THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 1
LỜI MỞ ĐẦU
ời đầu tiên cho nhóm 3 gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới
Thầy PHAN NGỌC TRUNG giảng viên môn Thanh Toán
Quốc Tế đã tạo cho chúng em cơ hội làm việc theo nhóm, tìm
hiểu sâu hơn về nền Luật hối phiếu (ULB) và UCP 600. Đồng thời cảm ơn đến các
thành viên trong nhóm đã góp sức hoàn thành phần công việc của mình để có một
bài tiểu luận đầy đủ, chi tiết và hoàn chỉnh.
Tuy nhóm đã cố gắng nhưng không tránh khỏi thiếu sót, nhóm 3 rất mong
nhận được nhiều sự góp ý từ Thầy và các bạn để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn!
Xin chân thành cảm ơn!!!
Nhóm 3 – Lớp Thanh Toán Quốc Tế- Thứ 6- Tiết 123
Mục lục
Phần I Hối phiếu, phƣơng tiện thanh toán quốc tế
I/ Giới thiệu chung về hối phiếu trang 4
1/ Khái niệm trang 5
2/ Các thành phần liên quan trang 6
3/ Đặc điểm của hối phiếu trang 8
4/ Vai trò của hối phiếu trang 9
5/ Tác dụng của hối phiếu trang 9
6/ Chức năng của hối phiếu trang 10
7/ Việc thành lập của hối phiếu trang 10
8/ Các loại hối phiếu trang 18
9/ Các nghiệp vụ liên quan đến việc lưu thông hồi phiếu trang 22
10/ Ưu, nhược điểm của hối phiếu trang 29
II/ Liên hệ thực tế hối phiếu ở Việt Nam trang 30
Phần II Khái quát về ICC và UCP 600
I/ Vài nét về phòng thương mại quốc tế ICC trang 33
II/ Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ UCP 600 trang 35
Codes of 1962” (UCC).
+ Công ước Giơ – ne - vơ (Geneva) đợc các nước ký kết năm 1930. Đó là
luật thống nhất về hối phiếu “Uniform Law for Bills of exchange” (ULB). ULB
mang tính chất khu vực thuộc Châu Âu.
Pháp tham gia công ước Geneva năm 1930, nhưng chính thức áp dụng luật
ULB vào năm 1930. Việt Nam là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ, nên cũng áp
dụng luật này từ năm 1937 cho đến nay.
Vì vậy ngày nay để giải thích về hối phiếu ở nước ta cũng dựa vào ULB.
1/. Khái niệm
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 3
Theo luật hối phiếu của Anh 1882: “Bill of Exchange Act of 1882”
(BEA): Hối phiếu là một mệnh lệnh dưới dạng viết của người bán phát ra
đòi tiền người mua yêu cầu người mua khi đến hạn quy định của lệnh phải
trả một số tiền nhất định cho người bán, hoặc theo lệnh của người bán trả
cho một người khác tại một địa điểm nhất định
Theo luật thống nhất về hối phiếu (Công ƣớc Giơnevơ 1930): Hối phiếu
là một tờ mệnh lệnh yêu cầu trả tiền vô điều kiện, do một người ký phát cho
người khác, yêu cầu người này:
Hoặc khi nhìn thấy phiếu
Hoặc tại một ngày cụ thể trong tương lai
Hoặc tại một ngày có thể xác định trong tươnglai
Phải trả một số tiền nhất định cho một người nàođó, hoặc theo lệnh của người này
trả cho người khác, hoặc trả cho người cầm phiếu
Theo điều 4, “Luật các công cụ chuyển nhƣợng” của Việt Nam: “Hối
phiếu là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh
toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời
gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”
phép.
e) Ngƣời chuyển nhƣợng (Endorser) hay ngƣời ký hậu: Là người chuyển
quyền hưởng lợi hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hay bằng thủ
tục ký hậu. Bị ràng buộc trách nhiệm với những người ký hậu phía sau và
người cầm phiếu. Người chuyển nhượng hối phiếu đầu tiên chính là người
ký phát hối phiếu.
f) Ngƣời bảo lãnh: Là bất kỳ người nào ký tên vào hối phiếu, ngoại trừ người
ký phát và người bị ký phát, thường là Ngân hàng nổi tiếng.
