ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN VÀ THUẾ
I/Lý luận chung về các ước tính kế toán
1.Khái niệm về các ước tính kế toán
Theo VAS 29 thì ước tính kế toán được khái niệm: “Là một quá trình xét
đoán dựa trên những thông tin tin cậy nhất và mới nhất tại thời điểm đó.”
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 540: " Ước tính kế toán là một
giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến báo cáo tài chính được ước
tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác
hoặc chưa có phương pháp tính chính xác hơn hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa
phát sinh nhưng đã được ước tính để lập báo cáo tài chính".
Các ước tính kế toán đánh gía ảnh hưởng của các nghiệp vụ kinh doanh
hoặc các sự kiện trước đây hoặc tình hình tài sản công nợ hiện tại của công ty.
Những đánh giá này thường không chính xác tuỳ thuộc vào kết quả của các sự
kiện trong tương lai hoặc vì dữ liệu thích hợp liên quan đến các sự kiện đã phát
sinh nhưng không thể cộng dồn kịp thời hoặc việc thu thập các dữ liệu này quá
tốn kém.
2. Bản chất các ước tính kế toán.
Về bản chất, ước tính kế toán là các yếu tố trên BCTC gồm tài sản, nợ phải
trả, thu nhập, chi phí. Tuy nhiên, giá trị các yếu tố này chỉ là các giá trị ước
tính gần đúng do không có giá trị chính xác hoặc không có các phương pháp
xác định chính xác.
Ước tính kế toán là giá trị xấp xỉ của một khoản mục trong báo cáo tài
chính, chưa có biện pháp đánh giá chính xác.
Việc lập một ước tính kế toán có thể đơn giản hoặc phức tạp tuỳ theo tính
chất của các chỉ tiêu. Các ước tính kế toán có thể được lập một cách thường
xuyên hoặc được lập vào cuối kì kế toán. Trong nhiều trường hợp, ước tính kế
toán được lập trên cơ sở kinh nghiệm thực tế như: Sử dụng định mức chi phí
trên doanh thu bán hàng để ước tính chi phí bảo hành
Trong một số trường hợp, các ước tính không thể được lập một cách hợp lí
do thiếu thông tin khách quan hoặc do mức độ không chắc chắn của một số yếu
tố
liệu về mối liên hệ giữa các khoản mục trên báo cáo tài chính (ví dụ mối tương
quan giữa doanh thu và nợ phải thu khó đòi, mối quan hệ giữa doanh thu với
chi phí bảo hành sản phẩm) hoặc căn cứ vào các kế hoạch, dự toán để ước tính
các khoản trích trước, các khoản dự phòng phải trả. Cho dù các DN xác định
các ước tính kế toán theo phương pháp nào, mức độ hợp lý và đáng tin cậy của
các ước tính kế toán phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu và thông tin thu thập
được tại thời điểm lập ước tính.
III/ Sự cần thiết phải có các ước tính kế toán
Để đưa ra các ước tính kế toán, người lập BCTC phải sử dụng các “xét
đoán nghề nghiệp”. Vì là các xét đoán nên mang nặng tính chủ quan, khó có
một tiêu chuẩn nào để đánh giá tính hợp lý cả, đây là lí do làm giảm độ tin cậy
của các thông tin tài chính. Rõ ràng nguy cơ sử dụng các ước tính kế toán để
phản ánh sai lệch thông tin tài chính là có thực nhưng việc sử dụng các ước
tính kế toán trong BCTC không những không bị loại bỏ mà còn có chiều hướng
ngày càng gia tăng cho thấy các ước tính kế toán có những mặt cần thiết
1. Việc loại bỏ hoàn toàn các ước tính chủ quan là không khả thi và
thiếu hiệu quả kinh tế.
