LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI:
GỐC TỪ HÁN VÀ GỐC TỪ ẤN ÂU
TRONG TIẾNG HÀN
TP.Hồ Chí Minh
1
DẪN NHẬP
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp cơ bản của con người và là một
hiện tượng xã hội như văn hoá vậy. Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng F. De
Saussure đã định nghĩa ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu và hệ thống
đó - theo cách hiểu kí hiệu học - là hệ thống khép kín thuần tuý ngôn
ngữ học, chứ không mang tính mở áp dụng cho các hệ thống văn hoá
hay hệ thống chính trị.
Việc trong tiếng Hàn hiện đại tồn tại hàng vạn từ Hán Hàn, cũng như
các từ có gốc Ấn – Âu là minh chứng cho lịch sử tiếp xúc mạnh mẽ,
sâu rộng và trường kỳ của tiếng Hàn với ngôn ngữ của các quốc gia
khác. Từ vựng tiếng Hàn được ước tính là có 3 thành phần : từ thuần
Hàn chiếm khoảng 35%, từ Hán – Hàn chiếm khoảng 60% và từ vay
mượn khác chiếm 5%. Những từ thuần Hàn chủ yếu là về những thứ
thiết yếu trong đời sống hằng ngày như thức ăn, quần áo, vật dụng
trong nhà, số đếm (số nhỏ, thường chỉ dưới số 30), cơ thể người, tên
thực vật, động vật còn những từ vay mượn phần lớn đều chứa đựng
yếu tố văn hóa.
Trong quá trình tìm hiểu về ngôn ngữ Hàn, việc nghiên cứu về
lượng từ vay mượn vô cùng phong phú trong kho từ vựng tiếng Hàn là
cần thiết, bởi không chỉ nghiên cứu về ngôn ngữ mà qua đó còn hiểu
biết thêm về lịch sử, văn hóa Hàn Quốc – những kiến thức vô hẳn sẽ
dụng ở Bách Tế. Vào khoảng thế kỷ X – XI, để đọc các sách kinh điển
của Trung Quốc, cư dân ở đây đã biết mượn âm đọc chữ Hán vùng
3
Hoa Bắc để dựng nên âm đọc chữ Hán của Triều Tiên (Sino – Korean).
Mặt khác trong các văn bản Hán văn của Triều Tiên lại thấy dùng một
phương pháp gọi là Lidoku. Phương pháp này cho phép dùng một số
chữ Hán để biểu thị các hư từ của tiếng Triều Tiên. Lidoku được dùng
mãi đến tận thế kỷ XVIII – XXI. Trong tiếng Triều Tiên không có
phương pháp như Kundoku của Nhật Bản. Xét cho cùng thì văn bản
Hán văn ở Triều Tiên chỉ được đọc theo âm chữ Hán Triều Tiên trong
đó có xen thêm các chữ Hán để biểu thị trợ từ, trợ động từ (Lidoku)
trong tiếng Hàn. Cần lưu ý rằng trong số những chữ Hán được dùng
theo phương pháp Lidoku cũng có những chữ được viết dưới dạng lược
nét. Và như vậy ngẫu nhiên đã tạo nên sự trùng hình giữa những chữ
Lidoku lược nét và Kana của Nhật Bản. Điều đáng tiếc là Lidoku của
Triều Tiên không thể phát triển lên thành một dạng văn tự độc lập mà
chỉ dừng lại ở việc ghi lại một số hư từ mà thôi. Điều này cũng cho
thấy một sự trói buộc khá mạnh của nền văn hoá Hán đối với Triều
Tiên.
I.3. Quá trình phát triển của chữ Hán ở bán đảo Triều Tiên
Chữ Hán du nhập vào bán đảo Triều Tiên thời điểm cụ thể từ bao
giờ thì vẫn chưa xác định được rõ. Nhưng, theo các sách sử Hàn Quốc
cho biết, từ năm 108 TCN, nhà Hán đem quân xâm lược bán đảo Triều
Tiên, cai trị bán đảo khoảng 100 năm và truyền bá chữ Hán, ra lệnh
dùng chữ Hán trong công văn giấy tờ của cơ quan hành chính do nhà
Hán lập ra và bắt quan lại nhân viên người bản địa phải học chữ Hán.
