Luận văn tốt nghiệp
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: Nâng cao năng lực cạnh tranh
của chi nhánh Ngân hàng Công thương
Chương Dương trong bối cảnh Việt
Nam hội nhập kinh tế quốc tế.”
Luận văn tốt nghiệp
2 LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
2.3. Thực trạng năng lực cạnh tranh của chi nhánh Ngân hàng Công
thương Chương Dương 48
2.3.1. Nguồn lực tài chính 48
2.3.2. Chất lượng sản phẩm dịch vụ 54
Luận văn tốt nghiệp
3
2.3.3. Chất lượng nguồn nhân lực 55
2.3.4. Năng lực quản trị, điều hành 60
2.3.5. Trình độ công nghệ 61
2.3.6. Uy tín, thương hiệu 63
2.4. Phân tích năng lực cạnh tranh của chi nhánh Ngân hàng Công
thương Chương Dương theo mô hình Kim cương của Michael Porter 65
2.4.1. Môi trường kinh doanh, cơ cấu của ngân hàng và đối thủ cạnh tranh
65
2.4.2. Các điều kiện về cầu 66
2.4.3. Các ngành phụ trợ và liên quan 67
2.4.4. Các điều kiện về yếu tố đầu vào 68
2.5. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng
Công thương Chương Dương 69
2.5.1. Những thành công của Chi nhánh 69
2.5.2. Những tồn tại và nguyên nhân 70
CHƯƠNG 3: 75
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG 75
CHƯƠNG DƯƠNG 75
3.1. Cơ hội và thách thức đối với Chi nhánh Ngân hàng Công thương
Chương Dương trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế 75
3.1.1. Cơ hội đối với Chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương 75
3.1.2. Thách thức đối với Chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương
Dương 78
chưa hoàn thiện, công nghệ ngân hàng tụt hậu so với các nước, nợ khó đòi
cao, môi trường kinh tế vĩ mô chưa ổn định đã đặt hệ thống ngân hàng vào
tình thế rủi ro khá cao. Vì vậy, lĩnh vực ngân hàng cần nhanh chóng hội nhập
Luận văn tốt nghiệp
5
cùng với hệ thống ngân hàng khu vực và thế giới, xây dựng hệ thống ngân
hàng có năng lực cạnh tranh vững mạnh đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn và
cung ứng sản phẩm dịch vụ cho nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập.
Không nằm ngoài xu thế đó, Chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương
Dương cũng xác định phải chủ động đẩy mạnh quá trình cải cách, tiếp tục đổi
mới triệt để và toàn diện hơn để nâng cao năng lực cạnh tranh, vững bước trên
con đường hội nhập kinh tế quốc tế.
Dựa trên những phân tích trên, em chọn đề tài : "Nâng cao năng lực
cạnh tranh của chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương trong
bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế". Luận văn tốt nghiệp đi sâu
nghiên cứu tình hình hoạt động và thực trạng năng lực cạnh tranh của Chi
nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương, trên cơ sở đó tính toán một
số chỉ tiêu phân tích, rút ra nhận xét chủ quan, mạnh dạn đưa ra những kiến
nghị mong muốn góp một phần nhỏ trong quá trình không ngừng đổi mới và
hoàn thiện Chi nhánh.
Q ii) Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của Chi nhánh
Ngân hàng Công thương Chương Dương ở thời điểm hiện tại; đồng thời xác
định các cản trở hạn chế năng lực cạnh tranh của các sản phẩm dịch vụ của
Ngân hàng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của Ngân hàng trong thời gian tới.
iii) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của chi nhánh Ngân
hàng Công thương Chương Dương
Luận văn tốt nghiệp
tư bản chủ nghĩa, mà đặc trưng của chế độ này là chế độ chiếm hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất. Do vậy, theo quan niệm này thì cạnh tranh có nguồn gốc
từ chế độ tư hữu. Cạnh tranh được xem xét là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để
tồn tại. Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ tiêu cực.
Ở Việt Nam, trong một thời gian dài trước đây, cạnh tranh cũng được
nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực: cạnh tranh gắn với đổ vỡ, cạnh tranh là tiêu
diệt lẫn nhau, là “cá lớn nuốt cá bé”. Nhận thức không đầy đủ về cạnh tranh
đã dẫn tới không thừa nhận cạnh tranh, tạo ra sự độc quyền, nuôi dưỡng độc
quyền trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại hiện nay, cạnh
tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất - kinh
Luận văn tốt nghiệp
8
doanh (năng lực tổ chức quản lý, trình độ công nghệ, trình độ tay nghề, ),
nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cạnh tranh
không phải chỉ có tranh giành, mà cạnh tranh luôn đi với hợp tác, cạnh tranh
trong sự hợp tác và bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Do đó, ngày nay hầu hết các
nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi
trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu
tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị
trường hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường,
thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu được lợi nhuận cao.
Cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thị trường tự do dựa vào
để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn được các nhu cầu và mong muốn
của người tiêu dùng. Khi có cạnh tranh, không một chính phủ nào cần phải
quy định các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gì với số lượng, chất lượng và
giá cả thế nào. Cạnh tranh trực tiếp quy định những vấn đề đó với các doanh
nghiệp.
hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của
ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đang đối phó với các đối thủ cạnh
tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung
cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo
hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại. Cách
tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện
những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.
Luận văn tốt nghiệp
10
Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại: “Ngân hàng thương mại
là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng
nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế”.
Ở Hoa Kỳ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên
cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ
tài chính.
Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó
thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức
khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng
hay dịch vụ tài chính.
Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội
đồng Nhà nước xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với
trách nhiệm hoàn trả và được phép sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện
nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán.”
Như vậy, Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm
vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng
thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và
hiện ở khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với giá cả thấp hoặc hợp
lý, chất lượng cao, uy tín cao, thực hiện tốt các cam kết với các bạn hàng và
làm hài lòng khách hàng. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực
cạnh tranh, ngoài các yếu tố nội hàm, Ngân hàng thương mại còn phải tạo lập
được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, Ngân hàng thương
Luận văn tốt nghiệp
12
mại có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi
kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại là sự tổng
hợp của các yếu tố từ công tác chỉ đạo và điều hành, chất lượng đội ngũ cán
bộ, uy tín và thương hiệu của Ngân hàng thương mại. Năng lực cạnh tranh
của ngân hàng được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, khả năng
thu lợi nhuận của Ngân hàng trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài
nước.
Để duy trì sự tồn tại và phát triển trong một thời gian dài đòi hỏi Ngân
hàng thương mại phải có một năng lực cạnh tranh tốt. Năng lực cạnh tranh
của Ngân hàng thương mại được cấu thành nên từ những lợi thế cạnh tranh
trong từng giai đoạn của Ngân hàng. Đó là những lợi thế Ngân hàng có được
tạo ra và sử dụng trong cạnh tranh, nhờ đó Ngân hàng có thể tạo ra một số
tính trội hơn, ưu việt hơn so với đối thủ trực tiếp. Xem xét dưới góc độ hoạt
động cơ bản, các lĩnh vực cạnh tranh chủ yếu của Ngân hàng thương mại
được phân như sau:
* Cạnh tranh trong lĩnh vực huy động vốn:
Huy động vốn là một trong những hoạt động tạo vốn quan trọng hàng
đầu của các Ngân hàng thương mại. Với chức năng và nhiệm vụ của mình,
các Ngân hàng thương mại đã thu hút, tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm
thời chưa sử dụng của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư vào Ngân hàng.
Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn huy động được, Ngân hàng sẽ tiến hành hoạt
động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát
Một Ngân hàng có hoạt động sử dụng vốn với hiệu quả cao sẽ nâng
cao vai trò, uy tín của Ngân hàng, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường,
từ đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch với mình, tạo điều kiện
Luận văn tốt nghiệp
14
thuận lợi để mở rộng hoạt động huy động vốn. Vì vậy, nhiệm vụ của mỗi
Ngân hàng là phải thường xuyên bám vào các mục tiêu phát triển kinh tế của
vùng, ngành, đất nước,… nhằm đưa ra các hình thức đầu tư đúng đắn, có hiệu
quả cao, thực hiện nghiên cứu thị trường, nghiên cứu của ngân hàng. Ở các
nước phát triển, Ngân hàng thương mại thực hiện rất nhu cầu sử dụng vốn của
xã hội, thực hiện cho vay theo dự án đầu tư, chương trình phục hồi sản xuất.
* Cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ trung gian của ngân
hàng
Đó là các hoạt động Ngân hàng cung ứng dịch vụ phục vụ khách
hàng. Nền kinh tế ngày càng phát triển, các dịch vụ của Ngân hàng cũng phát
triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú đa dạng của khách hàng,
Ngân hàng thực hiện hoạt động trung gian và được hưởng thu nhập từ phí
hoặc hoa hồng. Các hoạt động trung gian phản ánh mức độ phát triển nhiều
hoạt động trung gian và luôn có dịch vụ cung cấp nhiều tiện ích cho khách
hàng. Thu nhập từ các hoạt động trung gian chiếm khoảng 30-35% tổng thu
nhập của Ngân hàng.
Việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung ứng sẽ làm tăng thu
nhập cho Ngân hàng, tăng uy tín và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Có
thể thấy, xu hướng nguồn thu về dịch vụ trung gian ngày càng tăng và chiếm
tỷ lệ lớn trong tổng doanh thu về kinh doanh của Ngân hàng. Đồng thời với
các hoạt động trung gian này, ngân hàng thương mại góp phần làm tăng khả
năng chu chuyển của đồng vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, do đó
tiết kiệm được chi phí lưu thông trong xã hội. Mặt khác, thực hiện tốt các hoạt
động này, Ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Điều đó cũng
tạo điều kiện phát triển hoạt động huy động vốn và cho vay của Ngân hàng.
các hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình
Luận văn tốt nghiệp
16
dịch vụ tài chính khác; đồng thời, trong hoạt động kinh doanh của mình, các
Ngân hàng thương mại cũng đều mở tài khoản cho nhau để cùng phục vụ các
đối tượng khách hàng chung. Chính vì vậy, nếu như một Ngân hàng thương
mại bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu sẽ tác động
dây chuyền đến gần như tất cả các Ngân hàng thương mại khác, không những
thế, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng. Đây quả là
điều mà các Ngân hàng thương mại không bao giờ mong muốn. Chính vì vậy,
các Ngân hàng thương mại trong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn
nhau để dành giật thị phần, nhưng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng
tới một môi trường lành mạnh để tránh rủi ro hệ thống.
(3) Do hoạt động của các Ngân hàng thương mại có liên quan đến tất
cả các chủ thể, đến mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội, cho nên, để tránh sự
hoạt động của các Ngân hàng thương mại mạo hiểm nguy cơ đổ vỡ hệ thống,
tất cả Ngân hàng Trung ương các nước đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường
này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để phòng ngừa rủi ro. Thực tiễn đã chỉ
ra những bài học đắt giá, khi mà Ngân hàng Trung ương thờ ơ trước những
diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là sự đổ vỡ của thị trường
tài chính - tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, sự
cạnh tranh trong hệ thống các Ngân hàng thương mại không thể dẫn đến làm
suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền
kinh tế.
(4) Hoạt động của các Ngân hàng thương mại liên quan đến lưu
chuyển tiền tệ, không chỉ trong phạm vi một nước, mà có liên quan đến nhiều
nước để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đối ngoại, do vậy, kinh doanh trong
hệ thống Ngân hàng thương mại chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong nước
và quốc tế, như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh doanh của các nước, các
thông lệ quốc tế… đặc biệt nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ
18
thương mại là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá
trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn tự có, chất
lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng đảm bảo
an toàn trong hoạt động kinh doanh.
Một Ngân hàng thương mại có năng lực tài chính tốt phải là Ngân
hàng thương mại luôn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển một
cách ổn định, bền vững trong mọi điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở
trong nước và trên thế giới. Ngân hàng thương mại có khả năng cung cấp tín
dụng có hiệu quả và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Ngân hàng thương
mại luôn đáp ứng đầy đủ yêu cầu khách hàng về vốn và các dịch vụ ngân
hàng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong nước và thế giới.
Ngân hàng thương mại còn phải bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của
mình một cách an toàn, không xảy ra những đổ vỡ hay phá sản. Năng lực tài
chính của một Ngân hàng thương mại đóng vai trò vô cùng quan trọng. Năng
lực tài chính của một Ngân hàng thương mại càng được đảm bảo thì mức độ
rủi ro trong hoạt động ngân hàng càng thấp và năng lực cạnh tranh của Ngân
hàng thương mại trên thị trường càng cao. Do vậy, năng lực tài chính của
Ngân hàng thương mại phải không ngừng được nâng cao và hoàn thiện và là
điều kiện không thể thiếu được bất cứ một Ngân hàng thương mại nào.
Năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại được đánh giá dựa trên
các yếu tố định lượng và các yếu tố định tính.
+ Các yếu tố định lượng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có, bao
gồm: quy mô vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh
lời…
+ Các yếu tố định tính thể hiện khả năng khai thác, quản lý, sử dụng
các nguồn lực tài chính được thể hiện qua trình độ tổ chức, trình độ quản lý,
trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực…
Luận văn tốt nghiệp
19
hoạt động thanh toán khác. Nếu nguồn vốn không ổn định và có chất lượng
không tốt sẽ dễ làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán và đưa đến thua
lỗ, phá sản. Vậy mặt chất lượng biểu hiện trong tính hiệu quả về tác dụng
thực tiễn và mức độ ảnh hưởng của quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh
trong từng giai đoạn cụ thể.
