1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
(BIÊN DỊCH TÀI LIỆU)
SÁCH: HANDBOOK OF ORGANIZATIONAL CHANGE AND INNOVATION
CHƯƠNG 10: SỰ NĂNG ĐỘNG CỦA VIỆC THAY
ĐỔI TRONG NHỮNG LĨNH VỰC TỔ CHỨC GIẢNG VIÊN: Ts. NGUYỄN HỮU LAM
Ths. TRẦN HỒNG HẢI
NHÓM 10:
1. BÙI QUỐC NAM
2. TRẦN THÁI BẢO
3.
LÊ THỊ BÍCH NGỌC
4. NGUYỄN MINH HẢI
2
CHƯƠNG 10
SỰ NĂNG ĐỘNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI
TRONG NHỮNG LĨNH VỰC TỔ CHỨC
vì sự bao hàm và tính hợp pháp của chúng. Do
đó, thay đổi thể chế là sự dịch chuyển từ một khuôn mẫu thực tiễn mang tính hợp pháp,
đã được thể chế công nhận sang một khuôn mẫu thực tiễn. Như vậy sự thay đổi thể chế
gồm các quá trình của việc khử và tái thể chế hoá. Theo Scott (2001), các lĩnh vực tổ
chức là công cụ để phổ biến và tái tạo các kỳ vọng và thực tiễn có cấu trúc mang tính xã
1
Process model – mô hình biểu thị tiến trình xẩy ra (các giai đoạn) của một sự việc
2
Institututional change
3
Organizational field – từ “ field” ở đây tạm dịch là “lĩnh vực”
4
Institutional entrepreneur- tác giả dùng từ “ doanh nhân thể chế” để mô tả những đơn vị có thể thu lợi từ thể chế đó
5
Deinstitutionalization, reinstitutionalization
6
Reproduced program
7
Taken-for-granted
3
hội. Các lĩnh vực tổ chức là “những tập hợp của các tổ chức, khi kết hợp, tạo thành một
khu vực của đời sống thể chế
8
'' (DiMaggio và Powell, 1983; trang 148) và những mô
hình tương tác này được xác định bởi các hệ thống ý nghĩa được chia sẻ với nhau (Scott,
1994).
Theo Seo và Creed (2002, trang 222), ''trong hai thập kỷ qua, các nhà lý thuyết thể
chế đã có thể cung cấp những hiểu biết nhiều hơn vào các quá trình để giải thích sự ổn
định thể chế hơn là giải thích thay đổi thể chế.“ Nghĩa là, lý thuyết thể chế đã nhấn mạnh
4
rằng, ''mặc dù nhiều công trình nghiên cứu đồ sộ về vấn đề này, nhưng đáng ngạc nhiên
khi có rất ít nghiên cứu về khái niệm và sự xác định các quá trình của thể chế hoá.''
Tương tự như vậy, Seo và Creed (2002) lập luận rằng các quá trình cung cấp sự hiểu biết
cơ bản về sự thay đổi thể chế “trong những nỗ lực gần đây thật sự là chưa đầy đủ” (trang
223). Đó là thách thức và mục tiêu của chúng tôi là sẽ cung cấp những kiến thức này
được đầy đủ hơn.
Bài viết này có giới thiệu một mô hình tuần hoàn
11
các giai đoạn của tiến trình và sự
năng động của sự thay đổi thể chế. Khi triển khai mô hình này, chúng tôi trình bày, và
mở rộng, các thảo luận và mô hình đã được trình bày bởi Greenwood, Suddaby, và
Hinings (2002). Trước khi mô tả mô hình, chúng tôi điểm lại tài liệu về sự thay đổi lĩnh
vực tổ chức. Sau đó chúng tôi phác thảo vai trò của các nguyên ảnh
12
thể chế. Tiếp theo,
là thảo luận từng giai đoạn trong 5 giai đoạn của mô hình. Cuối cùng chúng tôi sẽ rút ra
kết luận về ý nghĩa của mô hình này cho các nghiên cứu trong tương lai.
Sự thay đổi lĩnh vực tổ chức
Theo DiMaggio và Powell (1983, trang 148-149), một lĩnh vực tổ chức
13
là “những
tập hợp của các tổ chức, mà khi kết hợp, tạo thành một khu vực của đời sống thể chế; bao
gồm: các nhà cung cấp chính, người tiêu dùng sản phẩm và tài nguyên, các tổ chức điều
hành và các tổ chức khác sản xuất những dịch vụ hoặc sản phẩm tương tự.'' Theo Scott
(2001, trang 137), thì hầu hết các nhà phân tích áp dụng một định nghĩa chung chung về
lĩnh vực như một tập hợp của các tổ chức khác nhau mà có chức năng tương tự nhau.
