LUẬN VĂN
"Thc trng vn
đng xây dng chnh
quyn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đ tài:
Thể chế chính trị ở nước ta là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
dân làm chủ. Đây là cơ chế chung trong quản lý xã hội. Trong đó, “Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự
nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng
cố chính quyền nhân dân…”
1
. Đảng lãnh đạo xã hội thông qua Nhà nước và
Mặt trận Tổ quốc, qua đó nhằm nâng cao hơn nữa công tác chính trị, tư tưởng,
lấy tuyên truyền, thuyết phục, vận động làm phương thức quan trọng để thực
hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. Mặt trận Tổ
quốc là ngôi nhà chung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận tập hợp,
vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo và
người Việt Nam ở nước ngoài; Mặt trận tuyên truyền sâu rộng quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, về các hoạt động của Mặt
trận, các đoàn thể để cán bộ, đảng viên và nhân dân có nhận thức đầy đủ về
tinh thần và nhiệm vụ của đất nước, tạo sự đồng thuận xã hội, đoàn kết dân tộc,
đẩy mạnh phong trào cách mạng của quần chúng, thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ, mục tiêu do Đảng đề ra.
Quan hệ giữa Mặt trận với chính quyền là quan hệ hợp tác, bình đẳng,
tôn trọng lẫn nhau, phối hợp cùng thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước.
Theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong suốt chiều
Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới nói chung và Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tham gia xây dựng chính quyền nhân dân nói riêng chủ yếu là: Lịch sử
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, quyển III (1975-2004) (Nxb. Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2007); Đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh (Đỗ Mười-Lê Quang Đạo, Nxb.
3
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); Đại đoàn kết dân tộc phát huy nội lực
nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước (Vũ Oanh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Đại đoàn kết
dân tộc - động lực chủ yếu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Kỷ
yếu Hội thảo khoa học-thực tiễn, Hà Nội, 2002); Phát huy sức mạnh Đại
đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tư tưởng Hồ
Chí Minh (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo
khoa học-thực tiễn, Hà Nội, 2005); Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết
dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1996); Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2004); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận (Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội 2009)…
Ngoài ra, trên các sách, tạp chí khoa học, báo cũng có một số bài viết,
nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng chính quyền
nhân dân.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát, đề cập tương
đối rộng và phản ánh được nhiều khía cạnh về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tham gia xây dựng chính quyền nhân dân góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề
lý luận trong thời kỳ mới. Song, chưa có một công trình chuyên khảo trực tiếp
nào về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia phối hợp với Nhà nước trong
việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền.
3. Mục đch, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
quốc Việt Nam các thời kỳ; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (các khoá III, IV, V, VI, VII); các văn kiện các
5
Hội nghị Đoàn Chủ tịch, Hội nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hàng năm (các khoá III, IV, V, VI, VI, VII).
Ngoài ra, nguồn tài liệu là các Báo cáo công tác hàng tháng, 6 tháng,
hàng năm và các báo cáo chuyên đề của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1986-
2010) được lưu trữ tại cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; một số công trình nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
5. Đóng góp mới:
Đề tài sau khi được hoàn thành sẽ có ý nghĩa về mặt lý luận và thực
tiễn trên các nội dung cụ thể sau:
- Về mặt lý luận: đề cập tới mối quan hệ giữa Mặt trận và chính quyền,
đặc biệt là vấn đề sự phối hợp vận động nhân dân tham gia xây dựng chính
quyền.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường
hơn nữa sự phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc
vận động nhân dân tham gia xây dựng chính quyền, từ đó nâng cao vị trí, vai
trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu lun văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của công tác phối hợp giữa
Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động nhân dân xây
dựng chính quyền.
- Chương 2: Thực trạng của công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặt
trận Tổ quốc trong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường sự phối hợp giữa Nhà
nước và Mặt trận Tổ quốc trong việc vận động nhân dân xây dựng chính
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiền thân là Hội phản đế đồng minh
được thành lập ngày 18/11/1930. Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau,
Mặt trận đã thay đổi nhiều tên gọi khác nhau cho phù hợp với yêu cầu của
cách mạng. Đó là:
- Mặt trận dân chủ (tháng 8/1937)
- Mặt trận Việt Minh năm 1945, Hội Liên hiệp Quốc dân
(29/5/1945), thống nhất Việt Minh - Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt
(3/3/1951), đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tháng 9/1955),
- Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (1960), Liên minh các lực
lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam (1968).
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Tháng 1/1977, Đại hội thống nhất các
tổ chức Mặt trận ở hai miền thành một Mặt trận dân tộc thống nhất duy
nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).
Hơn nửa thế kỷ qua, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đấu
tranh giành độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc cũng như trong sự
nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
vẫn luôn tỏ rõ là một liên minh chính trị có vị trí, vai trò rất quan trọng
trong việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực,
góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.
