hiện nay.
5.2. Về mặt thực tiễn
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc học tập, nghiên cứu về
YTPL và VHDN cho học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu... Luận án cũng là tài
liệu tham khảo cho các nhà quản lý doanh nghiệp, quản lý xã hội khi giải quyết các
vấn để nảy sinh từ thực tiễn quản trị doanh nghiệp và xây dựng VHDN ở Việt Nam
hiện nay.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 4 chương, 10 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Chương 2: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh
nghiệp - một số vấn đề lý luận.
Chương 3: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp
luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
dựng pháp chế XHCN trong cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc. Ở đây, YTPL tiếp
tục được làm rõ trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trở thành cơ sở cho việc
nghiên cứu về khái niệm này về sau.
"Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà
nước
ở nước ta hiện nay" (1996) - Luận án phó tiến sĩ Luật học của Lê Đình Khiên. Tác
giả chỉ ra những đặc điểm, thực trạng YTPL của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính ở
nước ta. Từ đó tác giả vạch ra những biện pháp nhằm giáo dục YTPL cho đội ngũ
12
cán bộ quản lý hành chính nhà nước. Điểm mới là tác giả đã tiếp cận YTPL từ phía
chủ thể mang YTPL để chỉ ra YTPL của bộ phận cán bộ quản lý hành chính ở nước
ta. Từ góc độ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thấy rằng có thể kế thừa được khái
niệm về YTPL cũng như đặc điểm YTPL của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính ở
nước ta hiện nay. Đây là căn cứ để chỉ ra những hạn chế trong văn hóa pháp luật của
đội ngũ cán bộ quản lý trong các DNNN hiện nay.
"Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện
nay" (2000), Luận án tiến sĩ Triết học của Đào Duy Tấn. Tác giả Đào Duy Tấn cũng
có cuốn sách "Sự hình thành ý thức pháp luật và giải pháp nâng cao ý thức pháp
luật
ở nước ta thời kỳ đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Bằng việc chỉ ra
khái niệm, chức năng, vai trò của YTPL và những nhân tố tác động đến sự hình
thành YTPL, tác giả đã chỉ ra những đặc điểm của sự hình thành YTPL ở Việt Nam
như: ảnh hưởng của "lệ làng", tư tưởng phong kiến, thực dân, cơ chế hành chính
quan liêu... Từ đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao YTPL ở nước
ta hiện nay. Có thể khẳng định điểm mới trong công trình là tác giả tìm ra các nhân tố
hình thành của YTPL ở nước ta hiện nay.
Tác giả Nguyễn Thúy Vân với "Một số đặc điểm của ý thức pháp luật Việt
pháp luật của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam"
(2004) cũng chỉ ra những nhân tố khách quan và thực trạng sự phát triển YTPL của nhân
dân đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo, phương
hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao YTPL của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long
trong giai đoạn hiện nay. Từ công trình này, có thể tiếp tục kế thừa phương pháp nghiên
cứu YTPL của một chủ thể gắn với điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Tác giả Trần Thị Nguyệt với "Vai trò của ý thức pháp luật đối với hoạt động
xây dựng và thực hiện pháp luật" (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8, 2005).
Trong bài viết, tác giả đề cập nhiều đến vai trò của YTPL trong việc xây dựng pháp
luật, thôi thúc thực hiện pháp luật như là một nhân tố đặc biệt - nét khác biệt của tác
giả. Từ công trình này, chúng tôi có thể tiếp thu được những quan niệm về vai trò của
YTPL trong việc xây dựng văn hóa pháp luật cho các doanh nghiệp.
Tác giả Đào Trí Úc (2006) với "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật"
(Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX 07-17), "Thị trường và pháp
luật"(Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1, 1993) đều tiếp tục làm rõ nội hàm khái
niệm YTPL cũng như vai trò của nó trong đời sống xã hội cũng như hoạt động lập
pháp, hành pháp. Từ hai công trình trên, có thể kế thừa quan điểm mới của tác giả về
mối quan hệ biện chứng giữa thị trường và pháp luật. Đây là cơ sở lý luận cho quá
trình nghiên cứu mối quan hệ giữa YTPL với đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội.