Trong nghiên cứu trước đó của mình, Scott (1994) cho rằng mô hình tương tác giữa
những cộng đồng tổ chức được xác định thông qua hệ thống chia sẻ ý nghĩa. Hệ thống ý
nghĩa thiết lập ranh giới của các cộng đồng của các tổ chức, xác định cách hành xử của
sai biệt từ những quy ước này sẽ kích hoạt sự cố gắng điều chỉnh (nghĩa là hợp pháp hoá)
việc tách biệt khỏi các chuẩn mực
18
xã hội (Deephouse năm 1999; Elsbach năm 1994;
Lamertz và Baum, 1997; Miller và Chen, 1995), hoặc có lẽ sẽ thiết lập một loạt cấu trúc
xã hội mới và các thay đổi, chuyển đổi tiếp theo của lĩnh vực tổ chức.
Khái niệm về sự tạo dựng này đã phát hoạ quá trình từng bước trưởng thành và đặc
tả các vai trò, hành vi và tương tác của các lĩnh vực tổ chức. Nhưng ranh giới và hành vi
lại không cố định: nên sự tạo dựng không tái tạo được 1 bản sao hoàn hảo (Goodrick và
Salancik năm 1996; Ranson, Hinings, và Greenwood, 1980). Các ranh giới của các cộng
đồng tổ chức thường xuyên được xem lại, định nghĩa lại, và bảo vệ; chúng là kết quả của
sự liên tục khẳng định và sự phản bác (Greenwood, Suddaby, và Hinings, 2002).
Nói chung, các quy trình thể chế có thể hướng tới trạng thái ổn định của lĩnh vực.
Tuy nhiên, luôn có những khác biệt khi diễn giải và cần nhấn mạnh là chúng có thể sẽ
được tạm giải quyết bằng sự đồng thuận xã hội. Như vậy việc xuất hiện của sự ổn định có
thể gây nhầm lẫn (E.g. Sahlin-Andersson, 1996, trang 74) và các lĩnh vực nên được nhìn
nhận là ''không phải tĩnh, mà tiến hóa '' (Hoffman, 1999, trang 352). Đến mức độ có khi
14
Collective beliefs and values
15
Isomorphism process
16
(coercive,normative,mimetic)
17
Coded prescription
18
Social norm
6
các lĩnh vực thậm chí giống như “cuộc chiến thể chế” (trang 352). Ranh giới giữa các tổ
19
Jolts : từ này mang ý nghĩa tích cực hơn từ “Shock” (lời người dịch)
20
Interpretive schem e
7
Kikulis, Slack, và Hinings (1995) chỉ ra cách thức khuôn mẫu tổng thể của những
thực tiễn trong các tổ chức được hình thành trong cấu trúc và hệ thống của các tổ chức
đó, chúng được tạo ra bằng giá trị và những ý tưởng cốt lõi - có nghĩa là một kiểu diễn
giải (Ranson et al., 1980). Blau và McKinley (1979) phân tích các thực tiễn có cấu trúc
như là '' các kiểu làm việc điển hình
21
'' trong khi Pettigrew (1985) mô tả các thực tiễn
quản lý và tổ chức của tập đoàn ICI như “sự quy định mang tính thống trị hay niềm tin
cốt lõi”
22
. Haveman và Rao (2002) khái niệm hoá lực lượng tổ chức như “cảm tính thuộc
về đạo đức.”
23
Khi những lĩnh vực phát triển, các quá trình của cấu trúc hóa tạo ra một hình thái tổ
chức đẳng cấu, được mô tả như một kiểu diễn giải đơn nhất, những cơ cấu tổ chức, và các
hệ thống hoạt động - nghĩa là, phát triển một nguyên ảnh thể chế hợp pháp và được định
nghĩa rõ ràng. Các tổ chức trong các lĩnh vực trưởng thành chấp nhận các khuôn mẫu
nguyên ảnh được mô tả giống nhau. Khi lĩnh vực trưởng thành, nó ngày càng ổn định, và
càng trở nên được kết nối chặt chẽ hơn thông qua các cấu trúc, tương tác, và niềm tin
chung (Scott, 2001). Các tổ chức trong lĩnh vực càng trở thành giống như nhau như kết
quả của quá trình cưỡng chế, chuẩn mực, và bắt chước, nhấn mạnh vào sự chấp nhận các
nguyên ảnh đã ấn định trước (DiMaggio và Powell, 1983).