Từ đó, chữ Hán dần dần được mở rộng, phát triển ra ngoài xã hội và
chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa Hàn Quốc nói chung, văn học
Hàn Quốc nói riêng.
Đến thời Ba vương quốc, chữ Hán đã được sử dụng phổ biến.
người Triều Tiên sử dụng đan xen chữ Hán và chữ Hàn để ghi văn bản.
Hiện tượng các văn nhân làm thơ bằng chữ Hán vẫn còn phổ biến.
Sau 1945, khi Nhật đầu hàng đồng minh, Triều Tiên bị chia thành
hai nước là Đại Hàn dân quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều
Tiên thì việc sử dụng từ Hán và chữ Hán đã thay đổi, ở mỗi nước được
phát triển theo hai hướng khác nhau.
Tại Hàn Quốc năm 1948, sau khi chính phủ được thành lập, cuộc
vận động “Tìm về tiếng của chúng ta” đã làm cho nhiều từ thuần Hàn
được sử dụng thay thế từ gốc Hán và từ gốc Nhật. Đặc biệt là nhiều từ
Hán-Hàn gốc Nhật cũng bị loại bỏ mà thay bằng từ Hán-Hàn thời xưa.
Trung Quốc và Hàn Quốc ngót nửa thế kỉ không giao lưu với nhau
vì lí do chính trị. Trong thời gian này từ Hán được nhập vào tiếng Hàn
chủ yếu là từ Nhật Bản.
Đến thời kì Trung Quốc mở cửa, thì mối giao lưu Trung – Hàn diễn
ra mạnh mẽ càng làm thúc đẩy sự tiếp xúc ngôn ngữ. Do sức sản sinh
của tiếng Hán cao nên việc sử dụng từ Hán-Hàn có nhiều thuận lợi.
II. Hán tự (hanja, 한 자/한문한자, 漢 字/韓文漢字)
II.1. Giới thiệu về Hán tự
Hanja là cách viết Hán tự ở Hàn Quốc, hơn thế nó còn để chỉ
những chữ chữ Hán được vay mượn từ Trung quốc nhưng có chịu ảnh
hưởng của ngôn ngữ Hàn Quốc với cách phát âm của người Hàn. Bởi
vì chữ Hán được du nhập vào Hàn Quốc là kiểu chữ Hán truyền thống,
nên hanja gần như giống hoàn toàn với chữ Hán truyền thống, chỉ một
phần nhỏ hanja là thay đổi theo kiểu của tiếng Hàn Quốc. Trong khi
đó, nhiều chữ Hán được dùng trong tiếng Nhật (Kanji – Một ký tự
kanji có thể được dùng để viết một hoặc nhiều từ khác nhau, kanji cũng
6
có một hoặc nhiều cách đọc khác nhau), hay Đài Loan, Hồng Kông thì
đã được đơn giản hóa, trở thành chữ Hán giản thể, còn ít nét hơn so với
hanja.
17. 字幕 – 자막 - phụ đề
II.3. Hanja dùng cho tên người
Tên tiếng Hàn thường được đặt theo hanja. Trên danh thiếp,
hanja dần biến mất, vì chỉ những người lớn tuổi mới ghi cả tên bằng
Hanja lên danh thiếp, trong khi giới trẻ chỉ ghi bằng Hangul. Tên người
Hàn thường gồm họ ( thường là 1 âm tiết, ví dụ: Seong, 성, 漢; có họ là
2 âm tiết, ví dụ: Namgung,남궁, 漢漢 ), và tên ( thường là 2 âm tiết).
Thông thường khi đặt tên, người ta thường đặt tên có 1 âm tiết giống
với những người trong gia đình cùng giới tính và thế hệ, 1 âm tiết kia
là cho cá nhân người đó, Cũng có nhiều người Hàn đặt tên con theo
nghĩa từ gốc tiếng Hàn, phổ biến như Haneul –하늘, bầu trời, hoặc
Iseul – 이슬, giọt sương buổi sớm mai… Tuy nhiên, ở các văn bản
chính thức, tên người vẫn được ghi bằng cả Hangul lẫn Hanja (nếu tên
đó có nghĩa tiếng Hán)
II.4. Hanja dùng cho tên địa danh
Do chịu sự ảnh hưởng rộng lớn của tiếng Hán trong suốt thời
Goryeo và Joseon mà toàn bộ tên địa danh Hàn Quốc thời bấy giờ đã
8
chuyển đổi hết sang hanja, và hầu hết các tên ngày nay cũng đều có
nền tảng từ hanja (viết bằng hangul nhưng mang nghĩa Hán). Tuy
nhiên, có 1 ngoại lệ duy nhất là tên thủ đô của Hàn Quốc – Seoul.
