tiểu luận sự năng động của văn hóa tổ chức - Pdf 13


1S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC Tiểu luận

SỰ NĂNG ĐỘNG CỦA VĂN HÓA TỔ CHỨC
Mary Jo Hatch

2S
Ự NĂNG ĐỘNG

C

Những điều không thích ứng với quan điểm quản lý về thay đổi văn hóa
chủ yếu sẽ được tìm thấy trong tài liệu về tổ chức rõ hơn ( xem Schultz,1995, or

3S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC

Hatch & Yanow, 2003, bàn luận về quan điểm một cách cụ thể trong những
nghiên cứu về tổ chức. cách thức để hiểu rõ hơn, tuy nhiên, thường có khuynh
hướng tập trung vào ý nghĩa, cảm giác, sự hình thành, và những khía cạnh mang
tính biểu tượng và nghệ thuật của văn hóa hơn thuộc tính về tính động ( xe m,
Frost, Moore, Louis, Lundberg, và Martin, 1985, 1991; Gagliardi, 1990, Jones,
Moore, và Snyder, 1988; và Turner, 1990, những thu thập về nghiên cứu văn hóa
tổ chức một cách cụ thể, hoặc Martin, 1992, khảo sát rộng rãi về tài liệu văn hóa
tổ chức). Mặc dù thay đổi không phải là chủ đề quan tâm chính cho sự rõ ràng
(cf.Gagliadi, 1986; Hatch, 1993; Schein, 1985, 1992), đôi lúc việc đề kháng với
sự thay đổi, cụ thể là trong số những người thích nghi với xu hướng mang tính
chỉ trích (vd, Collinson, 1999, Hopfl và Linstead, 1993; Jermier, 1998; Knights
và Willmott, 1993) quan điểm của phe phái phê phán văn hóa hoặc như là vật
biểu tượng được tranh cãi ( ai sẽ kiểm soát được ý nghĩ?) hoặc là công cụ được
sử dụng cho sự đấu tranh vì quyền lực và sự thống trị.
Cả nhà nghiên cứu về tổ chức với ý nghĩ chỉ trích và quản lý cho rằng đề
kháng với sự thay đổi bắt nguồn từ sự ổn định của văn hóa (hoặc theo thuật ngữ

rằng quan điểm thống nhất theo hướng quản lý đang tranh giành với những
hướng cụ thể thu hút những ranh giới tranh luận giữa những quan điểm về văn
hóa được nhấn mạnh về tính kiên định, hài hòa, nhất trí và văn hóa chủ yếu phân
chia theo văn hóa nhóm. Ranh giới tranh luận này được cũng cố bằng sự khác
nhau về quan điểm đề cập đến những phương pháp luận thích đáng và lập trường
nhận thức luận cơ bản, cụ thể những hành động tương đối của phương pháp định
tính và định lượng. Như Martin và Frost (1996, p.613) thêm vào “mỗi nghiên
cứu cẩn thận về định tính và định lượng cố gắng để phản bác cho những kết luận
thống nhất bị phản bác nhanh chóng bởi sự xác nhận rằng văn hóa có thể là sự ẩn
náo cho tính đồng nhất và tính hài hòa – nơi mà những giá trị quản lý được chia
sẻ bởi mọi người, nhiệm vụ chính của nhân viên là tìm thấy văn hóa phù hợp với
bản thân họ.
Trong khi phép ẩn dụ về trò chơi chiến tranh thu hút sự chú ý để kết thúc
cuộc tranh luận giữa những nghiên cứu về văn hóa tổ chức, bản thân nó cũng làm
xao lãng một viễn cảnh lớn hơn về sự năng động của văn hóa. Chương này sẽ
đánh dấu sự trở lại kế hoạch dường như bị mất cả về sự ổn định và thay đổi, kế
hoạch này bắt đầu bởi những nhà xã hội học cải tiến và nhà nhân loại học về văn
hóa ban đầu. Trong những trang theo sau tôi sẽ chỉ ra một loạt nhà học giả ban
đầu về sự năng động của văn hóa và tiếp bước của họ trong nghiên cứu văn hóa
tổ chức, đưa ra sự kết nối với những công trình ban đầu. Mục đích của tôi là tập
hợp sự hỗ trợ về mặt lý thuyết cho mục đích theo đuổi về giả thuyết của sự năng
động của văn hóa tổ chức đề cập đến sự ổn định và thay đổi như là kết quả hai
mặt của quá trình văn hóa.
Sự năng động của văn hóa trong xã hội tiến hóa và văn hóa nhân loại