Sự tiến triển của công nghệ và các ngành công nghiệp đã được mô tả trong các khái
niệm tương tự. Sau một giai đoạn ban đầu của phát triển kỹ thuật, các “thiết kế mang tính
các quá trình này. Chúng ta sẽ xem từng giai đoạn một.
Giai đoạn I: áp lực sự thay đổi
Theo lý thuyết thể chế, tổ chức phải trở thành đẳng cấu để tồn tại cùng với những kỳ
vọng nằm trong bối cảnh của thể chế (Deephouse, 1996; Meyer và Rowan, 1977 và
Kraatz và Zajac, 1996). Bối cảnh thể chế này được tạo thành từ các bộ phận tương tác
nhau (như nhà nước, cơ quan điều hành, và các hiệp hội ngành nghề), từ các ý tưởng và
từ những kỳ vọng mang tính chuẩn mực. Nghĩa là, bối cảnh thể chế chứa bao gồm cả ý
tưởng và cả cơ chế mà qua đó ý tưởng được truyền bá và được củng cố (Scott, Ruef,
Mendel, & Caronna, 2000). Các cơ chế khác nhau còn gọi là “các con đường đa nhánh”
27
(Greve, 1996), đã được xác định như các bộ phận cài vào nhau
28
(như trường hợp của
Davis, năm 1991, Davis và Powell, năm 1991; Davis và Greve, 1997; Haveman năm
1993; Palmer, Jennings, và Zhou, 1993), các mạng lưới (Galaskiewicz, 1985; Kraatz,
1998; Gulati Westphal,, và Shortell, 1997), các cơ sở tri thức của các cơ chế này (Oakes,
Townley, và Cooper, năm 1999; Power và Laughlin, 1996), hoặc các mô hình bắt chước
(Galaskiewicz và Wasserman, 1989; Greve, 1995, 1996; Haunschild và Miner năm 1997;
Havemann, 1993). Vai trò của nhà nước và cơ quan chuyên môn trong việc kết nối và
điều tiết sự sắp xếp tổ chức cũng đã được văn bản hóa (Baum và Oliver, 1991; Davis và
Greve, 1997; Dobbin và Dowd, 1997; Kikulis và các đồng sự, 1995).
27
“Multiple routes”
28
Interlocking directorates: được tạm dịch là “sự cài vào nhau”
thay đ
ổ
i
Chức năng
Chính trị
Xã hội
II.Ngu
ồ
n
g
ố
c các
thực tiễn mới
Doanh nhân thể chế
- Nhà cải cách
- Kỹ sư
- Người tác động
Người chống đối thể
ch
ế
II
I
.
Ti
ế
n trình
ch
ế
hóa
Người thực hiện cấp
lĩnh vực có quyền lực Các phong trào xu
hướng nhất thời
10
hai là làm thế nào các “đối tượng thực hiện”
29
trong lĩnh vực diễn giãi và phản ứng với
những áp lực này và với những điều quy định mang tính cạnh tranh và thay đổi trong
những áp lực đó. Khi đó các “đối tượng thực hiện” nhận thức và phản ứng với áp lực như
là cơ hội.
Meyer, Brooks, và Goes (1990) thảo luận về hình thức mà những thay đổi bối cảnh
có thể xảy ra và họ cũng lưu ý “cú sốc”
30
làm mất sự ổn định cho các thực tiễn hiện thời.
Cú sốc có thể là hình thức biến động xã hội (e.g., Zucker, 1987), khủng hoảng công nghệ,
mất liên tục do cạnh tranh, hoặc thay đổi luật lệ (Fox-Wolfgramm, Boal, và Hunt, 1998;
Lounsbury, 2002; Powell, 1991). Chúng tác động làm nhiễu loạn sự đồng thuận trong các
cấp lĩnh vực mang cấu trúc xã hội bằng cách đưa ra những ý tưởng mới và do đó mở ra
khả năng thay đổi. Oliver (1992), trong phân tích của bà về những tiền đề của sự khử thể
chế hoá, đã hệ thống hoá các cú sốc hoặc áp lực khác nhau. Tập trung vào việc sự khử đi
các thực tiễn đã được thể chế hóa, bà gợi ý có ba loại áp lực, hay là ba tiền đề của sự khử
lợi ích và các lợi ích này thường không nhất quán và vì thế, tạo áp lực cho sự thay đổi
thể chế.