“Seoul” (서울) trong văn thơ Hàn Quốc có nghĩa là “thủ đô”, Seoul
còn có thể viết tắt theo hanja là “gyeong” (경, 京).
Hầu hết các bản đồ Hàn Quốc ngày nay được chia làm 2 loại :
một là chú thích bằng hangul (cũng có khi bằng tiếng Anh), và một là
hanja. Các biển báo ở ga tàu điện ngầm, ga xe lửa được viết bằng
hangul, hanja và tiếng Anh.
III. Từ Hán Hàn (hanjaeo,한자어, 漢字語)
Từ Hán – Hàn là từ được viết bằng hangul nhưng có gốc Hán. Từ
Hán – Hàn còn bao gồm cả từ Hán do người Hàn tạo ra mà chỉ người
Thời tiết
자동차
(jadongcha)
自動車 自動車 汽車/汽気
Ô tô
대통령
(daetongnyeon
g)
大統領 大統領 總統/気気
Đại tổng
thống
편지 (pyeonji) 便紙,片紙 手紙 信/信函
Thư
휴지 (hyuji) 休紙 塵紙
衛 生 紙 / 気 生
気
Khăn giấy
선물
(seonmul)
膳物 土産/土気 禮物/気物
Quà
외상 (oesang) 外上 勘定 気單/気気
Hóa đơn
식탁 (siktak) 食卓 食卓 餐気
Bàn ăn
수표 (supyo) 手票 小切手 支票
Ngân phiếu
명함
(myeongham)
名啣 名刺 名片
飛行機 飛行機 飛機/気机
Máy bay
소개 (sogae) 紹介 紹介 介紹/介気
Giới thiệu
경우
(gyeong'u)
境遇
場合,境遇/境遇/
気況
情 形 ,境 遇 ,場
合/気合
Tình huống
외환 (oehwan) 外換 気替/爲替 兌換/気気
Ngoại hối
약속 (yaksok)/
언약 (eonyak)
約束/言
約
約束 承諾/承気
Lời hứa
회사 (hoesa) 會社 気社/會社 公司
Công ty
일요일 (ilyoil)
日曜日
日曜日/日曜日 星期天
Chủ nhật
영화
(yeonghwa)
映畵 映気/映畵 電影/気影
Phim
見積もり
mi-tsumori
見積
gyeonjeok
견적
gyeonjeok
気計/気気
gūjì
Ước tính
試合
shi-ai
試合
sihap
시합
sihap
比賽/比気
bǐsài
Trận đấu
III.2. Hỗn dung Hán Hàn (한국어의,국한문혼용,韓國語의 國漢文混
用)
Hỗn dung Hán – Hàn là một dạng văn bản sử dụng cả hangul lẫn
hanja. Loại văn bản này chỉ dùng ở Hàn Quốc, ở Bắc Triều Tiên lối
viết này được thay thế hoàn toàn bằng hangul vào giữa thế kỉ 20 và
không còn được sử dụng nữa. Ở Hàn Quốc, lối viết này đang có xu
hướng giảm dần.
12
Khi viết hỗn dung Hán – Hàn, người viết dùng hanja để viết từ
Hán – Hàn chứ không viết những từ thuần Hàn. Điều này trái với lối
viết hiện đại của Nhật Bản, khi mà kanji không chỉ được dùng để viết
từ Hán – Nhật mà còn dùng để viết những từ thuần Nhật và gairaigo
자유와 행복을 영원히 확보할 것을 다짐하면서 1948 년 7 월 12 일
에 제정되고 8 차에 걸쳐 개정된 헌법을 이제 국회의 의결을 거쳐
국민 투표에 의하여 개정한다.