5S
Ự NĂNG ĐỘNG

mối quan tâm của họ về quá trình thay đổi có liên quan sự thích nghi với môi
trường; họ cũng quan tâm đến quá trình thay đổi văn hóa xảy ra trong phạm vi
văn hóa. Sự khác nhau thứ hai là nhà nhân loại học về văn hóa có khuynh hướng
chỉ nhìn cách thức của sự thay đổi, nhưng không nhìn vào mối quan hệ với cách
thức của sự ổn định.

6S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC

Theo Robert Redfield (1953), những nhà nhân loại học đầu tiên đã để lại
những ấn tượng sai về văn hóa nguyên thủy thì bảo thủ, ổn định, không thay đổi.
Redfield thừa nhận những nhà nhân loại học thường khá nhạy cảm, tiếc nuối về
sự qua đi của văn hóa và hình thức của nó. Chẳng hạn, phản ứng với những bàn
luận của những nhà báo cho rằng “ sự giận dữ được cảm nhận khi tài liệu nghiên
cứu ghi nhận nhịp điệu của các điệu múa cũ bây giờ được đánh trên thùng bánh
bích quy thay vì trên một cái trống.”
Tôi đã từng xót xa cho sự đi xuống của nghệ thuật dân gian ở Mexico hay ở
Trung Quốc. Khuynh hướng này hé lộ mối quan tâm về cách thức cũ trong một
xã hội mang tính giao thoa giữa nhiều nền văn hóa được thúc đẩy bởi sự so sánh
giữa những nền văn hóa, như là hệ thống không thay đổi, là nhiệm vụ cơ bản của
những nhà nhân loại học cho đến thời gian gần đây, khi sự tiếp nhận và biến đổi
về văn hóa và những vấn đề cá nhân trở thành vấn đề cho những nhà nhân loại

hóa như thế dường như là tích cực và tại một thời điểm như thế là khía cạnh tiêu
cực. Thay đổi, đó là phải luôn luôn xem xét trong mối quan hệ sự đối kháng
chống lại với sự thay đổi.
Mặc dù những xáo trộn về sự ổn định văn hóa và sự đối kháng với thay đổi
trong giai đoạn này có lẽ giúp cho việc giải thích khoảng cách trong chò chơi về
chiến tranh văn hóa, Herkovits cũng đưa ra sự chỉ dẫn quan trọng để hiểu vì sao
sự ổn định và thay đổi là một phần của văn hóa. Như người quan sát sắc sảo, bạn
sẽ “không bao giờ thấy văn hóa biến đổi một tỉ lệ như nhau toàn bộ về phía
trước” (Herkovits 1964, p.148). Theo đó điểm mấu chốt để phá vỡ sự năng động
của văn hóa tổ chức là hiểu điều đó, tại thời điểm được đưa ra, văn hóa chỉ đang
thay đổi một phần ; phần khác vẫn ổn định.
Ý tưởng của Herkovits cho rằng văn hóa thay đổi với mức độ khác nhau “
vượt lên về phía trước” diễn tả một hình ảnh năng động của văn hóa, cái mà ông
ta mô tả ẩn dụ đầy sống động trong đoạn khác bằng việc cho rằng “ hoài bão lớn
bao gồm bất kì văn hóa nào thì biến đổi từ điều hiện tại, một s ố ở hiện tại, một số
đi nhanh hơn ( Herkovits 1964, pp. 205-206). Những khía cạnh năng động này
một phần từ công trình của Linton ( 1936) và Barnett ( 1942).
Linton mô tả những điều giống và khác nhau giữa hành vi trong phạm vi
văn hóa bằng 4 thành tố (Linton, 1936, pp.272-275) được trích dẫn trong
Herskovit 1964, p.210).
1. Những dạng phổ biến - niềm tin và dạng hành vi được xem như bất kì
thành tố bình thường nào trong xã hội ( ngôn ngữ, quần áo, nhà cửa).
2. Những dạng đặc biệt - những mặt cụ thể của hành vi được đặc trưng bởi
một nhóm người nào đó trong toàn bộ xã hội lớn hơn ( những hoạt động đặc
trưng từ sự khác biệt về giới tính, những hoạt động khác biệt của những
người điêu luyện).