Áp lực chức năng xảy ra từ những thay đổi trong công nghệ và thị trường. Thay đổi
công nghệ có thể là kết quả của những áp lực để khử thể chế hóa những thực tiễn đặc biệt
nào đó hoặc để phân hủy các lĩnh vực. Tương tự như vậy, những thị trường cho các sản
phẩm và các dịch vụ thay đổi theo thời gian, đôi khi trong một sự hỗn loạn cực kỳ
32
, sẽ
tạo ra áp lực mạnh mẽ cho sự thay đổi trong lĩnh vực này. Đối với cả Thornton, Ocasio
(1999) và Scott với các đồng sự (2000), công nghệ mới và áp lực thị trường sẽ dẫn đến sự
khử thể chế hóa. Greenwood và Hinings (1996) và Greenwood, Hinings, và Cooper (sẽ
được đề cập sau này) chỉ ra cách thức mà trong đó sự thay đổi thị trường của những dịch
vụ chuyên nghiệp sẽ khử thể chế hóa lĩnh vực và hỗ trợ cho sự hình thành những nguyên
ảnh mới. Davis, Diekmann, và Tinsley (1994) lập luận rằng sự khử thể chế hóa của
những công ty có nhiều chi nhánh
33
trong Fortune 500
34
đã xảy ra thông qua một loạt các
quy trình khác nhau bao gồm cả áp lực kinh tế / thị trường. D'Aunno và đồng sự (2000)
chỉ ra các nhân tố của tính tương đồng về địa lý đối với đối thủ cạnh tranh và những bất
lợi về cạnh tranh trong sản phẩm và dịch vụ hỗn hợp tạo ra những thay đổi tổ chức khác
nhau. Thornton (2002) mô tả phương cách mà thị trường tư bản sản sinh ra chuỗi lý luận
31
Rhetoric of crisis – tạm dịch là: “ các hình thức đặc trưng của sự khủng hoảng”
32
Hyperturbulent
33
Multidivisional
chính khi các “đơn vị thực hiện” thay đổi quan điểm của họ về sự tham gia trong lĩnh
vực. Greenwood và các đồng sự (2002) thảo luận làm thế nào để những quan điểm mới
của những đơn vị có vị thế độc quyền của những ngành nghề đã làm biến đổi lĩnh vực tổ
chức của các công ty kế toán. Haveman và Rao (1997) chỉ ra các thay đổi bản chất của xã
hội Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ XIX- và đầu thế kỷ XX, đã làm thay đổi những khái niệm về
sự tiết kiệm. Denis, Lamothe, Langley, và Valette (1999) cho rằng những áp lực xã hội
35
Instituitional logic – từ logic ở đây được tạm dịch là “lý luận”,”lập luận”
36
Profesional logic and Market logic – nhắc lại từ logic ở đây được tạm dịch là “lý luận”,”lập luận”
37
Market feedback
38
Partner-associate model
13
đã tạo ra sự thay đổi của hệ tư tưởng từ hệ thống “người cung cấp là chủ đạo”
39
đến hệ
thống ''đám đông là chủ đạo''
40
trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Những tư tưởng trước
đây đều nhấn mạnh về sự tự chủ trong tổ chức và có tính chuyên nghiệp, và sau đó chú
trọng đến những dịch vụ dựa trên cơ sở cộng đồng, thiết kế hệ thống tích hợp, quản lý
địa phương, kiểm soát công dân kiểu dân chủ. Do đó ''có một sự thỏa thuận mang phạm
vi rộng giữa những chính sách khiến các dịch vụ y tế không còn được tổ chức như là một
tập hợp của sự kết hợp lỏng lẽo các nhà cung cấp tự trị mà trở thành một hệ thống tích
hợp có khả năng cung cấp sự chăm sóc liên tục vượt qua những ranh giới tổ chức và
nghiệp vụ để nhằm phục vụ đám đông” (trang 107). Hệ tư tưởng mới về chăm sóc sức
khỏe này đã gắn kết với những sự thay đổi cấu trúc nguyên ảnh cần thiết cho sự hợp tác
lĩnh vực? Giai đoạn II của hình số 10.1 cho thấy rằng các doanh nhân thể chế là một
nguồn gốc để hình thành các thực tiễn thay thế. Như vậy các doanh nhân có thể là những
“đơn vị thực hiện” trong lĩnh vực , hoặc những người mới tham gia vào từ bên ngoài lĩnh
vực của tổ chức.