1987 년 10 월 29 일
Bản 2:
前文
悠久한 歷史와 傳統에 빛나는 우리 大韓國民은 3·1 運動으로 建立
된 大韓民國臨時政府의 法統과 不義에 抗拒한 4·19 民主理念을 繼
承하고, 祖國의 民主改革과 平和的統一의 使命에 立脚하여 正義·
人道와 同胞愛로써 民族의 團結을 鞏固히 하고, 모든 社會的弊習
과 不義를 打破하며, 自律과 調和를 바탕으로 自由民主的基本秩
序를 더욱 確固히 하여 政治·經濟·社會·文化의 모든 領域에 있어
서 各人의 機會를 均等히 하고, 能力을 最高度로 發揮하게 하며,
自由와 權利에 따르는 責任과 義務를 完遂하게 하여, 안으로는 國
民生活의 均等한 向上을 基하고 밖으로는 恒久的인 世界平和와
人類共榮에 이바지함으로써 우리들과 우리들의 子孫의 安全과 自
由와 幸福을 永遠히 確保할 것을 다짐하면서 1948 年 7 月 12 日에
14
制定되고 8 次에 걸쳐 改正된 憲法을 이제 國會의 議決을 거쳐 國
民投票에 依하여 改正한다.
1987 年 10 月 29 日
Một trang báo in trong
tờ báo ra ngày 30
tháng 6 năm 1933
B. GỐC TỪ TIẾNG ANH TRONG TIẾNG HÀN
Từ năm 1910 đến cuối Chiến tranh thế giới thứ 2 năm 1945 là
thời gian Nhật Bản chính thức chiếm đóng Hàn Quốc. Sự xâm lược
này đã để lại dấu ấn sâu đậm lên hầu hết các mặt của đời sống người
dân Hàn Quốc. Sau chiến tranh thế giới lần 2, Hàn Quốc bắt đầu mở
như thế này không xuất hiện trong tiếng Anh, nhưng ở tiếng Hàn
chúng xuất hiện rất nhiều, vì thế khi những từ vay mượn từ tiếng Anh
mà muốn trở thành động từ hay tính từ thì đa số chúng sẽ được gắn
thêm hậu tố 하다 (hada) vào.
16
Ví dụ:
로맨틱하다 (romaentik hada) : romantic (lãng mạn)
섹시하다 (sek si hada) : sexy (gợi dục)
데이트하다 (de i teu hada): date (hẹn hò)
쇼핑하다 (syo ping hada): shopping (mua sắm)
II. Từ sáng chế
Tiếng Hàn ngoài những từ vay mượn từ tiếng Anh thì còn có
những từ được sáng chế ra với một nghĩa khác, và vì thế mà đến những
người nói tiếng Anh cũng không thể nào hiểu được.
Ví dụ :
1.모닝서비스 (mo ning seo bi seu) : morning service
Là từ vay mượn từ tiếng Anh, nhưng khi sử dụng trong tiếng Hàn, nó
không còn mang nghĩa phục vụ bữa ăn sáng, mà thay vào đó là thực
đơn cho bữa sáng trong các nhà hàng bán thức ăn nhanh. Thông
thường, trong thực đơn này gồm có bánh mì, trứng luộc, xà lách, cá và
1 cốc cà phê.
2. 프레이가이드 (peu re i ka i deu) : play guide
Trong tiếng Hàn 프레이가이드 được dùng với nghĩa là phòng bán vé.
Khi ai đó muốn tìm một nơi để giải trí, họ tìm đến rạp chiếu phim, buổi
hòa nhạc, xem bóng chày, người Hàn thường dùng từ động từ “놀다”
(nghĩa là “chơi”), vì thế mà họ đã dịch thành từ “play”(cũng với nghĩa
“chơi”) trong tiếng Anh. Và người Hàn dùng “guide”(hướng dẫn) là vì
ở quầy bán vé, họ có thể biết thêm nhiều thông tin theo yêu cầu.
3. 나이터 (na i teo) : nighter
Trường hợp này được xếp vào dạng căn tố, phụ tố, vì phụ tố /-er/ được
18
더블유티오(deo beul yu ti o) : WTO (World Trade Organization – Tổ
chức Thương mại Thế giới)
IV. Từ rút gọn
Từ rút gọn là 1 từ được tạo ra bằng cách bỏ bớt đi 1 hoặc vài
kí tự từ 1 từ có nhiều âm tiết. Ví dụ thường thấy trong tiếng Anh là viết
“prof” thay cho “professor”(giáo sư), “auto” thay cho “automatic”(tự
động), “lab” thay cho “laboratory”(phòng thí nghiệm)
Có nhiều từ tiếng Hàn khi vay mượn từ tiếng Anh cũng được rút gọn
như vậy. Có các dạng rút gọn trong tiếng Hàn là rút gọn phần đầu hoặc
rút gọn phần sau, có thể rút gọn từ đơn hoặc từ ghép.