8
ngoài. Do đó, chúng tôi đã tìm thấy nguồn thay đổi đóng góp đến sự đổi mới, sự
khám phá, và những điều phát minh (“ thay đổi bên trong” hoặc nguồn gốc của
sự độc lập), hoặc sự phổ biến và văn hóa vay mượn (“ thay đổi bên ngoài”).
Herskovits cho rằng những bằng chứng về nhân loại học hỗ trợ cho sự thay đổi
bên ngoài có sẵn nhiều hơn những bằng chứng hỗ trợ cho nguồn gốc của sự độc
lập bởi vì mối quan tâm của những nhà nhân loại vào thời điểm này. Một trong
những ảnh hưởng nhất về điều này là Bronislow Malinowski, mặc dù khi chúng

9S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC

ta sẽ xem bên dưới có liên hệ với công trình của Weber’s, phần lớn trong số
những gì mà Malinowski nói về sự năng động của sự thay đổi từ bên ngoài xuất
hiện để khái quát cho những điều thay đổi từ bên trong.
Malinowski là người dẫn đầu trong những nghiên cứu về quá trình của sự
phổ biến khi chúng bộc lộ qua sự tiếp xúc và thay đổi về văn hóa. Những nổ lực
của ông để mô tả và giải thích cho những gì xảy ra với văn hóa cổ xưa khi chúng
được xoay về với hiện tại được dẫn chứng trong cuốn sách về sự năng động của
sự thay đổi văn hóa vào năm 1945, trong đó ông ta viết về sự phổ biến của văn
hóa Châu Âu đến Châu Phi. Trong quyển sách này, Malinowski (1945) diễn tả
mối quan hệ văn hóa khi nó xảy ra đầu tiên từ sự ra đời của hai nền văn hóa được
đề cập đến và cho rằng sự thay đổi là kết quả của hai tác động của những điều

(1945, p.26) đưa ra tính năng động của sự bổ sung phức tạp nơi mà “hai điều này
tác động lẫn nhau” và bằng cách ấy tạo ra “ hiện tượng của sự thay đổi tự trị là
kết quả sự phản ứng của hai nền văn hóa.” Ông mô tả sự phổ biến như là sự phụ
thuộc với nền văn hóa ban đầu, nhưng không phải là tiền lệ giữa chúng. Kết quả,
ông cho rằng , là “ tính chân thực của nền văn hóa mới” phải được hiểu, không
liên quan đến nền văn hóa mẹ đẻ, nhưng như là một quá trình “ chúng tự kiểm
soát” (Malinowski,1945, p.80).
(Malinowski,1945, p.52) cũng thừa nhận sự ổn định như là sự đối lập với
những thay đổi của văn hóa, ghi chú, “ trong khi dường như dễ thay đổi một thói
quen ở mọi nơi hoặc là biến đổi một cách thức mang tính kỹ thuật, một sự thay
đổi chi tiết như thế thường làm rối sự lập ra mà không có sự sửa đổi nó, bởi vì…
niềm tin, ý kiến, và thực tế được gắn chặt vào một hệ thống lớn hơn.” Theo
Malinowski, ảnh hưởng của sự ổn định của hệ thống lớn hơn cái mà sự lập ra (
như niềm tin, ý kiến, và thực tế) được gắn chặt những giới hạn khả năng cụ thể
của hai nền văn hóa. Giới hạn này theo Malinowski, dẫn đến chỉ có ba kết quả có
thể của sự giao tiếp về văn hóa: xung đột, hợp tác, hoặc sự thỏa hiệp.
Trong mối liên hệ với sự thay thế của xung đột, hợp tác, và thỏa hiệp mà
Malinowski trở nên giáo điều và mang tính chính trị khi quan tâm thận trọng đến
thay đổi văn hóa. Ý niệm của ông về những điều đưa ra có tính chọn lọc diễn tả
những bằng chứng rõ ràng mà ông ta hiểu về vai trò của sự chi phối trong những
thay đổi về văn hóa mà ông quan sát ở Châu Phi (Malinowski,1945, p.58): “ nếu
quyền lực, sự giàu có, và những tiện nghi xã hội được đưa ra, thay đổi về văn
hóa là một quá trình dễ so sánh và bằng phẳng. Sự vắng mặt của những nhân tố
này – những điều chọn lọc được đưa ra của chúng tôi- tạo ra sự thay đổi văn hóa
như một quá trình phức tạp và khó khăn. Những ảnh hưởng thực sự cho sự đồng
hóa như thế được tìm thấy trong những lợi thế do chúng tôi đưa ra đối với việc
thừa nhận nền văn hóa…. những điều chọn lọc được đưa ra ảnh hưởng lên quá
trình thay đổi”, trong đoạn này Malinowski làm sáng tỏ sự thay đổi về văn hóa
xảy ra trong quá trình xâm nhập vào nền văn hóa khác như là sự chi phối vào


