ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC - Pdf 80

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRỊNH THANH TRÀ

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRỊNH THANH TRÀ

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH VĂN HĨA HỌC
Mã số: 62 31 06 40

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:
1. PGS.TS. PHẠM DUY ĐỨC
2. TS. LÊ TRUNG KIÊN

HÀ NỘI - 2017



MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tổng quan tình hình nghiên cứu
Lý thuyết nghiên cứu, quan điểm tiếp cận và phương pháp
nghiên cứu
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN
HÓA TINH THẦN VÀ KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI

Một số khái niệm cơ bản
Cấu trúc đời sống văn hóa tinh thần của học sinh trung học
phổ thông
Khái quát đặc điểm học sinh trung học phổ thông Hà Nội
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA TINH THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY 

Trang
1
5
5
26

31
31
35
43


115
123
145
150
151


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐSVH

Đời sống văn hóa

ĐSVHTT

Đời sống văn hóa tinh thần

GD và ĐT

Giáo dục và Đào tạo

MTVH

Mơi trường văn hóa

THCS

Trung học cơ sở

THPT


Những hoạt động học sinh trung học phổ thông thường
xuyên tham gia trong lúc rảnh rỗi

93

Bảng 3.3:

Các hoạt động khác của học sinh trung học phổ thông Hà Nội

96

Bảng 4.1:

Phương án, giải pháp đáp ứng, nâng cao đời sống văn hóa
tinh thần của học sinh trung học phổ thông Hà Nội

Bảng 4.2.

Các giải pháp cải thiện, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần
cho học sinh trung học phổ thơng Hà Nội hiện nay

Bảng 4.3:
Bảng 4.4:

124

126

Các biểu hiện đáng lo ngại trong học sinh trung học phổ


83

Nhu cầu, sở thích, mong muốn về nghề nghiệp tương lai của
học sinh trung học phổ thông Hà Nội

85

Biểu 3.5:

Nhu cầu và mức độ u thích các loại hình nghệ thuật (Số lượng)

86

Biểu 4.1:

Tỷ lệ có tham gia tại các điểm vui chơi và mức độ tham gia
thường xuyên (%)

116


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn vấn đề nghiên cứu
1.1. Nâng cao ĐSVHTT là một trong những chủ trương lớn của Đảng và
Nhà nước ta được đặt ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V. Đây là một chủ
trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hoá
mới, lối sống mới và con người mới phù hợp với đòi hỏi của đất nước trong thời

hơn so với các tỉnh/thành phố khác. Đương nhiên, những chuyển biến mạnh
mẽ của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và văn hóa của Thủ đơ thời kì
đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế cũng ảnh
hưởng, tác động nhanh và sâu sắc, tạo nên những thay đổi rõ rệt trong
ĐSVHTT của học sinh THPT. Nghiên cứu thực trạng ĐSVHTT của học sinh
THPT Hà Nội sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn bao qt và cụ thể hơn về
ĐSVHTT của lứa tuổi này, có cơ sở để bàn luận về những vấn đề đặt ra,
khuyến nghị các giải pháp cần thiết… nhằm từng bước cải thiện, đáp ứng,
nâng cao ĐSVHTT cho các em.
Vì những lý do trên đây, tôi chọn vấn đề nghiên cứu về “Đời sống văn hóa
tinh thần của học sinh trung học phổ thông Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận án
nghiên cứu sinh.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu, tìm hiểu các khía cạnh, biểu hiện cụ thể trong ĐSVHTT của
học sinh THPT Hà Nội hiện nay, trên cơ sở đó, trao đổi, bàn luận, khuyến nghị
các giải pháp cải thiện, đáp ứng, nâng cao ĐSVHTT cho chủ thể này.
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ các khái niệm/phạm trù VHTT, ĐSVH, ĐSVHTT, ĐSVHTT của
học sinh THPT, cơ sở lý luận của việc nghiên cứu ĐSVHTT của học sinh THPT
nói chung, học sinh THPT Hà Nội nói riêng.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐSVHTT của học sinh THPT tại Hà Nội
hiện nay; chỉ ra những nguyên nhân, yếu tố khách quan và chủ quan tác động
đến ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội, xu hướng biến đổi trong ĐSVHTT
của học sinh THPT Hà Nội.