Cũng giống như tất cả các tổ chức chnh trị- xã hi khác, Mặt trn
Tổ quốc Việt Nam có những chức năng cơ bản sau đây:
- Chức năng phản ánh yêu cầu, nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của quần chúng nhân dân:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời nhằm tập hợp tất cả các lực lượng
yêu nước, tiến bộ, thể hiện ý chí, nguyện vọng đấu tranh vì độc lập tự do và
hạnh phúc của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam.
8
Trong Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng lãnh đạo có sự tham gia đông
và bảo vệ Đảng, bảo vệ các cơ quan Nhà nước, xây dựng và bảo vệ nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa.
+ Động viên các thành viên và mọi tầng lớp nhân dân phát huy quyền
làm chủ của mình trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong
thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Chức năng giám sát, phản biện xã hội đối với các cơ quan, cán bộ
Nhà nước và hệ thống chính trị
Giám sát và phản biện việc xây dựng và thực hiện chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước là một chức năng rất cơ bản, là một nhiệm vụ rất
quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phản ánh sâu sắc bản chất của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống chính trị nước ta, quyền giám
sát được quy định trong những văn kiện của Đảng, cơ quan quyền lực Nhà
nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài quyền giám sát của Quốc hội
đối với Chính phủ, Hội đồng nhân dân đối với Uỷ ban nhân dân, Nhà nước
còn cần được giám sát bởi Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, để
Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Thực chất và mục tiêu cơ bản của việc thực hiện ba chức năng đó là
tạo nên một cơ chế giám sát quyền lực trong xã hội, làm cho sự lãnh đạo của
Đảng và sự quản lý của Nhà nước bảo đảm thực hiện yêu cầu dân chủ hoá,
chống quan liêu và chủ quan duy ý chí trong mọi hoạt động.
Mt số đặc trưng cơ bản của công tác phối hợp với Nhà nước
trong công tác vn đng nhân dân xây dng chnh quyn của Mặt trn
Tổ quốc Việt Nam:
10
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị, liên
hiệp tự nguyện rộng rãi nhất của các tổ chức và các cá nhân tiêu biểu trong
các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài. Do đặc điểm này mà Mặt trận có những điều kiện để phối
hợp với Nhà nước tập hợp, vận động đông đảo các tầng lớp nhân dân, tạo
quyn xã hi chủ nghĩa Việt Nam
* Đặc trưng của nhà nước pháp quyn xã hi chủ nghĩa Việt Nam:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công,
phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã
hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Một số đặc trưng cơ bản của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam:
- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân,
do dân, vì dân, các cơ quan quyền lực nhà nước được lập nên thông qua các
cuộc bầu cử phổ thông, dân chủ, tự do, bình đẳng. Quyền lực của nhà nước
là quyền lực của nhân dân, do nhân dân uỷ nhiệm thông qua lá phiếu của
mình; tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước do nhân dân quyết
định; các vấn đề trọng đại của đất nước đều phải hỏi ý kiến nhân dân. Những
12
góp ý, khiếu nại, tố cáo của nhân dân đối với Nhà nước đều được tôn trọng,
xem xét, tiếp thu, giải quyết.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp. Nguyên tắc thống nhất quyền lực này xuất phát từ chỗ tất cả
quyền lực này thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể duy nhất của quyền
lực nhà nước. Mỗi cơ quan có chức năng và nhiệm vụ nhất định trong việc
thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, không có cơ quan nào
đứng một cách biệt lập mà có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc thực
hiện quyền lực.
Thấu suốt quan điểm: Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là “tối
thượng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý
bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của
nhân dân”, “Dân là chủ, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Do
đó, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò to lớn
của nhân dân trong lịch sử. Dân làm chủ và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng nói chung
và tong sự nghiệp đổi mới ngày nay.
Trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, dân chủ và quyền làm chủ của
nhân dân được thể hiện ở những nội dung chủ yếu:
- Nhân dân tham gia xây dựng các tổ chức, bộ máy của hệ thống
quyền lực Nhà nước và lựa chọn các đại biểu của mình bằng bầu cử, theo
phương thức dân chủ đại diện, từ bầu cử Quốc hội đến bầu cử Hội đồng
nhân dân các cấp ở địa phương và cơ sở.
- Nhân dân tham gia các công việc quản lý Nhà nước để thực hiện
quyền lực của mình. Cụ thể là các việc: thảo luận, đóng góp ý kiến vào các
14
dự thảo Luật, xây dựng hoặc sửa đổi Hiến pháp và các văn bản Luật, các quy
định, quy chế mang tính pháp lý; đề xuất các kiến nghị với chính quyền các
cấp thông qua các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân những vấn
đề về pháp luật và chính sách liên quan tới cuộc sống của mình.