tính cách mạng trong thế giới quan và những ảnh hưởng mang tính logic của họ
về những hoạt động xã hội xảy ra trong lòng xã hội (Weber, 1968/1978, pp.241-
249). Tuy nhiên, Weber thấy rằng trong những thay đổi, những tác động của ảnh
hưởng có sức thu hút để đáp ứng những nhu cầu và mối quan tâm hằng ngày của
cuộc sống. Để giải thích về những thói quen, Weber đề nghị quá trình của việc
hệ thống hóa và sự thỏa hiệp. Với việc hệ thống hóa, “những người học trò” của
những người khởi xướng có sức thu hút liên kết và mở rộng những ảnh hưởng
của sức thu hút với cuộc sống thường ngày. Như học giả của Weber, Palph
Schroeder (1992, p.10) giải thích về nó “ tầng lớp xã hội của những người làm
sáng tỏ dựng lên hệ thống về niềm tin để thiết lập toàn bộ chặt chẽ và nguyên lý

12S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC

của nó mở rộng để ứng dụng vào những khía cạnh luôn thay đổi của cuộc sống
mỗi ngày.” Sự thỏa hiệp liên quan đến việc làm sáng tỏ và những bổ sung cho
niềm tin mới và nghĩa vụ. Những niềm tin mới và nghĩa vụ này sau đó sẽ định
hình và sửa đổi những ảnh hưởng có tính thu hút theo cách xếp ngang hàng với
những khía cạnh trần tục và giống nhau của cuộc sống hàng ngày và làm cho nó
được làm rõ lại, nhiều hay ít hơn, với những mối quan hệ đang tồn tại. Schroeder
( 1992, p10) giải thích: “ có sự thỏa hiệp về hệ thống niềm tin với mối quan tâm
của tầng lớp những người tin luôn thay đổi. Như một kết quả, nội dung của nó

Ổ CHỨC

Khái niệm về những điều chọn lọc cho thấy rằng sự thay đổi văn hóa có thể
ám chỉ định nghĩa của tình trạng này cũng như là bao gồm cả sự thống trị hay
không. Khi những người đấu tranh kháng cự cầu khẩn một hệ thống thống trị, họ
xây dựng một xã hội định hướng văn hóa thích hợp nhất để duy trì sự kháng cự
đối với sự thay đổi áp đặt. Trớ trêu thay, trong khi buộc tội những người khác về
sự thực thi bá quyền, thì chính những hành động như vậy của họ lại là bá
quyền. Mặt khác, những người lãnh đạo lại chào mời sự kháng cự như vậy, đặc
biệt khi họ thực thi những điều chọn lọc – chẳng hạn, khi họ xúc tiến các kế
hoạch trao quyền cho nhân viên, nhưng không phải vì phúc lợi cho nhân viên,
mà là để tối đa hóa sự giàu có của mình hoặc của các cổ đông. Một khi thái độ
này kết hợp với sự thu hẹp, nỗi lo mất mát sau cùng chỉ phóng đại ý thức về sự
thống trị và dập tắt đi quá trình thay đổi mà những người lãnh đạo đã rất hy vọng
để dẫn dắt. Các ví dụ rõ ràng về hiện tượng này đã được phát hiện bởi các nhà
nghiên cứu trong khi nghiên cứu các khía cạnh văn hóa của các vụ sáp nhập và
mua lại (chẳng hạn, Bastien, 1989; Mirvis và Marks, 1992).
Theo công trình mà tôi đã thực hiện về sự năng động của văn hóa (Hatch,
1993, 2000, xem thêm bảng tóm tắt ở dưới), một cách tiếp cận tốt hơn để thay
đổi văn hóa sẽ được chấp nhận và cuốn vào các quá trình năng động của nền văn
hóa của bản thân, điều chỉnh tham vọng của một người trong dòng chảy ổn định
và thay đổi mà từ đó, nền văn hóa tự bản thân nó được hình thành. Điều này liên
quan đến, có lẽ trên hết, một sự tập trung đồng thời vào những gì sẽ được bảo tồn
(và như thế nào) và những gì sẽ bị thay đổi. Chỉ thực tại hoặc tâm lý mới cản trở
sự năng động của nền văn hóa và làm suy yếu khả năng ảnh hưởng hoặc kết quả.
Trong lý thuyết về sự quen thuộc hóa quyền lực, Weber giới thiệu một quan
điểm năng động của nền văn hóa, có nghĩa là, một lý thuyết có khả năng giải
thích cả về sự ổn định lẫn thay đổi. Tuy nhiên, lý thuyết của ông dựa trên hai giả
định của các điều kiện đặc biệt và sự hiện diện của lãnh đạo có quyền lực. Các ý
tưởng của Malinowski có thể được sử dụng để mở rộng lý thuyết của Weber