3
- Trao đổi, bàn luận về một số vấn đề thực tiễn nảy sinh trong ĐSVHTT
của học sinh THPT Hà Nội; mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng; bàn

nay. Kết quả thăm dò, khảo sát thực trạng là cơ sở để luận án đưa ra nhận xét, bàn
luận về các vấn đề đặt ra trong ĐSVHTT của chủ thể này. Ngồi đối tượng chính
là 489 học sinh và 66 giáo viên, luận án còn trao đổi, phỏng vấn một số chuyên
gia, cán bộ quản lý, giáo viên trong và ngồi các trường đã khảo sát để có thêm
các ý kiến, quan điểm, góc nhìn tham chiếu.
5. Đóng góp của luận án
Về lý luận:
- Góp phần làm rõ lý luận về VHTT, ĐSVHTT của thế hệ trẻ nói chung, lứa
tuổi học sinh THPT nói riêng.
- Khái quát sơ bộ thực trạng và đặc thù ĐSVHTT của học sinh THPT Hà
Nội trong bối cảnh đổi mới, hội nhập.
- Góp thêm ý kiến trao đổi, bàn luận về những vấn đề đặt ra, cần giải
quyết, nhằm từng bước đáp ứng, nâng cao ĐSVHTT cho học sinh THPT Hà
Nội hiện nay.
Về thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu và học tập trong các chuyên ngành khoa học như Văn hóa học,
Tâm lý học, Quản lý giáo dục, Quản lý văn hóa… và có thể ứng dụng trong các
cơ quan quản lý giáo dục, các trường THPT trong việc nâng cao ĐSVHTT cho
học sinh.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục (bao gồm
mẫu phiếu, tóm lược kết quả điều tra, kết quả phỏng vấn sâu…), luận án được
triển khai trong 4 chương, 10 tiết.


5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

đức, lối sống, ĐSVHTT xã hội chủ nghĩa. Tất cả các tư tưởng giáo dục đạo đức,
nhân cách, lối sống xã hội chủ nghĩa thời kì này đều kế thừa hoặc dựa trên kinh
nghiệm của các nhà tâm lý, giáo dục Xô viết nổi tiếng như A.X.Makarenco
(1888-1939), L.X. Vưgotski (1896-1934), V.A.Xukhomlinski (1918-1970)...
và các tấm gương, điển hình cụ thể trong thực tế lao động, chiến đấu...
Nhiều cơng trình của Makarenco, Vưgotski và Xukhomlinski đã được dịch và
xuất bản ở nước ta trong những năm từ 1970 đến 1985.
Cuốn sách Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong thanh niên của hai tác
giả S.A.Levasova, N.S.Xactsenco [82] là một cuốn sách giáo dục lý tưởng tốt
cho thanh niên Xơ viết, song, nó chỉ phù hợp trong một giai đoạn lịch sử cụ
thể, mang đậm tính định hướng, giáo huấn và khơng tính đến những khả năng
biến động của đời sống chính trị xã hội cũng như tự bản thân các chủ thể nhân
cách trong các môi trường, điều kiện phát triển khác nhau.
Đề cập đến các vấn đề về văn hóa, sự vận động phát triển của VHTT xã
hội, phải kể đến các nghiên cứu của N.V.Gontrarenco trong cuốn Văn hóa
tinh thần [74] hay cơng trình nghiên cứu được tổng hợp thành hệ thống lý
luận văn hóa Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin do A.I.Acnondov chủ biên
[1]. Theo N.V.Gontrarenco, “văn hóa tinh thần, với tính cách là một hiện
tượng, về thực chất thuộc về kiến trúc thượng tầng, trước hết dựa trên nền
tảng văn hóa vật chất, là cái là sự tiếp tục của văn hóa tinh thần(...). Những
biến đổi cơ bản trong lĩnh vực sản xuất vật chất chắc chắn sẽ dẫn tới những
biến đổi trong lĩnh vực văn hóa tinh thần” [74, tr.45]. Ơng cũng thừa nhận
rằng: “Tính kế thừa không những là một ngọn nguồn quan trọng nhất của
sự tiến bộ văn hóa lồi người, mà cịn là một điều kiện cần thiết để phát
triển tất cả những phương diện của đời sống xã hội” [74, tr.60]... Tuy
nhiên, các nhà nghiên cứu Xơ viết mới chỉ nhìn nhận văn hóa nói chung và
ĐSVHTT nói riêng dưới góc nhìn xã hội học, dựa trên các tiêu chí và bị chi
phối bởi tồn tại xã hội mà chưa đi sâu, chưa thấy hết sự phức tạp, đa dạng
trong thế giới tinh thần của chính con người, chủ thể của xã hội ấy. Đây cũng