Quyền lợi và nghĩa vụ của những ngƣời có liên quan đến hối phiếu:
a) Ngƣời ký phát (Drawer) thƣờng là ngƣời xuất khẩu:
Có trách nhiệm ký phát cho đúng luật, ký tên vào mặt trước góc phải của
tờ hối phiếu.
Phải hoàn trả tiền lại cho những người hưởng lợi của tờ hối phiếu trong
trường hợp hối phiếu được chuyển nhượng nhưng bị từ chối trả tiền.
Có quyền được hưỏng lợi số tiền ghi trên hối phiếu và quyển chuyển
nhượng quyền hưởng lợi cho người khác.
b) Ngƣời trả tiền hối phiếu (Drawee): là người nhập khẩu hoặc là một người
khác do người nhập khẩu chỉ định:
Có trách nhiệm trả tiền hối phiếu, nếu là hối phiếu có kỳ hạn thì phải ký
chấp nhận trả tiền hối phiếu khi hối phiếu được xuất trình.
Có quyền từ chối trả tiền khi chưa ký chấp nhận.
c) Ngƣời chấp nhận (Accepter): Có trách nhiệm thanh toán khi hối phiếu đến
hạn.
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 6
d) Ngƣời hƣởng lợi hối phiếu (Beneficiary): có quyền được nhận số tiền của
hối phiếu.
Người này có thể là bản thân người ký phát hối phiếu, cũng có thể là 1 người
khác do người ký phát hối phiếu chỉ định, hoặc do người hưởng lợi chuyển
Ngay từ khi xuất hiện, hối phiếu được xem là một phương tiện thanh toán
hữu hiệu. Giảm đáng kể những rủi ro, thiệt hại trong quá trình thực hiện các giao
dịch mua bán, đáp ứng được nhu cầu thanh toán trong trường hợp có sự khác nhau
về địa lý giữa nơi bán và nơi mua.
Và hiện nay, hối phiếu vẫn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thương
mại quốc tế. Song song với vai trò là một phương tiện thanh toán, hối phiếu còn
được xem là một công cụ tín dụng. Sở dĩ có vai trò này bởi vì người ta thực hiện
các hoạt động chiết khấu trên hối phiếu.
Tín dụng chiết khấu hối phiếu được hiểu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, mà thực
chất của hình thức này là Ngân hàng tiến hành mua lại các hối phiếu thương mại
đang trong thời kỳ chưa đến hạn thanh toán và cung ứng một khoản vốn cho các
thương nhân để họ có điều kiện tiếp tục tái sản xuất. Khi kết thúc thời hạn chiết
khấu, Ngân hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền hối phiếu.
5/. Tác dụng của hối phiếu:
- Là công cụ tín dụng: hối phiếu là công cụ tín dụng giữa
+ Người ký phát hối phiếu và người trả tiền hối phiếu.
+ Người ký phát hối phiếu và người sỡ hữu hối phiếu.
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 8
+ Một Ngân hàng với người ký phát hối phiếu hoặc người sỡ hữu hối phiếu
thông qua nghiệp vụ chứng khoán hối phiếu.
- Là phƣơng tiện đảm bảo: hối phiếu là 1 công cụ đảm bảo các quan hệ tín dụng.
Điều này dựa trên cơ sở tính nghiêm ngặt của hối phiếu về trả tiền vô điều kiện
nghĩa là người chủ nợ luôn có quyền đòi thanh toán hối phiếu mà họ sở hữu vào
ngày đến hạn.
- Là phƣơng tiện đầu tƣ vốn: trong nghiệp vụ chứng khoán hối phiếu tất cả các
NH đều có thể đầu tư vào hối phiếu của người bán.