ngày, hoàn toàn vô thức, khi chúng dự đoán trong phạm vi khá hẹp rằng,
một người đàn ông hay phụ nữ của một xã hội nhất định sẽ hành xử như
thế nào trong một tình huống nhất định. Dự đoán rộng hơn kiểu như, quá
trình năng động nào đó sẽ hoạt động như thế nào khi tiếp xúc với các nền
văn hóa khác, có thể được thực hiện với độ tin cậy đáng kể.

Trong phần này, chúng ta có thể thấy khuynh hướng thực chứng theo ngôn
ngữ khoa học mà Herskovits đã tham gia – ngôn ngữ của các biến, quy luật, xác
suất, và dự đoán. Nhưng thông qua vốn ngôn từ thực chứng của ông ta, chúng ta
có thể thấy Herskovits đang đề xuất một loại dự đoán đặc biệt – dự đoán vô thức
– và cùng với việc xúc tiến các quy luật của quá trình, ta có thể hình dung được
rằng, ông đã đi khá xa so với những gì mà các nhà thực chứng đã nói khi họ sử

15S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC

dụng các thuật ngữ như dự đoán và quy luật. Cụ thể hơn, với cái gọi là ''hoàn
toàn vô thức'' của mình, Herskovits đã mở cánh cửa đến với tri thức trực giác,
trong khi với cái gọi là ''quy luật của quá trình'' của mình, ông đã đẩy chúng ta
tới sự hiểu biết năng động. Trong phần tiếp theo của chương này, tôi đề cập đến
các tài liệu đã dẫn về các quá trình của sự thay đổi văn hóa và s ự ổn định và
được mô tả bởi các nhà nhân chủng học văn hóa đầu tiên và thảo luận về các đề

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC

nghi quan trọng hơn bằng cách gia tăng sự thâm nhập trong tất cả các bộ phận
của một nền văn hóa. Từ đó, trong khi các thay đổi được Bauman mô tả tăng
cường và mở rộng mối quan hệ giữa các nền văn hóa, điều này không suy ra rằng
tất cả các ranh giới sụp đổ, hoặc mất bản sắc văn hóa. Điều này cho ta một cái gì
đó đáng tìm h iểu từ các nhà nhân chủng học ban đầu, những người đã nghiên cứu
sự thay đổi văn hóa trong bối cảnh đa văn hóa, mặc dù phải thừa nhận là, chúng
ta nên tiến hành thận trọng khi xe m xét các bối cảnh khác nhau, ở đó các nền văn
hóa đương đại được xác định như hiện nay.
Trong khi xã hội đương thời không phải là bộ lạc hiểu theo nghĩa của các
nhà nhân chủng học văn hoá, các vấn đề đương đại trong nghiên cứu tổ chức cho
rằng, ít nhất một số các quá trình được khớp nối đầu tiên bởi các nhà nhân chủng
học văn hóa vẫn còn liên quan đến ngày hôm nay. Mặc dù hiếm khi đề cập đến
công trình của các nhà nhân chủng học ban đầu, song, các nhà nghiên cứu văn
hóa làm việc bên trong và giữa các nền văn hóa tổ chức đương thời vẫn mô tả
các quá trình tương tự. Sẽ có rất nhiều thông tin nếu nhìn vào những gì mà các
nhà nhân chủng học văn hóa ban đầu nói về các quá trình của sự thay đổi và ổn
định và s o sánh các ý tưởng của họ với một số nghiên cứu văn hóa tổ chức
đương thời (xem bảng 7.1).