mới, con người mới. “hợp với tinh thần dân chủ” và giàu chất nhân văn, trước
hết là sự tôn trọng và yêu thương con người, bồi dưỡng nâng cao ĐSTT của


8
con người, góp phần vào việc phát triển, hồn thiện nhân cách, đạo đức, lối
sống mới. Theo Người, văn hóa phải “soi đường cho quốc dân đi”. Với việc
cần thiết nâng cao ý thức văn hóa, chăm lo ĐSTT cho thế hệ trẻ, sau này,
trong Thư gửi thanh niên, Người đã khẳng định: Thanh niên là người chủ
tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần
lớn là do thanh niên, bởi “… các em được hạnh phúc hơn cha ơng vì các em
được hưởng một nền giáo dục tốt, dân chủ”.
Thời kỳ trong và ngay sau chiến tranh, khái niệm văn hóa đồng nghĩa với
khái niệm lý tưởng, tinh thần, lòng yêu nước và ý thức xả thân vì Tổ quốc, dân
tộc. Vấn đề đặc thù, truyền thống, bản sắc văn hóa được xem xét dưới góc độ triết
học - lịch sử, gắn với cảm thức thời đại và trách nhiệm công dân hơn là trong tư
cách là một hiện tượng, phạm trù văn hóa - xã hội. Phải đến những năm 90 của
thế kỉ XX, việc tiếp cận, nghiên cứu và giảng dạy văn hóa mới thực sự đi sâu vào
bản chất, cấu trúc, chức năng của nó.
Ở nước ta, cụm từ “đời sống văn hóa” xuất hiện nhiều trên báo chí vào
những năm 80 của thế kỷ XX và được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo nhiều
hướng khác nhau. Hiện đang tồn tại trong cả lý luận và thực tiễn hai quan
điểm khác nhau về khái niệm ĐSVH. Quan điểm thứ nhất xem ĐSVH là ĐSTT,
thuộc lĩnh vực ĐSTT; phát triển văn hóa phải dựa trên cơ sở phát triển của kinh
tế, vừa đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm
thứ hai coi ĐSVH là một bộ phận của đời sống xã hội, một tổng thể phức hợp
nhiều yếu tố có quan hệ tác động lẫn nhau chứ không chỉ riêng lĩnh vực tinh
thần. Sự khác nhau về quan điểm giữa Trần Độ trong cuốn sách do ông là chủ
biên “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”, Hồng Vinh trong “Mấy vấn đề lý
luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta”, và một số nhà nghiên cứu

cá thể tác động lẫn nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo
giá trị văn hóa, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Mơi
trường văn hóa khơng chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể mà cịn có
những con người hiện diện văn hóa” [1, tr.75].
Tán thành ý kiến này và cũng gần gũi với quan niệm “con người vốn
bản chất là một sinh thể có văn hóa” của nhà nhân chủng học người Pháp
Georges Olivier trong cuốn Sinh thái nhân văn, tác giả Đỗ Huy cho rằng