- Nhân dân tham gia đánh giá chính sách của Nhà nước Trung ương
và chính quyền các cấp ở địa phương, đưa ra những kiến nghị điều chỉnh, bổ
sung, sửa chữa chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu, lợi
ích chính đáng của mình.
- Nhân dân đánh giá, nhận xét và chất vấn về hoạt động của các tổ
chức nhà nước, về thực hiện nhiệm vụ của các đại biểu được dân uỷ quyền,
giám sát công việc, hành vi, tư cách của họ trong mối quan hệ với nhân dân,
thái độ đối xử với dân và hiệu quả phục vụ nhân dân theo cương vị, chức
tạo ra sự lành mạnh xã hội, tính minh bạch, nghiêm minh của pháp luật.
Với cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, viên chức nhà nước, nếu
thiếu vắng chế độ trách nhiệm, nếu không có những quy định pháp luật thật
rõ ràng, minh bạch và những chế tài nghiêm ngặt để buộc thực hiện và xử lý
các hậu quả tiêu cực xảy ra theo chế độ, trách nhiệm thì đó sẽ là mảnh đất
thuận lợi cho sự vi phạm dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, làm tổn
hại tới quyền lực của nhân dân.
Do đó, để phát huy dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
trong xây dựng Nhà nước thì tất yếu phải làm rõ mối quan hệ giữa công dân
với Nhà nước, mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ, giữa lợi ích với trách
nhiệm, giữa công chức, quan chức với dân chúng, giữa đại biểu dân cử với
cử tri. Những mối quan hệ này phải được thể chế hoá, phải được pháp luật
điều tiết với sự hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ của đạo đức, của văn hoá.
16
Trong lĩnh vực xây dựng Nhà nước, những quyền dân chủ và làm chủ
với những nội dung nói trên của nhân dân được thể hiện bằng phương thức
dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, tức là thông qua các đại biểu nhân dân
do dân bầu ra, dân kiểm tra, giám sát và có quyền bãi miễn; bằng quyết định
trực tiếp của dân theo quy chế dân chủ cơ sở đã ban hành. Ở cơ sở, dân chủ
và quyền làm chủ của dân còn được thực hiện bằng các hoạt động tự quản
trong cộng đồng. Hương ước, quy ước là một thể chế tự quản, vừa có tính
pháp lý, vừa có ý nghĩa văn hoá, đó là văn hoá tự quản mang sắc thái văn
hoá truyền thống. Các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội dân sự, nhân
dân tự dàn xếp, giải quyết trên tinh thần hoà giải, đoàn kết, đồng thuận.
Trong quản lý xã hội, việc phát huy dân chủ và bảo đảm quyền dân
chủ của nhân dân được thể hiện ở những nội dung và hình thức chủ yếu là:
Nhân dân tham gia quản lý xã hội bằng Nhà nước, tức là tham gia thực hiện
chức năng xã hội, tổ chức đời sống xã hội dân sự: tham gia quản lý xã hội
bằng các tổ chức, thiết chế phi nhà nước. Đó là các đoàn thể, các tổ chức
chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị (trong đó có Mặt trận Tổ quốc Việt
việc của các bên phối hợp. Có 3 khía cạnh được thể hiện nguyên tắc phối
hợp là: trách nhiệm của các bên phối hợp; thẩm quyền của các bên phối hợp
và các công việc cụ thể cần sự phối hợp.
- Đối với phối hợp ngoài hệ thống: thông qua quy chế phối hợp tại các
cuộc họp liên tịch của các bên tham gia phối hợp.
Trong phối hợp ngoài hệ thống, nguyên tắc phối hợp được thể hiện
như sau:
+ Phối hợp phải đảm bảo tính thống nhất: Thể hiện ở kế hoạch phối
hợp của cơ quan chủ trì. Đặc biệt phải có sự tôn trọng lợi ích các bên phối
hợp. Khi bối cảnh thay đổi phải có sự kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.
18
+ Phối hợp phải đảm bảo sự chia sẻ thông tin giữa các bên. Các bên
phối hợp phải có trách nhiệm chia sẻ thông tin với nhau.
+ Phối hợp phải đảm bảo sự chuyên môn hoá giữa các bên, đi đôi với
hợp tác hoá.
+ Phải đảm bảo tính khách quan trong phối hợp.
* Các điều kiện để sự phối hợp có hiệu quả:
- Điều kiện để đảm bảo kinh phí.
- Điều kiện để đảm bảo thông tin.
- Điều kiện để đảm bảo thời gian.
Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hai tổ chức thuộc hai hệ
thống khác nhau cùng nằm trong hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị nước
ta bao gồm 3 tổ chức là Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, với
phương thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Trong
đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho
nhân dân, có vai trò hết sức to lớn trong việc tập hợp khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, đây cũng là sứ mệnh lịch sử mà Đảng giao phó cho Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam từ khi thành lập cho đến nay. Mỗi giai đoạn lịch sử, tuỳ theo
từng hoàn cảnh lịch sử khác nhau, Mặt trận đều thực hiện tốt vai trò này. Để
làm được điều này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận và Nhà nước cần có
phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị
và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân
dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chính thi hành
Hiến pháp và pháp luật, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, đại
biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.
