TIỂU LUẬN:
HỌC THUYẾT MÁC VÀ VẤN ĐỀ HOÀN
THIỆN CÁC YẾU TỐ CỦA LỰC LƯỢNG
SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Dựa trên quan điểm của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội nói chung, về
phát triển lực lượng sản xuất nói riêng, trong bài viết này, tác giả đã làm rõ một số
nguyên tắc, phương châm cơ bản trong việc vận dụng quan điểm của C.Mác nhằm
phát triển và hoàn thiện các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện
vật và hiện tượng, C.Mác đã kế thừa các học thuyết triết học xã hội trước đó và
khẳng định rằng, phương thức sản xuất ra của cải vật chất của con người là những
yếu tố quan trọng và quyết định nhất, đồng thời là tiêu chí cơ bản thể hiện trình độ
của tiến bộ xã hội, phân biệt các chế độ xã hội khác nhau. Với phương pháp luận
này, C.Mác không dừng lại ở việc nhận thức vai trò to lớn của phương thức sản xuất
đối với lịch sử, mà còn tiếp tục “giải phẫu” cấu trúc của phương thức sản xuất. Ông
chỉ ra rằng, phương thức sản xuất xã hội là sự thống nhất của lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, các yếu tố này tác động biện chứng lẫn nhau; trong đó, lực lượng
sản xuất đóng vai trò quyết định còn quan hệ sản xuất cũng có tác động trở lại đối
với lực lượng sản xuất. Sự tác động biện chứng giữa chúng là quy luật cơ bản, xuyên
suốt toàn bộ lịch sử vận động và phát triển của các phương thức sản xuất cho đến
ngày nay và nó vẫn hoàn toàn đúng, nếu chúng ta xem xét ở bất kỳ quốc gia nào. Với
phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, bằng những sự kiện của lịch sử trong sản
xuất xã hội và các quá trình xã hội khác, chúng ta có thể làm sáng tỏ thêm rằng, chính
mối quan hệ, sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
quyết định sự phát triển của các phương thức sản xuất và do vậy, quyết định sự vận
động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử.
Triết học tiến bộ phải có vai trò to lớn, mà như C.Mác khẳng định, đó là chức năng
cải tạo thế giới. Vậy, lý luận của C.Mác về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và
mối quan hệ biện chứng giữa chúng có đóng góp gì cho viêc phát triển nền sản xuất
xã hội, mang lại sự tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội của Việt Nam ngày nay?
Đây là vấn đề rộng lớn mà trong bài viết này, tác giả chỉ trình bày một số nội dung
cơ bản trong sự vận dụng quan điểm của C.Mác về lực lượng sản xuất vào quá trình
hoàn thiện thể chế kinh tế và hội nhập của Việt Nam. 2.
Như đã nêu trên, vấn đề lực lượng sản xuất xã hội là một trong những nội dung
trọng yếu trong triết học xã hội của C.Mác, đồng thời cũng là một trong những tiêu
chí phân biệt nhận thức sự vận động xã hội của những người mácxít với các quan
ngoài như cơ chế, chính sách, thể chế): lý luận, lý lẽ nhiều hơn thực tế, thực hành;
học tập vì bằng cấp hơn là để phục vụ công việc; (như giỏi thi ngoại ngữ nhưng rất
yếu, rất thiếu người dùng tốt ngoại ngữ để giao tiếp; người có bằng nhiều khi lại
không vượt qua các kỳ kiểm tra, sát hạch) Những hạn chế đó là do ảnh hưởng
không nhỏ từ sự yếu kém trong phương thức, quy trình và nội dung đào tạo hiện
hành mà đến nay vẫn chưa có “phương thuốc” chữa một cách hiệu quả.