Thử tưởng tượng nếu chúng ta không cho phép các doanh nghiệp được tự
xác định tỷ lệ khấu hao tài sản của mình. Khi đó chế độ kế toán sẽ phải cực kỳ
chi tiết, liệt kê tất cả các tình huống có thể và xác định tỷ lệ khấu hao tương
ứng để các doanh nghiệp theo đó mà áp dụng. Điều này là không khả thi cả về
mặt kinh tế lẫn kỹ thuật. Giả sử về mặt kỹ thuật ta có thể xây dựng được một
chế độ kế toán chi tiết như vậy thì các doanh nghiệp cũng gặp rất nhiều khó
khăn trong việc áp dụng. Tình hình kinh doanh thay đổi theo từng ngày, các
doanh nghiệp sẽ phải luôn đối chiếu với những quy định chi tiết trong luật để
thay đổi tỷ lệ khấu hao cho kịp thời. Các cơ quan hành pháp cũng sẽ rất vất vả
để bảo đảm các doanh nghiệp tuân thủ đúng chế độ (luật phức tạp như vậy mà
không có hệ thống hành pháp tốt thì chắc chắn sẽ không doanh nghiệp nào tuân
theo). Mới chỉ có khấu hao tài sản mà đã phức tạp như vậy, nếu xây dựng một
hệ thống luật chi tiết cho tất cả các khoản mục khác trên BCTC thì rõ ràng là
hưởng này, BCTC của doanh nghiệp cần cung cấp những thông tin phù hợp để
cổ đông có thể đánh giá chính xác hơn giá trị doanh nghiệp. Việc cho phép các
nhà quản lý sử dụng những xét đoán nghề nghiệp một cách linh hoạt sẽ giúp
cho thông tin BCTC đáp ứng tốt hơn yêu cầu này (báo cáo theo GAAP không
phải khi nào cũng phản ánh hợp lý các thông tin tài chính của doanh nghiệp).
Lợi ích chính của việc cho phép sử dụng các ước tính trong BCTC là ở chỗ
giúp cho doanh nghiệp có thể cung cấp nhưng thông tin cần thiết về triển vọng
phát triển đồng thời tránh phải tiết lộ những thông tin chi tiết không có lợi cho
việc cạnh tranh trên thị trường. Ví dụ, việc vốn hóa khoản đầu tư vào một dự
án mới là một cách để doanh nghiệp thông báo với cổ đông rằng lãnh đạo
doanh nghiệp tin tưởng vào khả năng thành công của dự án, thay vì phải tổ
chức họp báo công bố chi tiết về dự án đó, vừa tốn kém mà lại dễ lộ những
thông tin nhạy cảm. Trên thực tế các doanh nghiệp đã và đang khai thác triệt
để sự linh hoạt trong chế độ kế toán để tăng cường hiệu quả trong quan hệ với
nhà đầu tư (IR)
3. Nếu cả bên lập BCTC và bên sử dụng BCTC đều ý thức rõ về sự tồn
tại của các xét đoán chủ quan trong lập BCTC thì họ sẽ tính tới yếu tố này
trong các thoả thuận để có được một hợp đồng tối ưu
4. Ngay cả khi có thể xây dựng một chế độ kế toán chi tiết đến mức
không còn có chỗ cho xét đoán chủ quan nữa, thì điều đó cũng không bảo
đảm sẽ không có kẽ hở nếu người ta cố tình tìm cách “lách luật”.
Tóm lại, việc cho phép doanh nghiệp sử dụng các xét đoán chủ quan trong
việc lập BCTC không phải là một giải pháp hoàn hảo để nâng cao chất lượng
thông tin tài chính. Vẫn còn đó những quan ngại về độ tin cậy của thông tin
được đưa ra bởi những người trực tiếp bị ảnh hưởng bởi thông tin đó. Tuy
nhiên, giải pháp loại bỏ hoàn toàn yếu tố xét đoán chủ quan của các doanh
nghiệp trong lập BCTC sẽ không giải quyết được vấn đề. Giải pháp khả thi hơn
có lẽ là nâng cao vai trò kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ, hội đồng quản
trị.
IV/ Các rủi ro tiềm tàng đối với các ước tính kế toán
cực, nợ xấu khó đòi tăng nhanh, hàng tồn kho chậm luân chuyển, thị trường
chứngkhoán giảm giá nguy cơ các doanh nghiệp bỏ qua hoặc xác định một
cách khôngphù hợp các ước tính kế toán có thể dẫn đến Báo cáo tài chính phản
ánh không trung thực và hợp lý tình hình tài chính và kinh doanh của doanh
nghiệp. Đặc biệt đối với thuế: chưa ghi nhận tài sản thuế TNDN hoãn lại tương
ứng với các khoản lỗ. Chuẩn mực kế toán Việt nam số 17 - Thuế TNDN quy
định tài sản thuế TNDN hoãn lại phát sinh trên cơ sở khoản lỗ của năm hiện tại
nếu khoản lỗ này được chuyển sang các nămsau để trừ vào thu nhập chịu thuế
các năm sau. Với những khó khăn trong kinhdoanh một số năm vừa qua ở Việt
Nam,nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ và được phép chuyển lỗ theo chính sách
thuế TNDN hiện hành. Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp xem xét ghi nhận tài sản
Thuế TNDN theo quy định hiện hành.