Trong "Ý thức pháp luật với đời sống xã hội" (Tạp chí Luật học, số 1-2006)
của Tiến sĩ Nguyễn Minh Đoan đã bàn luận sâu sắc về vai trò của YTPL đối với đời
sống xã hội. Vì vậy, có thể kế thừa những quan điểm của tác giả khi nghiên cứu vai
trò của YTPL đối với việc xây dựng VHDN.
14
Luận án tiến sĩ Triết học của Ngọ Văn Nhân (2008) - "Dư luận xã hội và sự
tác động của nó đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở nước ta
YTPL. Có thể nói, tác giả Đào Duy Tấn và tác giả Nguyễn Minh Đoan là hai tác giả
bàn khá nhiều về vấn đề này. Tác giả Đào Duy Tấn chỉ ra YTPL gồm: hệ tư tưởng
pháp luật và tâm lý pháp luật; YTPL thông thường và YTPL khoa học; YTPL ở trình
độ cảm tính và YTPL trình độ lý tính. Tác giả Nguyễn Minh Đoan còn phân loại
YTPL bao gồm: YTPL thông thường, YTPL lý luận, YTPL nghề nghiệp, YTPL của
cá nhân, YTPL nhóm, YTPL xã hội.
Về chức năng của YTPL: Tác giả Đào Duy Tấn phân tích YTPL bao gồm các
chức năng: chức năng nhận thức, chức năng mô hình hóa, chức năng điều chỉnh hành
vi. Tác giả Nguyễn Minh Đoan cũng cho rằng YTPL gồm 3 chức năng: chức năng
16
nhận thức; chức năng mô hình hóa pháp lý, hình thành các chuẩn mực pháp luật và
hệ thống các giá trị xã hội; chức năng điều chỉnh.
Về mối quan hệ giữa YTPL cá nhân và YTPL xã hội: các tác giả khẳng định
đây là mối quan hệ biện chứng. Điển hình như tác giả Đào Duy Tấn cho rằng mối
quan hệ biện chứng này diễn ra theo quá trình: từ thực tiễn nảy sinh nhu cầu pháp lý;
nhận thức nhu cầu pháp lý để xây dựng pháp luật; quyết định pháp luật.
Thứ hai, các tác giả phân tích vai trò của YTPL đối với một lĩnh vực nào đó
trong đời sống xã hội. Ví dụ: đối với dư luận xã hội, thực hiện pháp luật, xây dựng
văn hóa pháp luật, đạo đức, dân chủ ở nông thôn, thị trường…Từ đó, các tác giả rút
ra phương pháp luận và những giải pháp cho việc phát huy vai trò của YTPL đối với
những lĩnh vực cụ thể này trong đời sống xã hội. Chẳng hạn, phân tích mối quan hệ
của YTPL với dư luận xã hội, tác giả Ngọ Văn Nhân cho rằng "ý thức pháp luật là cơ
sở, tiền đề cho sự hình thành thái độ, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật của công
chúng - điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và phát triển dư luận xã hội về các
vấn đề pháp luật" [89, tr. 68]. Đây là cơ sở cho chúng tôi kế thừa khi nghiên cứu vai
trò của YTPL đối với một lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội. Về vai trò của
YTPL đối với việc xây dựng dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, tác giả Lê Xuân
đề về khái niệm VHDN và xây dựng VHDN còn được trình bày trong các cuốn sách
như: "Management" của Stenphen Paul Robbins, "Organizational Culture" của tác
giả Andrew Brown, "Organizatinonal Culture and Leadership" của Edgar H.Shein
(San Francisco, 1992), "Effective Management of Social Enterprises" của James
Austin (Harvard University, 2006)… Quan niệm về VHDN của các học giả phương
Tây và Mỹ đã đi từ hiện tượng đến bản chất, vạch ra sâu sắc nội hàm khái niệm
VHDN, làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu về khái niệm này nói riêng và những vấn
đề xoay xung quanh VHDN nói chung.
- Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp ở nước ta:
Trong bối cảnh phát triển KTTT thời kỳ đổi mới, xu hướng nghiên cứu về
VHKD, VHDN, văn hóa doanh nhân, đạo đức kinh doanh, triết lý kinh doanh, trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp, văn hóa trong kinh tế…nước ta đã được nhiều nhà
nghiên cứu khởi xướng. Tuy nhiên, từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, những
cuộc bàn luận xung quanh vấn đề này của giới học giả Việt Nam mới nở rộ trên các
sách, báo, tạp chí, website và chịu ảnh hưởng nhiều từ quan điểm của các học giả Mỹ
và phương Tây.
"Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp" của GS.TS Nguyễn Thị Doan TS.Đỗ Minh Cương (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999) và "Văn hóa kinh doanh và
triết lý kinh doanh" của Tiến sĩ Đỗ Minh Cương do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm
2001. Trong các công trình này, các tác giả đề cập đến một khái niệm khá mới
ở Việt Nam - triết lý kinh doanh, cũng như vai trò của nó. Tác giả bàn luận toàn diện vai
trò của các nhân tố văn hóa trong kinh doanh, trong đó khẳng định: "Văn hóa kinh
doanh là một nguồn lực và cách thức phát triển kinh doanh bền vững" [24, tr. 72].
Theo tác giả, văn hóa đóng vai trò quan trọng quản trị doanh nghiệp. Tác giả đưa ra
18
khái niệm, chỉ ra những điều kiện ra đời và cách thức tạo lập triết lý doanh nghiệp
cũng như những điều kiện phát huy giới hạn của nó. Đặc biệt, trong công trình này,
VHDN ở nước ta; những thực trạng VHDN Việt Nam; các giải pháp xây dựng VHDN.
19
"Sức hấp dẫn - một giá trị văn hóa doanh nghiệp" do Nxb Chính trị quốc gia
xuất bản năm 2005 của Trần Quốc Dân. Trong cuốn sách này, tác giả đi làm rõ khái
niệm VHDN và "sức hấp dẫn" của một doanh nghiệp. Theo tác giả, "sức hấp dẫn" là
một giá trị của VHDN, vì vậy xây dựng VHDN là phải tạo nên được sức hấp của một
doanh nghiệp. Ở đây, có thể kế thừa được khái niệm VHDN và khái niệm "sức hấp
dẫn" từ một doanh nghiệp của tác giả.
Đề cập đến những điểm cần chú trọng trong việc xây dựng VHDN và thực tiễn
VHKD Việt Nam hiện nay, tập hợp những bài viết từ Hội thảo, PGS.TS. Đào Duy Quát
đã chủ biên cuốn "Văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân trong quá trình hội
nhập" được Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 2007. Trong đó, tác giả đưa ra một số
điểm cần lưu ý khi xây dựng VHDN: xây dựng và bảo vệ các giá trị truyền thống trong
VHDN; phát triển doanh nghiệp gắn với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh"; không vì lợi
nhuận mà xâm hại lợi ích quốc gia; bảo đảm an ninh, bí mật quốc gia.
"Quản lý giá trị và văn hóa doanh nghiệp", Tạp chí Nhà quản lý, số 66-2008
của Nguyễn Mạnh Quân. Trong bài viết, tác giả đã nêu ra vai trò của phương pháp
quản lý bằng giá trị, quản lý bằng VHDN. Bài viết có sự kế thừa các công trình
nghiên cứu trước đây về phương pháp quản trị bằng văn hóa, tiếp tục cung cấp
những thông tin quan trọng về nội dung của VHDN.
"Doanh nghiệp doanh nhân và văn hóa" của Trần Quốc Dân, Nxb Chính trị
quốc gia xuất bản năm 2008. Trong cuốn sách, tác giả luận giải về mối quan hệ giữa
doanh nghiệp, doanh nhân với văn hóa. Theo tác giả, VHDN có vai trò là nền tảng của
sự phát triển doanh nghiệp. Vì vậy, xây dựng VHDN cần: xác định được hệ giá trị phù
hợp; lấy con người làm trung tâm; thị trường mang tính quyết định; đạo đức là quan
trọng; lấy tinh thần trách nhiệm xã hội làm căn cứ. Do đó, điểm mới có thể kế thừa được
phong cách quản lý; từ nhóm yếu tố hữu hình. Tác giả cũng đi phân tích 5 chức năng
(chỉ đạo, ràng buộc, liên kết, khuyến khích, lan truyền) và các mô hình của VHDN.