DiMaggio (1988) xác định "doanh nhân thể chế" như một yếu tố quan trọng trong
sự năng động của thay đổi thể chế. Ông ấy đã đề nghị các thể chế mới phát sinh khi
"những “đơn vị thực hiện” được tổ chức với nguồn lực đầy đủ để nhìn thấy bên trong các
thể chế mới có một cơ hội để thực hiện những lợi ích mà họ đánh giá cao" (trang 14). Các
“đơn vị thực hiện” này hành động theo cách doanh nhân
41
để chuyển đổi các hình thức
thể chế và thực tiễn để làm lợi riêng cho chính các đơn vị này. Đối với DiMaggio, hành
động đó quan trọng đối với quá trình mà theo đó các tổ chức mới được thành lập.Ví dụ:
DiMaggio (1991) chỉ ra vai trò của các chuyên gia nghệ thuật trong việc định hình lại
lĩnh vực của các bảo tàng nghệ thuật; Thornton (1995) đã xác định các tập đoàn lớn
42
,
bên ngoài lĩnh vực, như những “đơn vị thực hiện” có ý nghĩa trong việc làm thay đổi xu
hướng trong ngành công nghiệp xuất bản; Leblebici và các đồng sự. (1991) mô tả những
đổi mới quan trọng của những “đơn vị tham gia” nhỏ trong việc khởi tạo sự thay đổi cấp
lĩnh vực trong ngành công nghiệp phát thanh.
Kể từ khi có các công trình ban đầu của DiMaggio, đã có những nỗ lực khác để
minh họa và làm rõ các khái niệm này (Dorado, 1999; Garud và các đồng sự., 2002;
Lawrence, 1999; Sunddaby, 2001). Một sự phân loại đặc biệt có ích được cung cấp bởi
Dorado (1999), ông lập luận rằng có ba loại hình doanh nhân thể chế: những người cải
41
Entrepreneurially
42
Conglomerate
(1991), Galaskiewicz (1991), fligstein (1997) và Greenwood với các đồng sự (2002).
Các kỹ sư cũng được nhận ra trong lĩnh vực thể chế là rất quan trọng với sự hợp
pháp hóa cuối cùng của đổi mới một khi được đưa ra. Họ là những người gác cổng
47
có
quyền lực mạnh ảnh hưởng đến dòng nguồn lực trong lĩnh vực. Vì vậy, quyền lực của họ
43
Innovator
44
Catalyst
45
Marginalized actor
46
Multidisciplinary
47
Gatekeeper
16
có thể định hướng và kiểm soát nội dung của những cuộc đàm luận và tranh cãi. Trong
nghiên cứu của DiMaggio (1991) về bảo tàng nghệ thuật, những người ảnh hưởng đến
văn hóa và xã hội cũng là những kỹ sư. Suddaby (2001), trong nghiên cứu của mình về
nghề nghiệp pháp lý, xác định một số “đơn vị thực hiện” trong sự hình thành các công ty
đa lĩnh vực
48
trong ngành luật pháp, bao gồm cả Ủy ban Chứng khoán Mỹ vì nó đã cố
gắng cơ cấu lại hệ thống quy tắc để bảo vệ ranh giới cũ giữa các ngành nghề của pháp
luật, kiểm toán, tư vấn quản lý. Các viện nghiên cứu pháp lý cũng đã có một chức năng
“kỹ thuật ”
49
quan trọng, khi họ tổ chức việc chứng nhận với Hiệp Hội Luật Sư Mỹ
51
Exogeneous shock
52
Regional health authorities
17
trúc xung quanh những phân phối tích hợp các dịch vụ, lập kế hoạch kinh doanh, và một
sự lý luận thể chế nhấn mạnh về năng suất và hiệu quả. Những thay đổi điều lệ có thể có
ảnh hưởng tương tự, điều này được trình bày trong hoạt động của SEC
53
tại Hoa Kỳ, buộc
“năm công ty kế toán hàng đầu”
54
tự gạt bỏ những hoạt động thực tiễn về tư vấn của họ,
và như vậy sẽ cơ cấu lại lĩnh vực tổ chức dịch vụ kinh doanh và giới thiệu những “người
tham gia” mới. Có một kết quả quan trọng là sự hình thành các công ty trách nhiệm hữu
hạn hoạt động tư vấn về tài sản nợ có trách nhiệm chính đối với các cổ đông, có vẽ như
chống lại sự kết hợp cũng như nền tảng của sự kết hợp giữa các đối tác và khách hàng.