Các yếu tố khác trong cấu trúc của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện cũng đang có
những bất cập trước yêu cầu của xã hội và con người Việt Nam, nhất là yêu cầu hội
nhập thương mại:
- Đất đai là đối tượng lao động và tư liệu sản xuất hàng đầu đối với một nước mà sản
xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao. Ở nước ta, nguồn lực này vốn đã ít lại có
xu thế ngày càng cạn kiệt, suy thoái và bị thu hẹp. Quá trình đô thị hoá - kiểu tổ chức
đời sống của thời đại khoa học và công nghệ phát triển, đã và đang làm cho đối
tượng lao động hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp và ô nhiễm nặng nề
do sản xuất công nghiệp và ứng dụng hoá học vào sản xuất và sinh hoạt. Cùng với
tốc độ đô thị hoá, quá trình hình thành các khu quy hoạch cho công nghiệp và sản
xuất dịch vụ cũng là nguyên nhân làm cho diện tích đất trồng ngày càng thu hẹp
(chưa nói tới việc sử dụng nguồn lực này hiệu quả hay không và sự hiện diện các khu
công nghiệp có bảo đảm việc chuyển đổi đó trong tư duy quản lý hiện nay là chính
xác hay không).
- Một số sản phẩm chỉ mang tính nguyên liệu cho sản xuất do trình độ thấp về khoa
học và công nghệ như hạt điều, hạt cà phê, hồ tiêu… Việc xuất khẩu nhiều mặt hàng
dưới dạng nguyên liệu, bán thành phẩm không mang lại giá trị cao. Điều đó giải
thích tại sao hàng hoá của Việt Nam phải “khoác” cái áo thương hiệu khác, thường là
thương hiệu uy tín không do con người Việt Nam sáng tạo ra mới có thể thâm nhập
vào các thị trường lớn thuộc các quốc gia ngoài Việt Nam.
Những yếu kém trên đều do trình độ và năng lực của con người. Điều đó cho thấy,
ngay trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, các yếu tố luôn tác động lẫn nhau, trong
đó yếu tố quan trọng nhất là yếu tố con người (với ý thức, năng lực, trình độ và trách
nhiệm khác nhau).
Sự bất cập đó diễn ra không chỉ ở lĩnh vực sản xuất xã hội thuộc hạ tầng cơ sở, mà
còn phổ biến cả ở yếu tố nhân lực thuộc thượng tầng kiến trúc - đội ngũ lao động trí
óc - quản lý.
Một thực tế khác là sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động trong nhóm lao động quản lý sản xuất trong các doanh nghiệp. Ngoài các lý do khác, tâm lý ỷ lạivà
trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước trong toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất
còn rất lớn đã phần nào làm suy giảm tính cạnh tranh và sáng tạo của những doanh
nhân trong các doanh nghiệp. Đội ngũ này đã và đang là một thành phần, bộ phận đặc
biệt quan trọng trong lực lượng sản xuất của xã hội, chứ không phải chỉ những người
“cầm búa hay cầm cày” mới là thành phần của lực lượng sản xuất xã hội!
Hiện nay, theo chúng tôi, chính sách phát triển khoa học và công nghệ phải hướng
tới nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất. Các chính sách về môi trường bảo đảm
phát triển toàn diện các yếu tố con người (sức khoẻ cộng đồng) và phát triển bền
vững.
Trình độ kinh tế - xã hội và trình độ của nguồn nhân lực - lực lượng sản xuất xã hội
luôn có mối quan hệ biện chứng: trình độ xản xuất xã hội thấp không thể “sản sinh”
ra đội ngũ lao động có trình độ nghề nghiệp, tay nghề cao; ngược lại, đội ngũ lao
động có trình độ thấp không thể làm thay đổi được tình trạng thấp kém của lực lượng
sản xuất. Tuy nhiên, xét theo quan hệ các yếu tố khách quan và chủ quan, có thể tìm
kiếm sự tác động năng động, tích cực chủ quan của con người với tính cách vừa là
chủ thể, vừa là đối tượng nhận thức lực lượng sản xuất.
Con người phải tự nhận thức chính bản thân để hoàn thiện mình thích hợp với hoàn
cảnh, môi trường và chính nhu cầu thực tại của mình. Nhưng với nhiều lý do khác
nhau, con người được tập hợp lại thành những nhóm, cộng đồng - những thành tố
của loài người với sự xuất hiện, phân bố không giống nhau về lịch sử, địa lý, điều
kiện (tự nhiên, chính trị xã hội…).
Với cách tiếp cận như vậy, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Việt
Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức đối vối sự phát triển liên quan trực
năng quan trọng của những nhà hoạch định chính sách?
Sự phân tích trên đây cho thấy:
Thứ nhất, cần sớm nhận thức sự nguy hại của việc lãng phí tài nguyên, tự gây ra các
thảm hoạ về môi trường trong tương lai, lãng phí các nguồn lực; từ đó, chủ động xây
dựng những chính sách đón đầu (kế hoạch hoá), có thể chế mạnh với hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh và chế tài dân chủ.