- Là công cụ thanh toán: hối phiếu là công cụ thanh toán đối với tất cả những ai
liên quan đến nó. Khi hối phiếu được thanh toán vào ngày đến hạn thì món nợ gốc
bản được đánh số thứ tự: bản thứ nhất ghi số “1”, bản thứ hai ghi số “2” và có giá
trị ngang nhau, nhưng chỉ có một bản được thanh toán, trong thanh toán bản nào
đến trước sẽ được thanh toán trước. Hối phiếu không có bản chính, bản phụ.
b) Nội dung hối phiếu:
* ULB
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 10
- Tiêu đề hối phiếu: phải ghi chữ hối phiếu (Bill of Exchange), phải ghi
cùng bằng thứ tiếng lập hối phiếu. Hoặc nếu không ghi tiêu đề thì trên tờ hối phiếu
phải có chữ hối phiếu, nếu không ghi hối phiếu sẽ vô hiệu.
- Số hiệu của hối phiếu: để dễ dàng gọi tên và tham chiếu khi cần thiết, mỗi
hối phiếu đều được gán cho 1 số hiệu nhất định. Số hiệu do người ký phát hối
phiếu đặt ra, được ghi sau chữ No. và đặt trên cùng bên trái văn bản của hối phiếu.
- Địa điểm ký phát hối phiếu: trong trường hợp hối phiếu không ghi địa
điểm ký phát thì địa chỉ ghi bên cạnh tên người ký phát là địa điểm thành lập hối
phiếu. Nếu trên hối phiếu thiếu cả địa chỉ ký phát thì hối phiếu vô giá trị.
Ngày phát hành hối phiếu không thể là trước ngày giao hàng ghi trên hóa
đơn hoặc sau ngày hết hạn hiệu lực của thư tín dụng (L/C) và không quá 21 ngày
kể từ ngày giao hàng.
- Ngày ký phát hối phiếu: có ý nghĩa là ngày phát sinh quyền đòi tiền của người
ký phát đối với người bị ký phát, là căn cứ để xác định thời hạn trả tiền (nếu hối
phiếu ghi thời hạn trả tiền kể từ ngày ký phát), là thời điểm hối phiếu được lập ra,
nó thường được ghi bên cạnh địa điểm ký phát hối phiếu. Ngày ký phát quan trọng
vì nó đánh dấu thời điểm tính thời hạn hiệu lực của hối phiếu.
* Chú ý: Ngày phát hành hối phiếu không thể trước ngày giao hàng ghi
trên vận tải đơn, hóa đơn, và cũng không thể sau ngày quá hạn giá trị thư tín dụng
(L/C).
- Địa điểm trả tiền: trên hối phiếu phải ghi rõ địa điểm trả tiền là nơi thực
Người thụ hưởng là người cầm phiếu (BEA và UCC cho phép): “Thanh toán
cho ngƣời c
ầ
m
phiếu” hoặc để trống.
Chuyn nhng: bng hình thc trao tay
Trong hoạt động ngoại thương, người thụ hưởng hối phiếu thường được
quy định là Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu theo luật quản lý ngoại hối ghi đầy
đủ họ tên và địa chỉ của người hưởng lợi. Đối với hối phiếu thương mại, người
hưởng lợi là người xuất khẩu và cũng có thể là một người khách do người hưởng
lợi chỉ định.
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 12
- Số tiền và loại tiền: số tiền phải ghi rõ ràng, đơn giản, đúng tập quán quốc
tế, được ghi cả bằng số và bằng chữ, dễ nhận biết và không cần phải có một phép
tính nào.
được ghi sau chữ “For” và đặt bên trái ngay dưới
số hiệu hối phiếu hoặc ghi tiếp theo tiêu đề “Exchange for” của hối phiếu, phải
diễn đạt rõ ràng bao gồm tên đầy đủ của đơn vị tiền tệ (chẳng hạn USD chứ không
được ghi dollar).
được ghi tiếp theo tên người thụ hưởng, được
thể hiện sau chữ “the sum of” và khớp với số tiền ghi bằng số.
+ S tin nht nh: số tiền được quy định cụ thể trên hối phiếu.
ULB không cho phép ghi tỷ suất lợi tức. Như vậy, người ký phát cần tính ra số tiền
lãi phải t
r
ả
,
cộng với số tiền trả chậm, thành “số tiền nhất định” ghi trong hối
DATE
+ Thanh toán tại một thời điểm nhất định sau ngày vận đơn AT X DAYS AFTER
BILL OF LADING DATE
+ Thanh toán tại một ngày nhất định trong tương lai ON …
* Chú ý: thời hạn xuất trình để thanh toán
Trong vòng 1 nm (ULB 1930)
90 ngày (Lut các công c chuyn nhng ca VN).