Tác giả cũng vạch ra các bước xây dựng VHDN, những phương hướng và giải pháp
xây dựng VHDN Việt Nam hiện nay bao gồm: lấy con người làm gốc; hướng tới thị
trường; coi trọng khách hàng… Trong tài liệu của mình, tác giả Đỗ Thị Phi Hoài
phân tích chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành VHDN, các giai đoạn
hình thành VHDN, các biểu hiện của VHDN và các mô hình VHDN...
Từ các tài liệu trên, chúng tôi có thể kế thừa một cách có hệ thống những nội
dung về VHDN phục vụ cho việc nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, theo chúng
tôi, hạn chế của các tài liệu trên là chưa chỉ ra được một cách đầy đủ các nhân tố
hình thành VHDN cũng như đưa ra mô hình cấu trúc VHDN một cách dễ hiểu nhất.
Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Ngọc Anh (2010) "Vấn đề văn hóa
kinh doanh ở nước ta hiện nay" cũng đề cập đến việc phân biệt VHKD và VHDN,
trên cơ sở đó cho chúng ta thấy được rõ VHDN cũng như những giải pháp xây dựng
VHKD gắn với xây dựng VHDN.
Một số cuốn sách gần đây đã tiếp tục nghiên cứu về vấn đề VHDN: Trong
cuốn "Văn hóa doanh nghiệp" của Nguyễn Duy Chinh - Phạm Văn Quây do NXB
21
Lao động xuất bản năm 2009, hầu hết nội dung cuốn sách là các tình huống cụ thể để
góp phần cho các doanh nghiệp tham khảo, rút ra kinh nghiệm cho việc xây dựng
VHKD, đặc biệt là nghệ thuật marketing. Một số cuốn sách bàn về VHDN ở một
giác độ nhất định, trong mối quan hệ với các nhân tố khác như: "Đạo đức kinh doanh
và văn hóa doanh nghiệp" của GS.TS Bùi Xuân Phong, NXB Thông tin và Truyền
thông - 2009. Cuốn sách luận giải về mối quan hệ giữa VHDN với đạo đức kinh
doanh. Từ cuốn sách, có thể tham khảo được quan điểm của tác giả về đạo đức kinh
doanh và VHDN.
"Văn hóa kinh doanh" của PGS.TS Dương Thị Liễu, nhà xuất bản Đại học
quốc gia xuất bản năm 2011. Trong công trình này, các tác giả nghiên cứu toàn diện
về VHKD, nhân cách doanh nhân và VHDN. Trong đó, các tác giả có đầy đủ kết quả
khảo sát về VHDN ở nước ta. Qua công trình này, có thể kế thừa được nhận định của
các tác giả khi đánh giá thực trạng xây dựng VHDN ở nước ta hiện nay.
"Tinh thần doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập" do PGS, TS Hoàng Văn
Hải (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012 làm rõ cấu trúc của yếu tố
tinh thần doanh nghiệp nói chung và tinh thần doanh nghiệp Việt Nam nói riêng.
Trong cuốn sách này, các tác giả khẳng định triết ký kinh doanh, động cơ kinh doanh,
bản lĩnh quản trị là những yếu tố cấu thành tinh thần doanh nghiệp - những nhân tố
này tạo nên VHDN. Đây là góc nhìn VHDN riêng của tác giả bằng cách đi phân tích
một yếu tố đặc thù của VHDN.
Hiện nay, một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về VHDN Việt Nam.
Ví dụ như luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
của Phan Đức Tú với đề tài "Một số giải pháp xây dựng, thực hành và phát triển văn
hóa doanh nghiệp tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam"...
1.2.2. Một số đánh giá chung
Nhìn chung, có thể thấy nghiên cứu về VHDN ở Việt Nam có đặc điểm:
Thứ nhất, các tác giả (theo các phương pháp tiếp cận khác nhau) đi vào
nghiên cứu một cách chi tiết những nội dung của VHDN, đặc biệt là những biểu hiện
và các mô hình VHDN (để tham khảo và lựa chọn cho việc vận dụng) trên cơ sở có
sự kế thừa quan điểm về VHDN của các học giả nước ngoài. Giá trị của các công
trình là đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về VHDN, cấu trúc của VHDN, các tiêu
chí của VHDN…Đây là vốn tri thức quý giá cho các công trình nghiên cứu sau này.