- Thứ hai, phải nhạy bén, cẩn trọng nhưng không để lỡ thời cơ trong việc thiết lập
quan hệ quốc tế (quan hệ quốc tế luôn là quan hệ hướng tới việc tìm ra lợi thế cho
mình). Hội nhập là một xu thế có tính quy luật. Nhưng, xét đến cùng, nó có nguyên
nhân từ sự phát triển bùng nổ của các yếu tố lực lượng sản xuất, nhất là sức mạnh kết nối các quá trình xã hội qua công nghệ thông tin - điều mà thời vào mình, C.Mác mới
chỉ phác hoạ những phỏng đoán có tính quy luật.
- Thứ ba, đẩy mạnh việc tìm kiếm và trọng dụng người tài đi đôi với hoàn thiện đạo
đức, lối sống là vấn đề hệ trọng trong điều kiện chúng ta còn nghèo và xã hội lại có
nhiều yếu tố nhạy cảm về kinh tế, chính trị, văn hoá và truyền thống….
Thứ tư, việc nhận thức triết học Mác không thể rập khuôn, giáo điều, (điều mà C.Mác,
Ph.Ăngghen đã dự liệu có thể xẩy ra), trái lại, cần có sự bổ sung, làm mới những luận
điểm căn bản của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin cho phù hợp với thực tiễn hiện
đang biến chuyển như vũ bão nhằm làm cho triết học chính trị và triết học xã hội đóng
vai trò quan trọng, góp phần đổi mới đời sống, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát
triển xã hội bền vững.
Những yếu tố phân tích trên đây là những yếu tố cơ bản trong cấu trúc của lực lượng sản
xuất xã hội trong điều kiện Việt Nam.
Vận dụng học thuyết Mác vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta nhằm hoàn thiện các yếu
tố của lực lượng sản xuất với phương châm trên, theo chúng tôi, là rất cần thiết.
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Nhà giáo ưu tú, Phó giám đốc Học viện Hành chính, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Nam”, là “lương tâm của thời đại”, có sức sống trường tồn, có ảnh hưởng sâu sắc đến
tư tưởng, tình cảm của nhân dân Việt Nam và của nhân dân nhiều dân tộc trên thế
giới, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, chính là vì tư tưởng của Người đã kế
thừa những giá trị tư tưởng, văn hóa “vĩnh cửu” của nhân loại, thấm đượm chủ nghĩa
nhân văn cao cả và đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng cháy bỏng và sâu xa của
dân tộc và nhân loại. Rằng, không chỉ thế, cả cuộc đời hoạt động cách mạng không
mệt mỏi của Người còn là một tấm gương sáng ngời, một biểu hiện tiêu biểu cho chủ
nghĩa nhân đạo cộng sản(2).
Tại Lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tham luận Chủ
nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh - đặc điểm và cội nguồn, Giáo sư Trần Văn Giầu đã
nói: “Cho phép tôi hiểu rằng tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc chắn ở chỗ giải đáp
mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực tại hay là ảo
ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay sáng tạo mới lạ,
mà chung quy là ở mức quan tâm đến con người, con người thật đang phải sống trên
quả đất này và chắc chắn còn sống lâu dài đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm
của mọi suy tư và chủ đích của mọi hành động. Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó…”(3). Thật vậy, cái làm nên giá trị tinh thần lớn lao và mang ý nghĩa cải tạo thực tiễn sâu
sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm vì con người và giải phóng con người,
quan điểm dân sinh thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo cao cả, tư tưởng nhân văn sâu
sắc và triết lý nhân sinh mà Người đã dày công vun đắp. Hồ Chí Minh chưa một lần
dành riêng một tác phẩm, một bài viết hay một bài phát biểu để trình bày quan điểm
dân sinh, triết lý nhân sinh của Người. Quan điểm đó, triết lý đó ở Hồ Chí Minh
được toát ra, được thể hiện sinh động từ toàn bộ cuộc đời đấu tranh cách mạng không
mệt mỏi và từ cuộc sống hàng ngày rất đỗi người thường của Người. Quan điểm đó,
triết lý đó là sự kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ
nhân, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.
Chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là sự thể hiện tập trung quan
điểm dân sinh, triết lý nhân sinh của Người - suốt đời cống hiến hết mình cho sự
đẹp, song lại phải hứng chịu nỗi bất công, vô nhân đạo do sự áp bức, bóc lột của chủ
nghĩa thực dân, đế quốc, với một tình cảm yêu thương, gắn bó máu thịt với gia đình,
quê hương, đất nước và một tâm hồn cao đẹp, nhạy cảm, một trí tuệ anh minh, Hồ
Chí Minh đã sớm nhận ra nỗi đau của người dân mất nước, nỗi nhục của kiếp đời nô
lệ. Người ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc từ nỗi đau đời, thương người,
không cam chịu áp bức, bất công, từ những suy nghĩ mang tính nhân đạo, nhân văn
coi con người sinh ra ai cũng có quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc. Mục tiêu không bao giờ thay đổi ở Người là giải phóng dân tộc,
giải phóng con người, đem lại cho dân tộc quyền tự do, bình đẳng trong phát triển,
làm cho đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, sống trong
niềm vui hạnh phúc. Người nhiều lần khẳng định, ở Người chỉ có một mục đích duy
nhất – đó là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân.
Xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước, bản thân Hồ Chí Minh cũng
đã từng theo học đạo Nho từ nhỏ, tư tưởng nhân nghĩa của đạo Nho đã in đậm dấu ấn
trong tâm khảm của Người, trở thành một bộ phận cấu thành quan điểm dân sinh,
triết lý nhân sinh, chủ nghĩa nhân đạo và tư tưởng nhân văn ở Người. Song, khác với
nhiều nhà Nho đương thời, với thực tiễn cuộc sống đầy biến động mà Người từng
trải qua trong những năm tháng tìm kiếm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc,
bằng thực tiễn hoạt động cách mạng, với một trí tuệ anh minh và tầm nhìn xa, trông
rộng, Người đã sớm khắc phục, chế ngự tính hẹp hòi, thiển cận của cái nhìn dân tộc
để đi đến một quan niệm mới về tình hữu ái giai cấp, hướng tới những giá trị nhân
văn phổ quát. Thấu hiểu hơn ai hết những giáo lý của đạo Phật, những chủ trương “từ bi, hỉ xả, cứu
khổ, cứu nạn”, “cứu nhân độ thế”, song với Hồ Chí Minh, những giáo lý đó, những
chủ trương ấy chỉ được coi là hữu ích khi chúng được sử dụng vào mục đích dân
sinh, an sinh xã hội, “cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn” và nhất là vào mục tiêu giải
phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, “đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”.
Hồ Chí Minh cũng biết đến những ước mơ, khát vọng vươn tới một xã hội cao đẹp
quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh.
Nhận thức rõ những giá trị đích thực trong tư tưởng nhân văn phương Tây, Hồ Chí
Minh cũng sớm nhận ra những hạn chế ở nền tự do, dân chủ của nó, thấy rõ mặt trái
của quyền con người trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Với nhận thức đó, Người cho
rằng, con đường đến với tự do, dân chủ thực sự, đến với sự thực hiện an ninh cho
cuộc sống của mỗi con người, an sinh cho đời sống của cả cộng đồng xã hội chỉ có
thể là con đường cách mạng vô sản, cách mạng giải phóng – giải phóng con người,
giải phóng xã hội. Bởi lẽ, chỉ khi con người và xã hội thực sự được giải phóng thì an
ninh cho cuộc sống của mỗi con người mới được đảm bảo, an sinh cho đời sống của
cả cộng đồng xã hội mới được thực hiện và thực hiện một cách bền vững.
Từ những nhận thức sâu sắc ấy về tư tưởng nhân văn trong các nền văn hóa Đông -
Tây, từ đạo lý truyền thống của người Việt Nam, cộng với một trí tuệ anh minh, tầm
nhìn xa, trông rộng, lòng yêu nước, thương dân, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác
- Lênin và tìm thấy ở đây cái “cẩm nang thần kỳ” cho con đường giải phóng dân tộc,
giải phóng con người và xây dựng chế độ xã hội mới - chế độ xã hội vì cuộc sống
đích thực của con người, vì an ninh con người và an sinh xã hội. Người tiếp thu ở
chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng nhân đạo nhất về CON NGƯỜI với chữ viết hoa - tư
tưởng vì cuộc sống hiện thực của con người, cuộc sống mà ở đó, an ninh con người
của con người được đảm bảo và do vậy, an sinh xã hội của cả cộng đồng xã hội được
thực hiện bền vững; tư tưởng vì tự do, dân chủ, hạnh phúc và tiến bộ thực sự cho mỗi
con người và cho tất cả mọi người.