• Ước tính kế toán thường liên quan đến việc ghi nhận các yếu tố chi phí
và thu nhập trên báo cáo kết quả kinh doanh và có thể ảnh hưởng đến thuế
TNDN đối với ngân sách nhà nước. Do vậy, vấn đề chấp nhận hay không các
khoản thu nhập và chi phí phát sinh trên cơ sở các ước tính kế toán theo góc độ
tính thuế TNDN luôn được đặt ra. Theo luật thuế TNDN và các văn bản hướng
dẫn, về cơ bản các quy định về thuế TNDN thừa nhận các khoản chi phí và thu
nhập phát sinh trên cơ sở các ước tính kế toán như: chi phí khấu hao TSCĐ,
chi phí trích trước về bản hành sản phẩm, chi phí liên quan đến các khoản dự
phòng giảm gia hàng tồn kho, dự phòng đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu
khó đòi…Tuy nhiên, so với các quy định của chuẩn mực kế toán, một số khoản
ước tính kế toán không được xem xét cho mục đích tính thuế TNDN như:
khoản doanh thu DN tự xác định theo hợp đồng xây dựng thanh toán theo tiến
độ kế hoạch, các khoản dự phòng tái cơ cấu DN, dự phòng tổn thất của các hợp
đồng lớn có rủi ro…
Để được xác định là chi phí cho mục đích tính thuế TNDN, các khoản
phát sinh trên cơ sở ước tính kế toán thường phải tuân thủ theo quy định mang
tính định lượng. Theo đó, khấu hao TSCĐ được tính là chi phí hợp lý, nếu
TSCĐ được khấu hao phù hợp với khung quy định về thời gian khấu hao ban
Các khoản không đủ căn cứ xác định là nợ phải thu theo quy định này
phải xử lý như một khoản tổn thất.
- Có đủ căn cứ xác định là khoản nợ phải thu khó đòi:
+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế
ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác.
+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế (các
công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng ) đã lâm vào tình
trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang
bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã
chết.”
Như vậy, có thể nhận thấy, việc sử dụng các ước tính kế toán cho mục
đích tính thuế TNDN có sự khác biệt nhất định so với các quy định liên quan
của chuẩn mực và chế độ kế toán. Sự khác biệt này chủ yếu là do mục tiêu
hướng tới khi xây dựng chế độ kế toán và chính sách thuế có những điểm khác
nhau. Trong khi hệ thống kế toán hướng đến các quy định mang tính trung lập,
phục vụ lợi ích của đa số người sử dụng thông tin tài chính giúp ban điều hành
thực hiện công tác giám sát và quản trị DN, còn hệ thống thuế luôn gắn với
chức năng điều tiết kinh tế và đảm bảo nguồn thu của ngân sách nhà nước. Vì
vậy, các quy định sử dụng ước tính kế toán cho mục đích tính thuế luôn có xu
hướng chặt chẽ và thận trọng hơn.
VI/ Thực trạng sử dụng các ước tính kế toán hiện nay ở VN
Thực trạng Nguyên nhân
Bỏ qua hoặc thực hiện
không đầy đủ các khoản dự
phòng tổn thất tài sản gồm dự
phòng giảm giá hàng tồn kho,
dự phòng nợ phải thu khó đòi,
dự phòng giảm giá đầu tư
chứng khoán.
thị trường rất phong phú. Tuy nhiên, hiện
tại hệ thống thị trường giao dịch tập trung
của Việt Nam còn chưa hình thành một
cách đồng bộ. Cơ sở dữ liệu và thông tin
chính thống về thị trường hàng hóa, dịch
vụ, TTTC còn rất hạn chế. Điều đó gây khá
nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong
việc xem xét ghi nhận và xác định các ước
tính kế toán.
Không ghi nhận các
khoản dự phòng phải trả một
cách phù hợp
Chưa ghi nhận tài sản
thuế TNDN hoãn lại tương
ứng vớicác khoản lỗ