Cơ cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu: Cơ cấu vốn, sự biến
động về cơ cấu vốn sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo
theo là rủi ro, biến động về thu nhập, vì vậy cơ cấu vốn cần phải có sự ổn
định và phù hợp với hoạt động của ngân hàng.
* Chất lượng tài sản:
Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là tìm kiếm các khoản
vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo
nên các loại tài sản khác nhau của Ngân hàng. Do Ngân hàng thương mại là
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nên phần lớn tài sản của Ngân hàng là các tài
sản tài chính, bao gồm các hợp đồng cho vay, hợp đồng thuê - mua, các
chứng khoán, các khoản tiền gửi ( tài sản sinh lời), một phần nhỏ trong
khối tài sản của Ngân hàng là tài sản cố định như nhà cửa, trang thiết bị ( tài
sản không sinh lời), trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan
trọng của Ngân hàng. Mỗi loại tài sản được hình thành theo các cách thức
khác nhau, vì những mục tiêu khác nhau song đều tập trung đảm bảo an toàn
và sinh lợi cho Ngân hàng.
Một danh mục tài sản nếu bao gồm phần lớn các tài sản rủi ro cao sẽ
làm giảm uy tín, hạn chế thu nhập của Ngân hàng, hạn chế Ngân hàng mở
rộng quy mô trong môi trường kinh doanh đầy biến động, khả năng mở rộng
thị trường nguồn vốn của Ngân hàng sẽ bị giảm sút. Nguồn tiền suy giảm
nhanh và mạnh có thể đẩy Ngân hàng đến phá sản. Như vậy, chất lượng tài
Luận văn tốt nghiệp
21
sản của Ngân hàng thương mại là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền
vững về tài chính, năng lực quản lý của một tổ chức tín dụng.
người ta thường sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA), chỉ
tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE) hoặc chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên
doanh thu.
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA):
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Ý nghĩa của chỉ tiêu này một đồng tài sản có tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng của công việc quản lý tài sản có - tài
sản có sinh lời càng lớn thì hệ số này càng lớn
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE):
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
Tài sản sinh lãi
Ý nghĩa của chỉ tiêu này là một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại, khả năng sinh lời trên một đồng vốn của Ngân hàng.
Hệ số này càng lớn thì khả năng sinh lời tài chính càng lớn.
Luận văn tốt nghiệp
23
(2) Chất lượng sản phẩm dịch vụ:
Chất lượng sản phẩm dịch vụ luôn là vấn đề quan tâm của mọi khách
Độ an toàn, chính xác.
Thủ tục giao dịch.
Tốc độ xử lý giao dịch.
(3) Chất lượng nguồn nhân lực:
Sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính ngân hàng đòi hỏi
nguồn cung cấp nhân lực rất lớn, nhất là nguồn nhân lực có kinh nghiệm làm
việc và đáp ứng được nhu cầu mới. Bởi vì theo nguyên lý, con người là yếu tố
quyết định.
Về mặt quản lý: Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, tài sản,
nguồn vốn, phòng tránh rủi ro tốt nhất, quản lý các danh muc đầu tư hiệu quả
thì hoạt động của ngân hàng sẽ đảm bảo an toàn và tăng trưỏng, tăng uy tín,
thu hút khách hàng.
Về mặt nghiệp vụ: Với trình độ nghiệp vụ cao, mọi thao tác nghiệp vụ
thực hiện chính xác, hiệu quả, tác phong làm việc nhiệt tình, cởi mở, tạo điều
kiện thuận lợi cho khách hàng sẽ gây ấn tượng tốt đối với khách hàng. Khách
hàng là người có quyền lựa chọn, vì vậy họ sẽ chọn nơi làm họ hài lòng nhất
để gửi tiền, vay tiền tiền và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng cung
cấp.
Chính vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh trước yêu cầu của hội
nhập, các Ngân hàng thương mại cần hết sức quan tâm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực và có chiến lược lâu dài phát triển nguồn nhân lực có chất
lượng cao.
Luận văn tốt nghiệp
25
Chất lượng nguồn nhân lực có thể được đánh giá thông qua các chỉ
tiêu sau:
Số lượng lao động
Độ tuổi lao động
Cơ cấu lao động qua các cấp học như: trung cấp, cao đẳng,