Hồ Chí Minh đón nhận ở chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng nhân văn sâu sắc nhất, chủ
nghĩa nhân đạo cao cả nhất không phải theo lối “tầm chương trích cú”, áp dụng
nguyên xi, rập khuôn giáo điều. Người lấy ở đó cái nội dung cốt yếu nhất trong thế
giới quan duy vật, phương pháp luận biện chứng, khoa học, nhân sinh quan cộng sản
chủ nghĩa và coi đó là ánh sáng kỳ diệu, “ngọn đuốc soi đường cho quốc dân đi”, cho
chính tư tưởng và hành động của mình nhằm thực hiện quan điểm dân sinh, triết lý
nhân sinh mà Người đã hình thành, thực thi chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn
nhất thiết phải làm, ra sức mà làm. Theo lời căn dặn đó, đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu
của họ trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, Đảng và Chính phủ
phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, phải mở những lớp dạy nghề
thích hợp cho họ để họ có được hành trang cần thiết bước vào cuộc sống tự lập, tự lực
cánh sinh. Đối với những người đã anh dũng hy sinh, mỗi địa phương cần xây dựng
vườn hoặc bia kỷ niệm để mãi mãi ghi nhớ công lao của họ, để đời đời giáo dục tinh
thần yêu nước cho nhân dân ta. Khi gia đình, người thân của họ thiếu sức lao động,
gặp khó khăn, chính quyền địa phương cần phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích
hợp, “quyết không để họ bị đói rét”. Đối với những người còn trẻ, có nhiều cống hiến
trong các lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong, Đảng và Chính phủ cần chọn
một số người ưu tú nhất để đào tạo họ thành những người lao động có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật giỏi, có tư tưởng, lập trường cách mạng vững vàng và lấy đó làm đội
quân chủ lực trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Đối với phụ nữ, Đảng và Chính
phủ cần phải có kế hoạch bồi dưỡng, cất nhắc, giúp họ tiến bộ, trở thành những người
lãnh đạo và đem lại quyền bình đẳng thực sự cho họ. Đối với những nạn nhân của chế
độ xã hội cũ, Đảng và Chính phủ cần kết hợp giáo dục với sử dụng luật pháp để cải
tạo, giúp đỡ họ trở thành những người lao động lương thiện. Đối với nông dân, Đảng
và Chính phủ cần có kế hoạch thực hiện miễn thuế nông nghiệp một năm cho họ để
“đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”, v.v.(7).
Có thể nói, đó là một chính sách xã hội chu đáo, toàn diện đối với con người mà trước
lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã đề xuất và yêu cầu Đảng, Chính phủ “cần phải động viên
toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”(8) mà
thực hiện nhằm mang lại an ninh cho cuộc sống của mỗi con người, an sinh cho đời
sống của cả cộng đồng xã hội. Nếu không xuất phát từ quan điểm dân sinh, triết lý
nhân sinh sâu sắc, thấm đượm tư tưởng nhân đạo và tính nhân văn, Người đã không
thể đề xuất được một chính sách xã hội chu đáo, toàn diện đến như vậy đối với con
người. Chính sách xã hội này càng cho thấy tư tưởng vì con người của Người quả là
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là cho quần chúng nhân dân lao
động. Với quan niệm như vậy về chủ nghĩa xã hội, Người đã khẳng định: “Điều quan
trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện đời
sống của nhân dân”(13); và “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế
và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”(14).