Bảng 7.1 Các quá trình thay đổi và ổn định văn hóa
Nguồn
Các quá trình văn hóa được mô tả trong

- Bất lực, suy tàn, phân rã ( Sorokin,
1937).
- Sự hưng thịnh (Kroeber, 1944)
(Zucker, 1977)
.

- Mô phỏng sự biến đổi
(Sevon, 1996).
Bên ngoài - Chuyển tải ý tưởng (Kroeber,
1944).
- Truyền bá, liên hệ và trao đổi,
kháng cự, chọn lọc
(Malinowski, 1945).
- Giao thoa văn hóa, vay mượn có
chọn lọc, tập trung và biên dịch lại
(Herskovits, 1948, 1964)
- Cụ thể hóa ý tưởng,
phiên dịch (Czarniawska
và Joerges, 1996)
- Đàm phán, tái hiện bối
cảnh, nét nổi bật
(Brann en, 1992, 1998)
Bên trong - Hội nhập văn hóa, hội nhập văn
hóa lại (Herskovits, 1948,
1964).
- Đổi mới (Barnett, 1953; White,
1959).
- Đặc thù cá nhân (Linton, 1936)
- Xã hội hóa tổ chức
(Schein, 1971; Van

một bối cảnh nhất định – trong một xã hội, rằng ông phải đứng trên một
con đường và quay lưng của mình về phía người đã khuất để thể hiện sự
tôn trọng, thêm nữa, điều cần làm với tài sản của người đã chết là phải đốt
chúng… Tuy nhiên, ông ta cần phải liên hệ với những người khác để chắc
chắn rằng sự tôn trọng được thể hiện khi hướng về bề trên chứ không phải
bằng cách chuyển ra khỏi anh ta, sau đó thậm chí với sự lựa chọn tự do
nhất, ông ta phải vật lộn với một trong nhiều khả năng đã được đưa
ra. Nếu ông chấp nhận cách mới cho mình, ông ta có thể gặp phải sự phản
kháng. Trừ khi anh ta bị ngăn cản tiến hành các cách biểu thị sự tôn trọng
mới, sự kiên trì sẽ làm cho ông ta trở thành trung tâm mà từ đó một sự
lệch lạc có thể xảy ra từ hình thức xử phạt hành vi lịch sự được khuyến
khích lộ ra, và những người bạn của ông ta sẽ liên tục phải đối mặt với
việc lựa chọn mà ông ta đã được thực hiện.
Tuy nhiên, việc lựa chọn giữa nhiều khả năng (cùng với đặc tính và đặc
thù) thường đã là một phần của văn hóa, chẳng hạn Herskovits (1964, trang 202)
cũng đã lưu ý : ''Không phải hai người, mà ngay cả những người không có một
chút nghi ngờ về văn hóa, sẽ thực hiện cùng hoạt động, hoặc hình thành cùng
một niềm tin đã được thừa nhận, trong những điều kiện giống hệt nhau''. Theo
Herskovits (1964, trang 200) : ''Số người phản ứng với một tình huống cho trước
theo cách thức tương tự – không phải giống hệt nhau – càng lớn thì hiệu quả của
mô hình trong xã hội nó được phát hiện càng cao. Sự đồng lòng về hành vi văn