Về khái niệm VHDN: Các tác giả đưa ra quan điểm về VHDN theo các cách
diễn đạt khác nhau (Từ khái niệm VHDN của tổ chức ILO đến khái niệm của Marie,
H.Shein...). Ở Việt Nam, những nghiên cứu về VHDN còn rải rác, chưa mang tính hệ
thống nhưng đã đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục tìm tòi, đặc biệt là vấn đề VHDN
Việt Nam. Do đó, đã có nhiều định nghĩa, quan niệm về VHDN được giới học giả
Việt Nam đưa ra (Dương Thị Liễu, Đỗ Minh Cương, Trần Ngọc Thêm…). Mỗi quan
niệm nhấn mạnh một khía cạnh của VHDN, trong đó các tác giả đều nhấn mạnh
Đo lường VHDN: Thậm chí các tác giả còn chỉ ra cách thức đo lường
VHDN. Tác giả Trần Quốc Dân cho rằng đo lường VHDN trên cơ sở: sự nhận thức
của các thành viên trong doanh nghiệp; thấy được tầm quan trọng của nhóm; lấy con
người làm trung tâm; sự thống nhất trong doanh nghiệp; sự tự điều khiển; mức độ
chấp nhận thách thức.
Về tính tất yếu và thực trạng xây dựng VHDN ở nước ta hiện nay: Các tác
giả như Nguyễn Tấn Việt, VTX, Dương Thị Liễu, Trần Thị Vân Hoa đều đề cập.
24
Nhưng có thể nói, cuốn "Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế" (Phùng Xuân Nhạ chủ biên) đã có những kết
quả điều tra mới nhất về thực trạng VHDN Việt Nam hiện nay. Các tác giả đã kết
luận rằng "các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhận thức được vai trò quan trọng
của văn hóa doanh nghiệp... Tuy nhiên, vấn đề này vẫn được cho là "xa xỉ"... Vì vậy,
văn hóa doanh nghiệp Việt Nam phần lớn mới dừng lại ở cấp độ 1- tạo dựng các yếu
tố hữu hình" [87, tr. 202].
Mặc dù mang lại nhiều giá trị nhưng hạn chế của các công trình kể trên là
tính logic, hệ thống của việc nghiên cứu về VHDN chưa cao.
Thứ hai, các tác giả nghiên cứu VHDN trong quan hệ với VHKD, đạo đức
kinh doanh, văn hóa doanh nhân, kinh doanh quốc tế…Đôi khi các tác giả còn đồng
nhất VHDN với các khái niệm trên.
Về mối quan hệ giữa VHDN với VHKD: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai
khái niệm này, nhiều tác giả cho rằng VHDN là một bộ phận của VHKD (như tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Anh). Cũng có tác giả cho rằng VHDN là VHKD của doanh
nghiệp theo nghĩa hẹp, còn hiểu theo nghĩa hoạt động của doanh nghiệp thì VHKD
trở thành VHDN (tác giả Đỗ Thị Phi Hoài).
Về mối quan hệ giữa VHDN với văn hóa doanh nhân: Có tác giả cho rằng
văn hóa doanh nhân là một bộ phận của VHDN. Sự hình thành VHDN không thể
luật và đạo đức thể hiện sâu sắc trong văn hóa truyền thống Việt Nam cũng như trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kết tinh trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cho nên, pháp luật cũng như YTPL có mối quan hệ biện chứng với đạo đức, văn hóa
- sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong triết lý phát triển của Việt Nam. Từ công trình này, có
thể kế thừa phương pháp luận khi phân tích về mối quan hệ giữa YTPL với VHDN.
"Văn hóa pháp lý Việt Nam" của luật sư Lê Đức Tiết, Nxb Tư pháp, 2005.
Tác giả đã khẳng định vai trò của YTPL là một trong 3 yếu tố hợp thành nền văn hóa
pháp lý của một quốc gia, do đó truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam biểu hiện
thông qua YTPL truyền thống của người Việt (YTPL của xã hội bình dân, YTPL của
tầng lớp sĩ phu, nhà nho). Ở đây, tác giả cũng cho thấy góc nhìn quan trọng về mối
quan hệ giữa pháp luật và văn hóa.