+ : sau chữ At sẽ để trống không ghi gì cả hoặc ghi vào đó chữ
“sight”.
Hối phiếu ghi: trả ngay khi nhìn thấy bản thứ nhất (hai) của hối phiếu này
(At sight of first (second) Bill of Exchange).
+ : thời hạn trả tiền được ghi cụ thể bao nhiêu
ngày vào sau chữ At. Có nhiều cách thỏa thuuận khi trả tiền chậm:
Trả sau một số ngày kể từ ngày nhận hối phiếu: trả 30 ngày sau khi nhìn thấy (At
30 days after sight).
Trả sau một số ngày kể từ ngày giao hàng: trả 30 ngày sau khi ký vận đơn (At 30
days after Bill of Lading date).
Trả sau một số ngày kể từ ngày ký phát hối phiếu: trả sau 30 ngày kể từ ngày ký
phát hối phiếu (At 30 days after Bill of Exchange date).
- Thứ tự số bản của hối phiếu: thông thường hối phiếu được ban hành
thành 2 bản và có đánh số thứ tự bằng chữ “FIRST hoặc SECOND”, việc đánh thứ
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 14
tự này chỉ có giá trị phân biệt bản này với bản kia chứ giá trị thanh toán của 2 bản
đều như nhau. Người trả tiền nhận được bản nào thì trả tiền bản ấy và đã trả tiền
bản này thì khỏi trả tiền bản kia.
- Tham chiếu chứng từ kèm theo: tùy theo phương thức thanh toán, hối
* Mẫu 1 (dùng trong phƣơng thức nhờ thu):
No. 12345/200x BILL OF EXCHANGE
For US$32,829.00 Ho Chi Minh City, August 12, 200x
At xxxx sight of this FIRST bill of exchange (SECOND of the same tenor and
date being unpaid) pay to the order of Asia Commercial Bank the sum of UNITED
STATES DOLLARS THIRTY TWO THOUSAND EIGHT HUNDRED
TWENTY NINE ONLY.
Drawn under our invoice No. 12345 dated July 12, 200x
TO: YAMAGUCHI CO. LTD For and on Behalf of Cholonimex
TOKYO, JAPAN (Authorized Signature)
Thai Duc Tuan
* Mẫu 2 (dùng trong phƣơng thức tín dụng chứng từ):
No. 12345/200x BILL OF EXCHANGE
For US$32,829.00 Ho Chi Minh City, August 12, 200x
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 16
At 90 days after sight of this FIRST Bill of exchange (SECOND of the same tenor
and date being unpaid) pay to the order of Asia Commercial Bank the sum of
UNITED STATES DOLLARS THIRTY TWO THOUSAND EIGHT HUNDRED
TWENTY NINE ONLY.
Drawn under Irrevocable L/C No. 12345 dated dated July 12, 200x issused by
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 17
- Hối phiếu thƣơng mại (Commercial Bill): là hối phiếu do người xuất
khẩu kí phát đòi tiền người nhập khẩu ()
hay đòi tiền ngân hàng mở L/C ( ) trong
nghiệp vụ về thanh toán tiền hàng hoá xuất khẩu hoặc cung ứng dịch vụ cho nhau.
- Hối phiếu Ngân hàng (Banking Bill): là hối phiếu do Ngân hàng kí phát
ra lệnh cho Ngân hàng đại lí của mình thanh toán một số tiền nhất định cho người
hưởng lợi chỉ định trên hối phiếu.
Hối phiếu Ngân hàng thực chất là một tấm sec do một Ngân hàng ký phát hành, ra
lệnh cho một Ngân hàng đại lý thanh toán một số tiền nhất định cho người hưởng
lợi được chỉ định.
Nếu chuyển tiền bằng VND, Ngân hàng nước ngoài phải mở tài khỏan bằng VND
tại Ngân hàng Việt Nam; hối phiếu được ký phát để ghi Có tài khoản VOSTRO.