19S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA

hóa nảy sinh ra nó và kết liễu mô hình, hoặc khám phá và cản trở các cơ hội

20S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC

mới nằm trong con đường chọn lọc của nó, cho đến khi một số ít trong số
này vẫn còn, và cuối cùng là không còn cái nào cả.
Về sự suy tàn, Kroeber nói rằng :
Mô hình có thể được nói là tự nó thỏa mãn khi các cơ hội hay khả
năng của nó đã gần như không còn. Hay chính xác hơn, giá trị cực đại xảy
ra vào lúc mà toàn bộ miền các khả năng trong mô hình có thể cảm nhận
được; sự suy tàn, khi đó chỉ xảy ra trong phần nhỏ khu vực còn lại. Sau này,
phát triển có thể lặng lẽ bớt đi, kết quả đạt được được giữ lại như là các thể
chế, nhưng với các hoạt động lặp đi lặp lại thay vì phát triển; các hao mòn
chất lượng. Hoặc một lần nữa, khả năng tiềm tàng vẫn đang mạnh mẽ trong
lĩnh vực của nền văn hóa được nói đến, những giới hạn đã áp đặt chính bản
thân nó bằng cách phát triển hay đẩy mô hình lên cực đại, cảm thấy giống
như bị kìm kẹp, và có một nỗ lực phá vỡ chúng. Những nỗ lực này có thể
kết thúc trong các cuộc xung đột rời rạc mà chẳng sớm thì muộn, mức độ
đầu ra không thể phân biệt được.
Kroeber đã đánh dấu sự năng động của thời kỳ hưng thịnh của sự phát triển
và suy tàn này, mà ông định nghĩa là mô hình phát triển các hình thức văn hóa

được lặp lại y chang trong quá khứ mà không phù hợp với tri thức mới.
Kroeber đã đề xuất một thách thức thú vị cho lý thuyết tổ chức hiện đại
trong nghiên cứu xã hội học và tổ chức. Trong khi lý thuyết tổ chức cho rằng các
thể chế như các lời bào chữa cho văn hóa bảo thủ thì Kroeber vẫn cho rằng
chúng hoàn toàn chỉ do con người tạo ra. Hơn nữa, hầu hết hệ thống các tổ chức
cho rằng các thể chế duy trì, chuyển giao kiến thức và ý nghĩa từ một thế hệ đến
thế hệ tiếp theo (xem 1977 thí nghiệm về thể chế hóa các chuẩn mực là m v iệc
nhóm của Zucker), trong khi quan điểm của Kroeber cho rằng, thể chế hóa là
một quá trình mà theo đó kiến thức và ý nghĩa bị mất đi. Lý thuyết của Kroeber
làm cho các thể chế đồng lõa với sự suy tàn của các mô hình văn hóa cụ thể. Khi
quan sát các thể chế, ta nhìn vào quá khứ mà không có nhiều hy vọng khôi phục
lại ý nghĩa rằng thực hiện các mô hình văn hóa hóa thạch phát triển dù chỉ một
lần. Trong khi một kiểu quan niệm như vậy có lẽ gây ra sự bất đồng không cần
thiết, nó gợi ý cách phân biệt giữa ý nghĩa văn hóa và các thể chế (ví dụ, cấu trúc
hoặc hình thức) mà một xã hội sản sinh ra. Đó là ý nghĩa mà Kroeber đề xuất
một cái nhìn năng động của nền văn hóa, trong đó các thông lệ nào đó dịch
chuyển từ phạm vi của sự thay đổi (thời kỳ hưng thịnh) sang phạm vi của sự ổn
định (thể chế hóa).
Sevon (1996) đã thực hiện một trường hợp tốt để giải quyết căng thẳng giữa
lý thuyết tổ chức và thay đổi văn hóa. Công trình của bà ta về các quá trình mô
phỏng giữa các tổ chức đã giới thiệu lại sự biến đổi thành cuộc thảo luận về mô
hình duy trì. Trích dẫn Merton (1985), Sevon (1996, trang 66) khẳng định rằng :

22S
Ự NĂNG ĐỘNG

C

xét của Barnett rằng hình thức và ý nghĩa của các yếu tố văn hóa có thể biến đổi
một cách độc lập. Như là một quá trình, các hành vi lặp lại với một sự khác biệt
như vậy, tạo điều kiện cho việc ban hành đồng thời sự ổn định và thay đổi. Do