Khẳng định đó càng cho thấy rõ, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội
trước hết phải là xã hội vì con người, đem lại cho con người bản chất Người đích thực; và ở đó, không chỉ dân sinh, mà cả an sinh xã hội được thực hiện và đảm bảo
bền vững. Chỉ với một quan điểm dân sinh, một triết lý nhân sinh hành động, thấm
đượm chủ nghĩa nhân đạo cao cả và tư tưởng nhân văn sâu sắc, Người mới có được
quan niệm như vậy về chủ nghĩa xã hội, về mục tiêu nhân đạo, nhân văn của chủ
nghĩa xã hội. Và, chính quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh đó đã tạo nên ở Người
niềm tin tất thắng vào thắng lợi cuối cùng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
trên đất nước Việt Nam chúng ta. Với quan điểm dân sinh và triết lý nhân sinh đó,
trước khi trở về cõi vĩnh hằng, Người vẫn tin rằng, chỉ cần còn non, còn nước, còn
người thì công cuộc xây dựng xã hội mới - một “cuộc chiến đấu khổng lồ” chống lại
“những gì đã cũ kỹ, hư hỏng” để tạo ra “những cái mới mẻ, tốt tươi”, dù “rất to lớn,
nặng nề, và phức tạp”, song thắng lợi là điều chắc chắn(15).
Niềm tin vững chắc đó ở Hồ Chí Minh, chắc chắn là đã được hình thành từ quan điểm
dân sinh, triết lý nhân sinh thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo và tư tưởng nhân văn mà
Người đã dày công vun đắp trong suốt cuộc đời hoạt động và đấu tranh cách mạng -
quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh hành động: động viên, tổ chức và giáo dục toàn
dân hành động, dựa vào dân mà hành động và vì dân mà hành động.
Sau hơn hai mươi năm đổi mới đất nước trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với những thành công rất đáng tự hào, nhất là trước
những biến động khó lường của cuộc khủng hoảng tài chính, năng lượng, biến đổi khí
hậu, an ninh lương thực, an toàn thực phẩm đang có xu hướng lan rộng và những
thách thức nghiêm trọng cho ổn định và phát triển kinh tế của hầu hết các nước trên
(11) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.161.
(12) Xem:HồChíMinh. Sđd., t.5,tr.65.
(13) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.157.
(14)Xem:HồChíMinh. Sđd., t.12,tr.498.
(15) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr.505. TÔN TRUNG SƠN GIẢI THÍCH “CHỦ NGHĨA XÃ H
ỘI” THÀNH “CHỦ
NGHĨA DÂN SINH” NHƯ THẾ NÀO?
TRƯƠNG CHÍ CƯỜNG(*)
Sau khi Liên Xô giải thể và cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được thay thế bởi làn sóng toàn cầu hoá trên phạm vi thế giới. Trong
thời điểm lịch sử này, đòi hỏi bức thiết đặt ra là phải truy tìm đến tận cùng để làm rõ
rằng, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, rốt cuộc chủ nghĩa xã hội cần tồn tại và
duy trì dưới hình thức nào mới có thể giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ với
chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn cầu. Ở mức độ nào đó, vấn đề này đã từng được
Tôn Trung Sơn trả lời bằng những lý luận và thực tiễn của việc lấy chủ nghĩa xã hội
làm ngọn cờ cách mạng dân chủ ở châu Á. Cách suy nghĩ này có thể giúp chúng ta
tiến thêm một bước trong việc xử lý mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa
xã hội, hoặc đưa ra một điểm nhìn lịch sử.
1. Năm 1912, sau Cách mạng Tân Hợi không lâu, V.I.Lênin sau khi đọc qua bàiÝ
nghĩa của cách mạng Trung Quốc của Tôn Trung Sơn đăng trên báo Nhân dân đã có
bài viết nổi tiếng: Chủ nghĩa dân tuý và chủ nghĩa dân chủ ở Trung Quốc. Trong bài
viết này, V.I.Lênin, một mặt, khen ngợi cương lĩnh cách mạng của Tôn Trung Sơn là
“chủ nghĩa dân chủ chiến đấu, trung thành”; mặt khác, chỉ ra một cách sắc bén những
luận là cách mạng dân chủ mới hay cũ thì, về cơ bản, đều cấu thành nên một giai
đoạn có tính tiền đề không thể thiếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sở dĩ nó có thể
đóng vai trò như một giai đoạn như vậy là vì thông qua sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản, nó tạo điều kiện sáng tạo cho sự phát triển của chủ nghĩa xã hội.