Nếu chuyển tiền bằng ngoại tệ, Ngân hàng Việt Nam phải mở tài khỏan và duy
trì số dư bằng ngoại tệ để phát hành sec; hối phiếu được ký phát để ghi Nợ tài
khoản NOSTRO.
Bất lợi khi thanh toán bằng hối phiếu Ngân hàng:
+ Người chuyển tiền phải ghi Nợ ngay thời điểm tờ sec được phát hành, trong khi
việc ghi Có cho người thụ hưởng phải chờ mất một thời gian nhất định.
+ Nếu người thụ hưởng không có tài khoản tại Ngân hàng trả tiền, việc xử lý tờ sec
sẽ phức tạp hơn.
+ Tờ sec có thể bị thất lạc hoặc bị đánh cắp và có thể bị lợi dụng.
+ Một số quốc gia áp dụng luật quản lý ngoại hối cấm sử dụng sec để chuyển tiền
ra nước ngoài.
+ Các Ngân hàng áp dụng mức phí cao trong xử lý sec.
b)
- Hối phiếu vô danh (Bearer Bill): Là loại hối phiếu không ghi tên người
hưởng lợi, ai cầm phiếu, người đó là người hưởng lợi. Loại này không cần kí
chuyển nhượng. Hối phiếu ghi: “trả cho ngƣời cầm phiếu”.
- Hối phiếu đích danh (Restrictive Bill): Là loại hối phiếu ghi rõ tên người
hưởng lợi, không kèm theo điều khoản “trả theo lệnh”.
* Ví dụ: Hối phiếu ghi “90 ngày kể từ ngày nhìn thấy hối phiếu này, trả cho ông
X một số tiền là…”. Hối phiếu đích danh không được chuyển nhượng.
- Hối phiếu theo lệnh (To order Bill): Là loại hối phiếu “trả theo lệnh” của
người hưởng lợi.
* Ví dụ: Hối phiếu ghi: “ ngày sau khi nhìn thấy hối phiếu này, trả theo lệnh của
ông X một số tiền là…” Hối phiếu theo lệnh được chuyển nhượng bằng hình thức
kí hậu theo luật định. Đây là loại hối phiếu được sử dụng rộng rãi trong thanh toán
quốc tế.
e) :
- Hối phiếu sử dụng trong phương thức nhờ thu: chứng từ tham chiếu là hóa
đơn thương mại và tên người nhận ký phát là tên 1 doanh nghiệp chứ không phải là
Ngân hàng.
- Hối phiếu dùng trong phương thức tín dụng chứng từ: tham chiếu chứng từ
với L/C và tên người nhận ký phát là tên Ngân hàng phát hành L/C.
f) :
- Hối phiếu chưa được ký chấp nhận: Là hối phiếu chưa được người bị ký phát
chấp nhận, khi hối phiếu chưa được ký chấp nhận người ký phát có nghĩa vụ thanh
toán cho người cầm phiếu.
- Hối phiếu đã được ký chấp nhận:
+ Chấp nhận thương mại (trade acceptance).
+ Chấp nhận Ngân hàng (bank acceptance).
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 20
+ Nếu 2 bên không có quy định gì khác thì thời hạn chấp nhận hối phiếu
được xác định theo ULB (12 tháng kể từ ngày ký phát hối phiếu)
MẪU HỐI PHIẾU ĐÃ CHẤP NHẬN
No.30/1/92 BILL OF EXCHANGE
EXCHANGE FOR USD 5,000 Singapore, 20th February
Ninety (90) days after sight of this FIRST exchange (SECOND of the same
tenor and date being unpaid). Pay to the order of the chartered bank, London
the sum of five thousand United States dollars only.