23S
Ự NĂNG ĐỘNG

C
ỦA
VĂN HÓA T
Ổ CHỨC

đó, các thể chế như là các hành vi khôi phục có thể thích ứng với sự thay đổi
ngay khi chúng quy định sự ổn định.
Thay đổi từ bên ngoài : Sự truyền bá, sự giao thoa và vay mượn có
chọn lọc
Các nhà nhân chủng học ban đầu đã phát hiện rất nhiều bằng chứng cho
thấy các nhóm ở gần nhau chia sẻ những đặc điểm văn hóa nhiều hơn và phức
tạp hơn so với các nhóm xa nhau về mặt địa lý. Họ thường giải thích phát hiện
này bằng cách ám chỉ đến quá trình truyền bá và giao thoa. Theo Herskovits
(1964, trang 170, tầm quan trọng của nguồn gốc), ''sự truyền bá là nghiên cứu về
sự truyền đạt văn hóa đã có được; trong khi sự giao thoa là nghiên cứu về sự
truyền đạt văn hóa trong quá trình''. Cả sự truyền bá và giao thoa bao gồm cả
hiện tượng vay mượn văn hóa.
Giống như sự biến đổi văn hóa, việc vay mượn từ các nền văn hóa khác là
một hiện tượng phổ biến. Vay mượn kết quả từ sự tiếp xúc văn hóa trong đó các
nhóm vượt trội thường chịu ảnh hưởng sâu sắc của chính phủ của những nhóm

Hai kỹ thuật xác định những gì sẽ được vay mượn có chọn lọc là sự tập
trung và s ự biên dịch lại. Theo Herskovits, những lĩnh vực đó của nền văn hóa là
trung tâm tại một thời điểm nhất định (nghĩa là, trong đó các thành phần văn hóa
nhảy vào ngay lập tức và thường tư lợi) có nhiều khả năng được chấp nhận để
vay mượn hơn là các khía cạnh không tập trung khác. Điều đó tức là, các yếu tố
bên ngoài được chấp nhận dễ dàng hơn nếu chúng nằm trong một lĩnh vực trung
tâm của nền văn hóa (có thể nói tương tự về việc chấp nhận sự đổi mới trong một
nền văn hóa). Điều này là do ''các mối quan tâm của những người tạo thành
nhóm tại một thời điểm thì thường tập trung ở một số khía cạnh của văn hóa của
họ hơn so với những người khác'' (Herskovits, 1964, trang 183). Theo Herskovits
(187), ''trong các trường hợp giao thoa mà các nền văn hóa tiếp xúc tự do, các bộ
phận trung tâm sẽ là bộ phận mà các yếu tố mới được đón nhận niềm nở nhất''.
Mary Yoko Brannen (1998, trang 12) đã đề xuất rằng, trong bối cảnh tồn tại
2 nền văn hóa song song, các nền văn hóa thay đổi thông qua sự tiếp xúc như là
kết quả của quá trình sắp xếp liên quan đến xung đột và thỏa hiệp ''bởi vì chúng
nằm trong những tình huống mà các giả định đã được xem xét kỹ''. Các quy trình
sắp xếp này liên quan đến ''việc xây dựng và tái thiết của các ý nghĩa và hành
động khác nhau của các các nhân riêng lẻ trong tổ chức''. Trong các quá trình
này, Brannen, Liker, và Fruin (1999, trang 31) đã khẳng định rằng ''chỉ có những
thuộc tính văn hóa nổi bật trong thời kỳ tiến hành việc kinh doanh của tổ chức
mới trở thành các mục ghi vào sổ để sắp xếp văn hóa''. Như vậy, cũng giống với
Herskovits, Brannen cũng đã cho rằng sự tập trung (hoặc nét nổi bật) mới điều
khiển nền văn hoá thay đổi.
Ý tưởng về sự tập trung như là một kỹ thuật điều khiển nền văn hóa thay
đổi có nhiều ý nghĩa đối với vai trò của nhà quản trị hàng đầu trong các quá trình

25S

giải thích, cùng với quá trình xảy ra trong một nền văn hóa : ''Các phản ứng
ngược lại của các cá nhân đối với mọi sự đổi mới xác định những gì sẽ được tiếp
tục và những gì sẽ không, và các hình thức trong đó quá trình biên dịch lại sẽ
định hình cho sự đổi mới. Tuy nhiên, các phản ứng ngược lại này xuất phát từ
điều kiện văn hóa của cá nhân là các tác nhân của sự thay đổi''.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status