Từ sau những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, khi Liên Xô giải thể và cuộc chiến
tranh lạnh kết thúc, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi thế giới đã được
thay thế bởi làn sóng hiện đại hoá. Xem xét ở góc độ bề ngoài, lịch sử cách mạng thế
giới có vẻ như một lần nữa cần xuất phát từ chỉnh thể để bổ sung lại lịch trình phát
triển của chủ nghĩa tư bản đã từng bị dừng lại. Trong thời điểm lịch sử này, đòi hỏi
bức thiết của chúng ta là phải truy tìm đến tận cùng câu trả lời cho câu hỏi: trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay, chủ nghĩa xã hội rốt cuộc nên tồn tại và duy trì dưới hình
thức nào mới có thể giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ với chủ nghĩa tư bản
trên phạm vi toàn cầu. Với ý nghĩa như vậy, câu hỏi đó đã từng được Tôn Trung Sơn
trả lời bằng những lý luận và thực tiễn của việc lấy chủ nghĩa xã hội làm ngọn cờ
cách mạng dân chủ ở châu Á, do mối quan hệ biện chứng phức tạp giữa chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa tư bản mà có vẻ như chứa đựng tính tất yếu của việc tiếp tục tìm
hiểu ý nghĩa lý luận và ý nghĩa lịch sử của nó. Cách suy nghĩ này có thể giúp chúng
ta tiến thêm một bước trong việc xử lý mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội, hoặc đưa ra một điểm nhìn lịch sử. Trong lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng của Tôn Trung Sơn, chủ nghĩa dân
sinh chiếm một vị trí quan trọng, là “toàn bộ của những cái tồn tại, là trung tâm của
tất thảy các vấn đề”(3) trong hoạt động lý luận và thực tiễn của ông. Ông nói, “chủ
nghĩa dân sinh chính là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa đại đồng”,
hoặc “chủ nghĩa cộng sản là lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa dân sinh là sự
thực hành của chủ nghĩa cộng sản”(4). Sự tương đồng giữa chủ nghĩa dân sinh với
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn không phải là sự tương đồng đơn
giản về mặt từ ngữ, Ông nói: “tại sao hôm nay tôi không học ngoại ngữ để có thể
trực tiếp giảng về chủ nghĩa xã hội, mà lại cần phải lấy từ dân sinh - danh từ cổ của
Sơn, giống như chủ nghĩa xã hội của C.Mác, được nảy sinh từ bối cảnh xã hội sau
cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu. Mục đích của chúng đều nhằm giải quyết
vấn đề đối kháng giai cấp và sự chênh lệch giàu nghèo giữa người công nhân và nhà
tư sản do sự phát triển một cách rầm rộ và vô giới hạn của công nghiệp cơ khí đem lại.
Nhưng, đối với Tôn Trung Sơn, vấn đề xã hội sau cuộc cách mạng công nghiệp, trên
thực tế lại hoàn toàn không phải là vấn đề chủ yếu của xã hội Trung Quốc. Do đó, lý
luận về chủ nghĩa dân sinh của ông hoàn toàn không chỉ là giải quyết các vấn đề xã
hội, mà còn là phòng tránh, ngăn chặn các vấn đề xã hội xuất hiện ở Trung Quốc.
Trong khi ngăn chặn sự phát sinh của các vấn đề xã hội, đồng thời từ đó giải quyết một
cách tận gốc các vấn đề xã hội nảy sinh, Tôn Trung Sơn đã xác lập quan điểm của
mình về chủ nghĩa xã hội và đó chính là hạt nhân trong chủ nghĩa dân sinh của ông.