10
“Mơi trường văn hóa là mơi trường nhân hóa” và nhấn mạnh: “Mơi trường
văn hóa chính là sự vận động của các quan hệ của con người trong quá trình
sáng tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ sản phẩm vật chất và tinh thần của
mình” [59, tr.34-35].
Tuy nhiên, MTVH không đồng nhất với môi trường xã hội hay môi
trường nhân văn nói chung, nó được đề xuất, kiến giải gắn với chủ thể, quan
hệ, tác động đến chủ thể trong một phạm vi có tính xác định, khu biệt, liên
quan đến các môi trường cụ thể, được biểu hiện thông qua một số điều kiện,
thiết chế, quy định cụ thể. Chẳng hạn, theo quan điểm của các tác giả cuốn
Quản lý hoạt động văn hóa thì MTVH là một tổng thể các sản phẩm văn hóa,
chương trình văn hóa, hành vi văn hóa, thiết chế, phương tiện, cảnh quan văn
hóa..., mà cá nhân tiếp xúc trong suốt đời mình và có ảnh hưởng qua lại với
mình; cịn của nhóm tác giả thuộc Tổng cục Chính trị trong đề tài: “Ni
dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt
Nam”, “là tổng hòa những thành tố vật chất và tinh thần tương đối ổn định,
trong một thời gian và không gian cụ thể, ở đó các cá nhân tác động đến nhau,
con người là yếu tố quan trọng nhất của mơi trường văn hóa” [101]... Tác giả
Mai Hải Oanh, trong bài báo có nhan đề Bàn về mơi trường văn hóa thì đề
xuất quan điểm cho rằng MTVH chỉ bao gồm các yếu tố thuộc về lĩnh vực
VHTT: “Mơi trường văn hóa là tổng hịa các loại điều kiện văn hóa tinh thần

thần và q trình tổ chức ĐSTT của con người và cộng đồng, bao gồm tất cả
những thành tựu của triết học, khoa học, nghệ thuật, pháp luật, đạo đức, tôn
giáo... hợp thành lĩnh vực tinh thần của từng xã hội nhất định. Cịn văn hóa tổ
chức xã hội là tổng thể các giá trị văn hóa phản ánh trình độ người trong tổ
chức đời sống cộng đồng, từ thời đại mông muội, dã man đến thời đại trung
cổ, và từ thời đại trung cổ đến thời đại văn minh [89, tr.21-22].
Cũng liên quan đến vấn đề cần có sự “phân định” này, xin được trích dẫn
một ý kiến khác sát thực hơn khi bàn về “ĐSVH” và “MTVH” như sau: “Đời
sống con người được dệt nên bởi các hoạt động của con người, nên mơi
trường chính là các điều kiện bao quanh hoạt động của con người. Từ đó suy
ra đời sống văn hóa là các hoạt động văn hóa của con người, cịn mơi trường


12
văn hóa là những điều kiện văn hóa bao quanh các hoạt động văn hóa và có
quan hệ với hoạt động văn hóa của con người. (...) ... cần khu biệt khái niệm
“văn hóa” một cách ước lệ rằng nội hàm của nó chỉ đề cập đến lĩnh vực tinh
thần của con người. Đó là tồn bộ hoạt động sáng tạo, biểu hiện, hưởng thụ,
lưu giữ, quảng bá, trao đổi các sản phẩm tinh thần. Do vậy khái niệm ĐSVH
bao hàm các hoạt động tinh thần là một bộ phận, một thành tố bên cạnh đời
sống kinh tế, đời sống vật chất, đời sống chính trị, đời sống pháp luật... trong
toàn bộ đời sống xã hội, đời sống con người nói chung [39, tr.25].
Như thế, có thể thấy rằng, cho dù đã có sự giải thích, “phân định”, “minh
định”, làm rõ hơn bản chất, cốt lõi của vấn đề nhằm tiến tới một hướng
nghiên cứu, diễn giải tập trung; song ngay trong các ý kiến trên, các nhà
nghiên cứu dường như vẫn coi trọng, nhấn mạnh các “giá trị văn hóa” mà ít
chú ý đến các “nhu cầu văn hóa” vốn dĩ là thành tố cơ bản, tạo nên sự sống
động của ĐSVH.
Bên cạnh các vấn đề lý luận chung, vấn đề xây dựng MTVH cơ sở cũng
được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh, bởi văn hóa cơ sở là bộ phận, nền tảng,

đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội” của Trần Khắc Việt [124]. Trong luận án này, tác giả đã trình bày tương
đối có hệ thống về khái niệm, nội dung, các lĩnh vực, các yếu tố tác động đến
ĐSTT xã hội; phác họa diện mạo cùng những đặc trưng cơ bản của ĐSTT xã hội
Việt Nam thời kì quá độ và những năm đầu đổi mới. Tác giả luận án cũng đồng
thời đề xuất được một số nguyên tắc, phương pháp, giải pháp cơ bản, cấp bách
trong lãnh đạo xây dựng ĐSTT xã hội của nước ta. Ở ngành Văn hóa học, Trần
Chí Mỹ trong Luận án “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở Thành phố Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” [73] đã đưa ra các khái niệm, đặc trưng,
tính quy luật và tầm quan trọng của ĐSVHTT, thực trạng xây dựng ĐSVHTT ở
Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua; đưa ra các giải pháp nhằm xây
dựng ĐSVHTT cho nhân dân ở thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm kinh tế văn hóa - chính trị lớn của cả nước, v.v…
Thực tế cho thấy, có hai hướng nghiên cứu văn hóa vẫn tiếp tục được
tiến hành đồng thời: nghiên cứu lý luận nhằm đề xuất, bổ sung, điều chỉnh
định hướng, chiến lược phát triển và nghiên cứu thực tiễn nhằm kiểm nghiệm,


14
đánh giá hiệu quả của các chủ trương, chính sách đã triển khai. Về ý nghĩa, cả
hai hướng này đều có tầm quan trọng như nhau, song về số lượng, các nghiên
cứu thực tiễn, trường hợp, cụ thể… chiếm đa số. Điều này khơng chỉ được tính
đếm cơ học qua các đề tài, luận án, luận văn chúng tôi đã tạm thống kê được, ví
dụ các nghiên cứu về đời sống văn hóa đơ thị ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố
Hồ Chí Minh, Cần Thơ; đời sống văn hóa miền núi, nông thôn ở các địa bàn cụ
thể, các tầng lớp cụ thể…, mà còn thể hiện ngay trong nội dung các Hội thảo
khoa học về vấn đề văn hóa những năm gần đây, đặc biệt, năm 2015.
Trong nửa đầu năm 2015, đã có hai Hội thảo khá quan trọng. Tháng
1/2015, Hội thảo khoa học Quốc gia: “Những giải pháp tổ chức triển khai
Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã được tổ chức, có sự