Một lần nữa, những hình thức tổ chức và thực tiễn mới đã xuất hiện với mức độ hợp pháp
cao từ bởi SEC
55
.
Những áp lực chức năng trở nên quan trọng trong việc khử thể chế hóa của lĩnh vực
tổ chức, đặc biệt thông qua những thay đổi trong thị trường. Quả thật, đã có sự tương tác
đáng kể giữa các áp lực chính trị và áp lực chức năng trong nhiều lĩnh vực trong hai thập
kỷ qua như là các chính phủ tập trung quyền lực
56
đã đưa ra ngày càng nhiều việc bãi bỏ
các quy định với mục đích tạo sức cạnh tranh lớn hơn. Điều này liên quan đến việc thay
đổi các “đơn vị thực hiện” trong một lĩnh vực , đưa ra những đơn vị mới, và chuyển đổi
những đơn vị hiện hữu, điều này được mô tả bởi Scott và cộng sự (2000) trong hệ thống
nguyên ảnh tổ chức mới nhằm phân phối dịch vụ chăm sóc sức khỏe với hoạt động hoàn
toàn khác các hình thức tổ chức y tế chuyên nghiệp. Scott và đồng sự (2000) chỉ rõ một
quá trình liên tục trong 60 năm qua của ba
lý luận thể chế chủ đạo khác nhau: y tế, chính
phủ, và thị trường, mỗi lý luận đại diện cho các bộ giá trị xã hội khác nhau về bản chất
của sự chăm sóc sức khỏe.
Những “đơn vị thực hiện” mới đưa ra những ý tưởng mới và cách thức mới làm việc
vào trong lĩnh vực tổ chức. Dĩ nhiên "cái mới" có hai nghĩa. Các áp lực mang tính chính
trị, chức năng, xã hội có thể hoặc cho phép các “đơn vị thực hiện” đã được thiết lập từ
các lĩnh vực khác xâm nhập vào (như trong ví dụ ngành công nghiệp xuất bản của
Thornton), hoặc họ có thể tạo ra các “đơn vị thực hiện” mới hoàn toàn. Cả hai điều này
có thể xảy ra cùng một lúc. Như trong lĩnh vực tư vấn công nghệ, từng được xem như là
tiên phong (Greenwood và các đồng sự., 2002). Hoặc ngành Công Nghệ Thông Tin (IT)
59
ngày càng trở thành một phần của hoạt động kinh doanh, đã có sự hội tụ lại với nhau, nói
theo cách khác, các công ty tư vấn quản lý khác như Cap Gemini Ernst và Young đã di
chuyển mạnh mẽ vào công việc Công Nghệ Thông Tin, mặt khác, các công ty Công Nghệ
Thông Tin như IBM đã trở thành những công ty tư vấn. Kết quả là một sự chuyển đổi của
lĩnh vực này khi các loại tổ chức riêng biệt trước đó bắt đầu cạnh tranh với nhau. Và hình
thức doanh nghiệp nổi trội xuất hiện là sự cung cấp dịch vụ tư vấn kết hợp Công Nghệ
Thông Tin. Trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đã có nhiều quá trình hình thành những
“đơn vị thực hiện” mới hoàn toàn, như HMO và hội đồng phụ trách sức khỏe khu vực
58
HMO (Health Maintenance O rganization)
59
IT (Information Technology)
19
60
“Peripheral”
61
Institutional Entrepreneur - đã được dịch là “ doanh nhân thể chế” suốt chương n ày, ở phần này được tác gi ả giải
thích rõ hơn ý nghĩa sử dụng của nó.
20
đồng sự, có một "sự đồng thuận mới xuất hiện" bao gồm ba yếu tố có tầm quan trọng khi
phân tích các phong trào xã hội: "cơ hội chính trị," "sự huy động cơ cấu" và "sự tạo
khung quy trình" (vấn đề này sẽ được nói đến nhiều hơn sau này). Những cơ hội chính
trị, theo ghi chú McAdam (1996, trang 23), đang sinh ra "người nổi dậy có đủ điều kiện
bằng cách chuyển dịch cấu trúc thể chế và bố trí lại các hệ tư tưởng đang thống trị" (điểm
nhấn mạnh này được thêm vào).