To: MITSUI Co; LTD Viettai Co. Ltd
Tokyo ( Signed)
Acceptance for USD 5,000 only
(Signed)
* Hình thức chấp nhận:
- Ký chấp nhận trên mặt trước của hối phiếu
- Chấp nhận bằng một văn thư riêng biệt
Có bốn cách ký chấp nhận:
+ Chấp nhận ngắn: người chấp nhận chỉ ghi tên đơn vị của mình và ký tên
* Ví dụ: Alice
(kí tên)
+ Chấp nhận đầy đủ: Người chấp nhận ghi số tiền đã ghi trên hối phiếu, địa điểm
thanh toán , ngày ký chấp nhận và ký tên
* Ví dụ:
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 22
Chấp nhận 1000.000 USD (acceptance for USD 100,000)
Ngày …tháng…năm…
(kí tên)
số tiền ghi trên hối phiếu mà còn đảm bảo rằng mình sẽ trả tiền hối phiếu đó cho
những người được chuyển nhượng nếu như người trả tiền từ chối thanh toán hối
phiếu đó.
* Các loại ký hậu:
Ký hậu để trắng (Blank endorsement): trong hình thức này, người chuyển
nhượng chỉ đơn giản là ký tên vào mặt sau và không chỉ định người được hưởng
quyền lợi hối phiếu.
- Với cách ký hậu này, người nào cầm hối phiếu sẽ trở thành người được hưởng lợi
hối phiếu và việc chuyển nhượng kế tiếp của người cầm phiếu này không cần phải
ký hậu nữa, chỉ cần trao tay là đủ.
- Người cầm phiếu có thể chuyển hình thức ký hậu để trắng này sang hình thức ký
hậu khác bằng cách ghi thêm câu “trả theo lệnh ông (bà) ” nếu là ký hậu theo lệnh
hoặc “chỉ trả cho ông (bà) ” nếu là ký hậu hạn chế,
Ký hậu theo lệnh (To order endorsement) hay còn gọi là ký hậu đặc biệt
(Special endorsement): Với cách ký hậu này người chuyển nhượng chỉ định một
cách suy đoán người hưởng lợi hối phiếu.
- Người ký hậu chỉ ghi câu “trả theo lệnh ông (bà) X” (Pay to order of Mr (Mrs) X)
và ký tên.
- Như vậy, người hưởng lợi hối phiếu trong trường hợp này chưa quy định rõ ràng,
cần phải suy đoán ý chí của ông (bà) X. Nếu ông (bà) X ra lệnh trả cho một người
khác thì người đó sẽ trở thành người hưởng lợi hối phiếu, nếu ông (bà) X im lặng
thì người hưởng lợi hối phiếu đương nhiên là ông X.
THANH TOÁN QUỐC TẾ GVHD: T.S PHAN NGỌC TRUNG
Nhóm 3 Page 24
- Với cách ký hậu này, hối phiếu sẽ được chuyển nhượng kế tiếp nhau đến khi nào
người hưởng lợi cuối cùng không ký hậu chuyển nhượng nữa, nhưng phải trước
khi hối phiếu đến hạn trả tiền.
Vì vậy ký hậu theo lệnh là loại ký hậu rất thông dụng trong thanh toán quốc
tế.
- Bảo lãnh có hai cách:
Nếu ghi trực tiếp trên tờ hối phiếu có hai cách: ghi mặt trước và ghi mặt sau.
Nếu ghi mặt trước, người bảo lãnh ghi:
“ Good as aval”
Kí
Nếu ghi mặt sau của hối phiếu, người bảo lãnh ghi:
“ Receipted of aval”
Kí.
- Bảo lãnh bằng một chứng thư bảo lãnh mà không ghi trực tiếp vào hối
phiếu. Cách bảo lãnh này biểu hiện bằng một thư bảo lãnh của người kí bảo lãnh
gửi cho người xin bảo lãnh. Cách bảo lãnh này còn được gọi là bảo lãnh mật.
- Sỡ dĩ có hình thức bảo lãnh này là do người trả tiền không muốn người thứ
ba biết tình hình tài chính của mình đến mức cần phải bảo lãnh, nếu sự bảo lãnh
được ghi ngay trên hối phiếu. Chỉ có một số người cần thiết có liên quan mới được
thông báo có sự bảo lãnh đó và sự bảo lãnh này có lợi ích đối với họ.
Thƣ tín dụng là một hình thức “bảo lãnh riêng biệt” đối với hối phiếu
nằm trong bộ chứng từ thanh toán của phƣơng thức tín dụng chứng từ.