ĐSVH, ĐSVHTT của các tầng lớp, bộ phận, phạm vi, khu vực dân cư…, tuy
khác nhau về đối tượng, nhưng tương đồng về ý tưởng, mục đích, cách thức và
kết quả nghiên cứu cần đạt. Không trực tiếp liên quan đến vấn đề nghiên cứu,
song từ các ý kiến, quan điểm, định hướng, mơ hình khái qt này, người viết có
thêm các căn cứ xác đáng về lý luận để triển khai các nội dung của luận án.
1.1.2. Các nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên,
học sinh trung học phổ thông
Cùng hướng nghiên cứu của luận án là một số cơng trình, bài báo của các
tác giả nước ngoài (Mỹ, Úc, Hàn Quốc...) những năm gần đây, dù đối tượng và
mục đích nghiên cứu khơng hồn tồn đồng nhất, song đó là các tư liệu bổ ích,
nó cho thấy sự quan tâm ngày càng nhiều hơn, cụ thể hơn của xã hội, của các
ngành văn hóa, giáo dục tới thế hệ trẻ, đặc biệt lứa tuổi học sinh, vị thành niên.
Có thể kể đến hai cuốn sách sau:
- Eugene C Roehlkepartain với cuốn: “Cẩm nang về sự phát triển tinh thần
trong thời thơ ấu và thanh thiếu niên” (The Handbook of Spiritual Development in
Childhood and Adolescence) [134]. Trong cuốn sách này, tác giả đã tập hợp các bài
viết hết sức đa dạng và phong phú của các nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về lý
thuyết cũng như thực tiễn của vấn đề phát triển ĐSTT cho trẻ em dưới và đang ở
độ tuổi thành niên. Nội dung cuốn sách được chia tách thành 6 phần chính:
Phần I. Cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học phát triển VHTT ở trẻ em và
trẻ vị thành niên


16
Phần II. Các phương pháp để phát triển VHTT ở trẻ em và trẻ vị thành niên
Phần III. Mối quan hệ giữ VHTT và sự phát triển con người
Phần IV. Các hệ sinh thái phát triển VHTT
Phần V. Thực trạng của sự phát triển VHTT
Phần VI. Chính sách và những định hướng về phát triển VHTT cho trẻ nhỏ
và trẻ vị thành niên trong tương lai.

growth orientation program for all new students at Trinity College in Deerfield),
[135]. Trong cơng trình này, tác giả đã nghiên cứu, làm rõ những điểm cơ bản về
mặt lý luận của VHTT và sự ảnh hưởng của VHTT tới sự phát triển của sinh viên.
Trên cơ sở đó, tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng, đề xuất những giải pháp mang
tính khoa học để nâng cao hiệu quả đáp ứng nhu cầu về ĐSVHTT với những định
hướng phát triển cụ thể cho sinh viên tại Trường cao đẳng Trinity ở Deerfield.
- John Fisher với cơng trình: “Phương pháp phát triển và định hướng cuộc
sống tinh thần cho học sinh trung học” (Developing a spiritual health and lifeorientation measure for secondary school students) [136]. Nghiên cứu này đề xuất
vấn đề phát triển công cụ để đưa ra một đánh giá cân bằng về sức khỏe tinh thần
của giới trẻ nói chung và học sinh trung học nói riêng. Sức khỏe tinh thần là một
trạng thái năng động của cá nhân, có thể được phản ánh thơng qua mối quan hệ với
chính mình, với người khác, với môi trường xung quanh hoặc với môi trường tôn
giáo mang đặc trưng riêng. Nghiên cứu đã khảo sát trên 850 học sinh trung học ở
nhiều khu vực, chẳng hạn, học sinh tại các trường Công giáo, cộng đồng Kitô hữu
và các trường độc lập khác ở Ballarat và vùng ngoại ơ phía tây của Melbourne
trong năm 1999 để xác định tầm quan trọng và thực trạng việc đáp ứng nhu cầu về
ĐSVHTT của học sinh trung học. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giải pháp có
tính khoa học để nâng cao hiệu quả đáp ứng nhu cầu về VHTT của học sinh nói
chung và học sinh trung học nói riêng.
- Akiko Sato Doi với: “Ưu tiên cho đời sống tinh thần của học sinh trung
học” (Spiritual well-being and leisure preferences in college students) [132].
Công trình nghiên cứu góp phần khẳng định vai trị quan trọng của ĐSVHTT
cũng như mức độ đáp ứng nhu cầu giải trí đến sự phát triển tồn diện và tích cực


18
của học sinh, sinh viên. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những giải pháp để đáp
ứng nhu cầu về tinh thần của học sinh và sinh viên trong môi trường giáo dục
trường học.
- Andrea L Merlino với luận văn: “Tinh thần và giáo dục: nhận thức của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status