Lý thuyết phong trào xã hội bổ sung cho lý thuyết thể chế bởi vì nó nhắc nhở chúng
ta rằng không phải tất cả các “đơn vị thực hiện” trong lĩnh vực đều có đặc quyền như
nhau qua các thực tiễn thể chế hiện hành và có thể đối đầu với các thực tiễn này.Trong ý
nghĩa này, các “đơn vị thực hiện” tập hợp các “đơn vị tham gia” nằm ngoài rìa đã được
đề cập trước đó. Nhưng phải hiểu là chúng khác nhau. Doanh nghiệp thể chế như được
mô tả bởi những nhà thể chế
62
được thúc đẩy bởi vấn đề kỹ thuật là chủ yếu, đó chính là,
các thực tiễn hiện hành không thành công trong việc đối phó với những thách thức và
trong một số trường hợp của lĩnh vực thì những lựa chọn thay thế lại được xem là hiệu
quả hơn. Thật vậy, từ ngữ của "doanh nhân" nhằm để vay mượn ý nghĩa trong sự miêu tả
chân dung của từ đó
63
. Nhưng một số sự thay đổi được đấu tranh vì lý do chính trị, khi
các nhóm tìm cách vượt qua bất lợi của họ và có được uy thế và đặc quyền. Những chủ
thể thay đổi
64
, sự hợp pháp hóa
67
và sự phổ biến
68
. Lý thuyết hóa là sự phát triển và đặc tả các
phạm trù trừu tượng và tạo ra các chuỗi nhân quả; điều đó có nghĩa là nó bao gồm cả việc
xây dựng một mô hình cho các hình thức tổ chức và thực tiễn mới làm việc và cung cấp
một sự điều chỉnh để thích hợp cho cả hiện tại và tương lai (Strang và Meyer,1993 trang
492). Sự hợp pháp hóa là tiến trình liên kết các ý tưởng mới, các hình thức và thực tiễn
cho các tập hợp của giá trị và lý luận được duy trì bởi sự kính trọng bởi các “đơn vị thực
hiện” trong lĩnh vực và bối cảnh xã hội chung quanh. Các hình thức tổ chức mới sẽ
không đạt tới tình trạng nguyên ảnh “được thừa nhận một cách đương nhiên”
69
trừ khi
chúng được chấp nhận như là pháp chế. Sự phổ biến lan truyền nguyên ảnh mới trong
lĩnh vực, qua cơ chế của sự ép buộc, chuẩn mực, các đẳng cấu sao chép nhau
70
Lý thuyết hóa
Lý thuyết hóa bao gồm một tiến trình của sự trừu tượng hóa (Abbott 1988), lấy các
đặc trưng, thiết lập trường hợp cục bộ của các ý tưởng mới và tổng quát hóa chúng cho
những bối cảnh khác nhau. Trong những giai đoạn trước, giai đoạn II, các thực tiễn mới
được cục bộ hóa một cách cơ bản.Có nghĩa là, các tổ chức đặc thù tiến hành thực nghiệm
65
“Big Five”
66
Theorization
67
Legitimation
cấu trúc của sự hợp pháp cho các hình thức tổ chức mới trong sự thay đổi thể chế không
đẳng cấu. Holm (1995) trong nghiên cứu của ông ta về việc đánh cá của người Na Uy đã
nhận định trạng thái như là các “đơn vị thực hiện” quan trọng
73
trong việc hợp pháp hóa
sự cải tổ. Trong nghiên cứu của mình, Holm xử lý việc dịch chuyển các hệ tư tưởng, cấu
trúc xã hội và quyền lực ở các cấp khác nhau, điều đó tạo ra kết quả là thay thế các pháp
chế hiện hữu bằng cái mới. Leblebici với một số công trình (1991) cho rằng sự hợp pháp
hóa xảy ra khi sự đổi mới khiến cho những “đơn vị tham gia” cực đoan được chấp nhận
71
Audience - ở đây tạm dịch là “đối tượng thụ hưởng”
72
Institutional imperative
73
Critical actor.Ở đây từ actor được lặp lại nhiều lần trong b ài viết,có thể tạm dịch là ““ đơn vị thực hiện”, “đơn vị
tham gia”
23
bởi những “đơn vị thực hiện” đã được thiết lập. DiMaggio (1991) qua sự quan sát cho
thấy sự hợp pháp của một dạng mới của bảo tàng đã trao quyền cho các phong trào cải
cách bảo tàng, và như vậy là cho phép sự khử tính hợp pháp của các hình thức đang tồn
tại. Những quan sát này chọn những nghiên cứu của sự thay đổi thể chế xác định sự hợp
pháp như là điều cốt yếu cho sự thiết lập các dạng mới của việc tổ chức (Scott 2001).