Ví dụ:
아파트 (a pa teu) : apartment (chung cư)
수퍼 (su peo) : supermarket (siêu thị)
파마 (pa ma) : permanent wave (uốn tóc)
도저 (do jeo): bulldozer ( xe ủi đất )
콜라 (kolla) : Coca Cola
벤츠 (ben cheu): Mercedez Benz
V. Từ ghép
Từ ghép là từ được tạo ra bằng cách ghép 2 từ khác nhau thành một
để diễn đạt 1 ý nghĩa nào đó. Điểm đặc biệt ở đây là trong tiếng Hàn,
không chỉ mượn từ ghép trong tiếng Anh mà còn có thể tạo ra những từ
mới bằng cách ghép từ tiếng Anh và từ tiếng Hàn.
Ví dụ:
1. danh từ tiếng Anh + danh từ tiếng Anh
도어폰 (do eo pon) : door phone = door bell (chuông cửa)
가스레인지 (ga seu re in ji) : gas range = gas stove (lò ga)
2. Danh từ tiếng Anh + danh từ tiếng Hàn
19
가스통 (ga seu tong) : gas (ga) + 통 (thùng ) = thùng ga
= computer (máy điện toán) + utopia (điều không tưởng)
라이거 ( la i geo) : liger (con của sư tử đực và hổ cái) = lion (sư tử) +
tiger (hổ)
KẾT LUẬN
Các kiểu tiếp xúc của ngôn ngữ và chủ thể tiếp xúc ngôn ngữ
cũng như động cơ tiếp xúc đều giống như ở tiếp xúc văn hoá. Tiếp xúc
ngôn ngữ là sự cọ sát của hai hay nhiều nhóm người nói các ngôn ngữ
khác nhau, thuộc về các văn hoá khác nhau nảy sinh trong quá trình
giao lưu về kinh tế, văn hoá, chính trị diễn ra trong lịch sử. Hình thái
đầu tiên của tiếp xúc ngôn ngữ chính là việc gọi tên các đồ vật/ sản vật
hay hành vi bằng một tên gọi khác của một ngôn ngữ khác.
Mức độ tiếp xúc càng rộng rãi và mạnh mẽ bao nhiêu thì kết qủa tiếp
xúc càng sâu sắc bấy nhiêu trên lĩnh vực ngôn ngữ: đó là việc hình
thành các vốn từ vay mượn/ từ ngoại lai, các hiện tượng hình thái học
mới, các kết cấu cú pháp mới, các mô hình liên kết văn bản mới. Khi
một từ nào đó được vay mượn từ ngôn ngữ khác và được dùng trong
giao tiếp hằng ngày, việc đọc chệch đi về ngữ âm, viết khác đi về hình
thái, sử dụng khác ý nghĩa ngữ pháp và ngữ cảnh là điều không thể
tránh khỏi. Do đó, khi nghiên cứu từ vay mượn thì từ đó phải được đặt
song song với ngôn ngữ gốc để xem xét.
21
Dù Hàn Quốc có điều kiện địa lý, lịch sử và văn hóa rất gần với
Trung Quốc nhưng lại không có cùng họ ngôn ngữ với nhau. Tuy
nhiên cả Hàn Quốc lẫn Nhật Bản đều vay mượn một lượng lớn từ Hán
thông qua lịch sử quan hệ với các triều đại của Trung Quốc, và những
từ vay mượn đó đã trở thành thành phần không thể thiếu trong vốn từ
vựng Hàn Quốc. Vì phát triển theo những hướng khác nhau nên cách
phát âm những từ có cùng 1 gốc Hán cũng hoàn toàn khác nhau, tuy
nhiên cách phát âm hanja của người Hàn được xem là gần giống với
cách phát âm ở triều đại nhà Thanh của Trung Quốc. Tiếng Hàn cũng
Seoul : Hankook Munhwasa, 2004.
23
24