- Về trách nhiệm của Nhà nước, Hiến pháp quy định: “Nhà nước tạo
điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và cá tổ chức thành viên hoạt động có hiệu
quả”.
20
Trong Hiến pháp năm 1992 quy định một số quyền và trách nhiệm của
Nhà nước, của Mặt trận, đó là, quyền trình dự án Luật ra trước Quốc hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu
quả (điều 112), Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam và người đứng
đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội
đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi
bàn các vấn đề có liên quan.
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình
hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân,
lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận và các đoàn
thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh
tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận và các đoàn thể nhân dân
động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh ở địa phương ( điều 125).
Như vậy, Hiến pháp năm 1992 đã xác định rõ tính chất, nội dung, quan
hệ, quyền và trách nhiệm của mỗi bên trong mối quan hệ giữa Nhà nước với
Mặt trận, đây là cơ sở để cụ thể hoá thành các quy định của pháp luật.
Thể chế hoá Hiến pháp, nhiều đạo luật đã quy định cụ thể mối quan hệ
giữa Nhà nước với Mặt trận, giữa Uỷ ban Mặt trận với cơ quan Nhà nước trên
diện cho quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân. Nhà nước và
Mặt trận đều do Đảng lãnh đạo. Tuy chức năng, nhiệm vụ, quyền và trách
nhiệm có khác nhau nhưng đều là công cụ của nhân dân thực hiện và phát huy
quyền làm chủ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện các quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về quan
hệ phối hợp công tác, đến nay tất cả các tỉnh, thành phố, các quận, huyện, xã,
22
phường, thị trấn trong cả nước đều đã xây dựng và ban hành quy chế phối hợp
công tác ở mỗi cấp. Sự phối hợp công tác giữa Mặt trận với Nhà nước đã đi
vào nề nếp theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt nam
về quan hệ phối hợp công tác giữa Nhà nước và Mặt trận còn những tồn tại,
hạn chế sau:
- Nhận thức trong hệ thống chính trị chưa đầy đủ và thống nhất về cơ
sở của mối quan hệ, tính chất, nội dung, quyền và trách nhiệm của mỗi bên
trong mối quan hệ giữa cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc ở mỗi cấp, nhất là ở cấp huyện và cơ sở. Bản thân cán bộ Mặt trận còn
tự ti, e dè trong việc thực hiện các mối quan hệ.
- Phương thức quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận với cơ quan Nhà nước
chưa được thực hiện rộng rãi trên các mặt công tác của mỗi bên. Các cấp ở
địa phương mới chỉ xây dựng quy chế phối hợp giữa Mặt trận với Hội đồng
nhân dân, với Uỷ ban nhân dân, chưa mở rộng sự phối hợp thông qua các văn
bản liên tịch nhiều bên, giữa cơ quan Nhà nước với Ban thường trực Mặt trận.
- Trong phối hợp công tác thông qua các văn bản liên tịch sự bình đẳng,
tạo điều kiện từ phía cơ quan Nhà nước còn hạn chế, tư tưởng xin - cho, ban
ơn vẫn còn ở nơi này, cấp nọ trong sự phối hợp giữa 2 bên.
1.2. Cơ sở pháp lý
1.2.1. Các văn bản pháp lut quy định công tác phối hợp giữa Nhà
nước và Mặt trn Tổ quốc Việt Nam trong việc vn đng nhân dân xây dng
chnh quyn
Nhà nước, để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là nơi tập hợp khối đại
đoàn kết toàn dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân
dân.
24
Thể hiện mục đích và ý nghĩa nêu trên, tại các điều 7, 8, 9, 10, 11,
12… của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định chi tiết quyền và
trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền.
- Luật Tổ chức Chính phủ quy định Chính phủ phối hợp với Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.
Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên, tổ chức nhân
dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; tổ chức thực hiện
các chủ trương, chính sách của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan
Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ và viên chức Nhà nước.
- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân:
Luật này có nhiều điều quy định về mối quan hệ giữa Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên của Mặt trận. Về công tác phối hợp giữa Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận động nhân dân xây dựng và
củng cố chính quyền, nêu rõ: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, đại biểu
Hội đồng nhân dân phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân
dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà nước và thực hiện
các nghĩa vụ đối với Nhà nước; Uỷ ban nhân dân tạo điều kiện thuận lợi để
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tổ chức, động viên
nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giám sát hoạt
động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, viên chức Nhà nước;
trong quá trình giám sát hoạt động của đại biểu, Mặt trận đề nghị Hội đồng