Sự thay đổi thể chế bao gồm những đoan quyết với sự hợp pháp có cơ sở rộng rãi
đã được tạo ra cho sự đa dạng của các đối tượng thụ hưởng bằng cách liên kết sự thay đổi
trong các thực tiễn nguyên ảnh đến các giá trị xã hội rộng hơn. Bài thuyết trình về sự hợp
pháp (hay lời tuyên bố ăn khớp ) ăn khớp với giá trị và thuộc tính của các ý tưởng mới,
hình thức , và các thực tiễn cho những điều được giữ trong xã hội ở mức rộng, có nghĩa là
những giá trị rộng hơn nằm ngoài lĩnh vực tổ chức riêng biệt. Sự thay đổi thể chế thì
được tổ chức ban đầu quanh những bàn cãi về sự thích hợp của các hình thức tổ chức đặc
. Giai đoạn 2 (là giai đoạn III của chúng ta) có một sự
dâng cao xu thế đẳng cấu sao chép nhau theo sau sự lý thuyết hóa và sự pháp chế hóa cúa
các hình thức tổ chức mới. Tương tự như vậy, Lee và Pennings(2002) cho rằng sự gia
tăng kiến thức sẽ là tính cạnh tranh và các quy trình thuộc thể chế tương tác với nhau
trong sự sản xuất sẽ hội tụ về mặt cấu trúc. Khuôn mẫu của mô hình liên kết các thành
phần
78
được chấp nhận trong các công ty luật nhận được sự hợp pháp qua sự hồi tiếp của
thị trường, đã chứng thực hành vi ( và như vậy là hợp pháp) của việc chấp nhận các công
ty. Sau đó đã có một sự khuếch đại của sự truyền bá qua sự gia tăng tính hợp pháp của
hình thức mới.
Westphal với các đồng sự (1997) đã khẳng định và mở rộng mô hình của Tolbert
và Zucker. Họ xem xét sự chấp nhận ở các bệnh viện về các thực tiễn quản lý chất lượng
toàn phần (TQM)
79
và đã nhận thấy có những đơn vị sớm chấp nhận
80
các thực tiễn tối ưu
hóa của TQM, nhằm nâng cao hiệu quả. Đối với những đơn vị chấp nhận trễ hơn thì
ngược lại, chấp nhận các thực tiễn TQM tổng quát nhiều hơn, ngay cả mặc dầu sự chấp
nhận có tuần tự ngược lại với sự thực hiện của bệnh viện. Westphal và các đồng sự kết
luận rằng những đơn vị chấp nhận trễ theo đuổi sự hợp pháp vì áp lực chuẩn mực bất kể
tuần tự thực hiện.
Greenwood và Hinning (1996) gợi ý rằng những cơ chế này của sự truyền bá thay
đổi qua các lĩnh vực thuộc về thể chế. Đây là phần định nghĩa của một lĩnh vực tổ chức
74
Field level
75
Municipal reform
những cơ chế.
Dĩ nhiên, có những lĩnh vực tổ chức trong tất cả quốc gia là những chủ đề quan
trọng cho pháp chế và luật lệ và khi đó sự thay đổi về chất
84
có thể xẩy ra cực nhanh
85
.
Dobbin (2000),Dobbin và Dowd (1997) phân tích làm thế nào những chế độ chính sách
khác nhau - sự huy động vốn từ công chúng, ủng hộ các liên minh
86
,chống lại tập đoàn
87
– của những năm 1825 -1992 đã ảnh hưởng đến sự thành lập và hình thành hệ thống
đường sắt ở Massachusetts. Hinings và Greenwood(1988) đã chỉ ra cách thức mà các lĩnh
vực của chính quyền địa phương ở Anh đã được chuyển đổi bằng sự sinh ra pháp chế từ
sự kết hợp của các áp lực chức năng, xã hội và chính trị trong hệ thống. Vào thời điểm
1/4/1974 khoảng chừng 1300 tổ chức đã trở thành 430 tổ chức với sự phân bố chủ yếu lại
công việc, biên giới địa lý, thay đổi mối quan hệ, tất cả đều dựa vào một tập hợp khác về
81
multidisciplinary
82
Permeable field
83
“Framing contest”
84
Transformational change
85
“At a stroke” tạm dịch là “ cực nhanh ”