Liên quan đến phương diện lý giải nguồn gốc nảy sinh các vấn đề xã hội, Tôn Trung
Sơn cho rằng, sự lý giải của ông và C.Mác có sự khác biệt. Sự khác biệt này có thể
khái quát là sự khác biệt về quan điểm lịch sử, sự không giống nhau giữa quan điểm
duy vật lịch sử và quan điểm lịch sử về vấn đề dân sinh. Căn cứ vào sự lý giải của
ông về quan điểm duy vật lịch sử, sự phân tích của C.Mác đối với nguồn gốc các vấn
đề xã hội, lấy sự lý giải về vật chất làm trọng tâm của lịch sử, do đó lấy sự lý giải về
sản xuất làm trung tâm của tiến hoá xã hội và lấy sự lý giải về đấu tranh giai cấp làm
động lực cho sự tiến hoá xã hội. Ngược lại, quan điểm lịch sử về vấn đề dân sinh của
Tôn Trung Sơn lại không giống như vậy. Đối với ông, vấn đề “dân sinh” chính là vấn
đề sinh tồn của con người. Ông viết: “Toàn bộ nhân loại từ xưa đến nay sở dĩ cần
phải nỗ lực, chính là vì nhu cầu sinh tồn; nhân loại vì cần phải có sự sinh tồn không
ngừng, do đó xã hội mới có sự tiến hoá liên tục. Định luật tiến hoá xã hội là việc
nhân loại mưu cầu sự sinh tồn. Nhân loại mưu cầu sự sinh tồn, đó mới là nguyên
nhân của tiến hoá xã hội. Đấu tranh giai cấp không phải là nguyên nhân của tiến hoá xã hội, đấu tranh giai cấp là một căn bệnh xuất hiện khi xã hội đang trong quá trình
tiến hoá. Nguyên nhân của căn bệnh này chính là việc nhân loại không thể sinh tồn.
Vì nhân loại không thể sinh tồn, do đó kết quả của căn bệnh này biến thành chiến
Trung Quốc không phải là vấn đề không công bằng, mà chính là vấn đề “nghèo”.
“Trong xã hội không công bằng, đương nhiên có thể dùng phương pháp của C.Mác,
dùng đấu tranh giai cấp để giành lại sự công bằng; nhưng khi Trung Quốc chưa phát
triển, thì đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của C.Mác chưa thể thực hiện
được. Trung Quốc ngày nay có thể học theo tư tưởng của Mác, nhưng không thể
dùng phương pháp của C.Mác được”(9). Do đó, giải quyết vấn đề dân sinh ở Trung
Quốc không thể thực hiện “tư bản tiết chế” mà nên là “nước tư bản phát triển”, “Vì
nước ngoài giàu, Trung Quốc nghèo, nước ngoài sản xuất thừa, Trung Quốc sản xuất
chưa đủ”(10). Nói đến nước tư bản phát triển là nói đến việc cần phải thực hiện chấn
hưng sản xuất. Trong Đại cương kiến quốc, Tôn Trung Sơn đã soạn thảo rất chi tiết
“kế hoạch sản xuất” nhằm xây dựng một bức tranh Trung Quốc mới. Ông “lấy việc
có điều kiện sản xuất chủ yếu làm xuất phát điểm của chủ nghĩa dân sinh”. Tôn
Trung Sơn nói: “Việc đầu tiên của quá trình xây dựng đất nước là ở vấn đề dân
sinh”, hơn nữa việc cần phải giải quyết đầu tiên trong vấn đề dân sinh chính là làm
thế nào để có thể thúc đẩy sản xuất, đem lại sự thoả mãn về nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại
cho nhân dân Trung Quốc, thậm chí là thoả mãn cả những nhu cầu dục lạc của họ.
Việc thông qua chấn hưng sản xuất để tìm ra phương thức giải quyết vấn đề dân sinh
là một thái độ có tính quyết định, cũng có nghĩa là thái độ “do hiện thực quyết định
phương pháp giải quyết vấn đề”. Loại thái độ này đòi hỏi “dùng hiện thực làm cơ
sở”, lấy “hiện thực làm chất liệu cho việc quyết định”, lấy phương pháp đó để giải
quyết vấn đề dân sinh. Đây chính là một thái độ thực sự cầu thị, là một thái độ nhằm
tránh khỏi chủ nghĩa kinh nghiệm về lý luận và không tưởng.
Thông qua việc xây dựng xã hội chủ nghĩa dân sinh, không chỉ giải quyết được nỗi
thống khổ do sự phân phối tài sản không đều đem lại, mà còn thực hiện được “cộng
sản”. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là kiểu “cộng sản” này là “cộng hữu” mà
không phải là “cộng vô”, là giải quyết được một cách đúng đắn vấn đề phân phối đối
với các nhu cầu tiêu dùng. Tôn Trung Sơn còn tiến thêm một bước khi ông chỉ ra sự
nhất trí giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa dân sinh thể hiện ở chỗ “nhân dân đối
với quốc gia không chỉ là cộng sản, tất cả chức quyền đều là của chung. Đây mới là
chủ nghĩa dân sinh chân chính, là thế giới đại đồng mà Khổng Tử mong đợi”(11).