"Bàn về văn hóa tư pháp" của tác giả Đỗ Minh Cương trên Tạp chí Thông
tin Khoa học xã hội, số 4 - 2006 đề cập cấu trúc giá trị của văn hóa tư pháp cũng như
những đặc điểm của văn hóa tư pháp. Đây là căn cứ để đưa ra các giải pháp xây
dựng văn hóa tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
"Ý thức pháp luật với việc nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ
đảng viên hiện nay" của Bùi Giang Nam, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 3, 2007 đã chỉ
ra vai trò của YTPL trong việc giải quyết các mối quan hệ chính trị, giai cấp ở nước
ta. Đó là cơ sở cho việc nâng cao văn hóa chính trị cho cán bộ đảng viên. Từ bài viết,
có thể kế thừa quan điểm của tác giả về mối quan hệ giữa YTPL với văn hóa.
26
"Văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước nhìn từ góc độ pháp
lý" (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10, 2008) của PGS,TS Trịnh Đức Thảo. Bằng
việc phân tích việc xây dựng văn hóa công sở ở nước ta muốn đạt được mục tiêu đề
ra, thể hiện tính tự giác, tích cực thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật cũng
như có YTPL cao.
"Ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật" của tác giả Nguyễn Thị Hồi, Tạp
cập đến vai trò của pháp luật và YTPL đối với việc xây dựng lối sống theo pháp luật
ở Việt Nam hiện nay. Lối sống theo pháp luật này là cơ sở để đi đến xây dựng văn
hóa giao tiếp pháp lý trong các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay.
1.3.2. Một số đánh giá chung
Trong thực tiễn KTTT, cùng với xây dựng nhà nước pháp quyền và xây dựng
văn hóa ở nước ta hiện nay, những vấn đề về YTPL, VHKD, VHDN đã và đang được đề
cập nhiều trong các công trình nghiên cứu. Trong đó, các tác giả đã đề cập đến vai trò
của văn hóa đối với pháp luật, mối quan hệ giữa pháp luật và văn hóa; quan hệ giữa đạo
đức - văn hóa - pháp luật; văn hóa với nhà nước pháp quyền; YTPL với văn hóa chính
trị, xây dựng văn hóa pháp luật… Từ đó, có thể thấy quan điểm của các tác giả về mối
quan hệ giữa pháp luật, YTPL với văn hóa và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội có
giá trị quan trọng cho các công trình nghiên cứu sau này.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa với pháp luật: giá trị của các công
trình nghiên cứu là các tác giả đều thống nhất khẳng định pháp luật có mối quan hệ
biện chứng với văn hóa. Cho nên, biểu hiện cụ thể mối quan hệ này là triết lý phát
triển, quản lý xã hội ở Việt Nam từ trước cho đến nay là sự nhất quán giữa đức trị và
pháp trị, cũng như sự xâm nhập của văn hóa vào pháp luật để hình thành nên những
loại hình văn hóa mới như: văn hóa pháp lý, văn hóa pháp luật, văn hóa tư pháp, văn
hóa nhà nước pháp quyền… Mặc dù vậy, nghiên cứu về mối quan hệ giữa YTPL với
văn hóa chỉ được các tác giả gián tiếp bàn tới vì vậy có rất ít tác giả đề cập một cách
trực diện (chẳng hạn tác giả Lê Đức Tiết, trên cơ sở luận giải về cấu trúc của văn hóa
pháp luật đã chỉ ra vai trò của YTPL với tính cách là một bộ phận của văn hóa pháp
luật. Tác giả Nguyễn Minh Đoan coi YTPL là yếu tố xác lập, thúc đẩy hoặc kìm hãm
lối sống theo pháp luật - lối sống có văn hóa).
Luật hóa văn hóa doanh nghiệp là quá trình tác giả thể hiện mong muốn các
doanh nghiệp tự giác xây dựng và tuân thủ các chuẩn mực VHDN như một thứ luật
bất thành văn. Đây là vấn đề được đề cập khá mới mẻ trong nghiên cứu lý luận ở