Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 1 Kế Hoạch 47A
Diendan.studentzone.vn
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay khi kinh tế thế giới có
nhiều biến động thì Việt Nam cũng bị tác động không nhỏ, năm 2008 cuộc
khủng hoảng tài chính, tín dụng ở Mỹ diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nhất
định đối với nền kinh tế và hoạt động của các tổ chức tín dụng Việt Nam vì
vậy các hoạt động của ngành ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề, nhiều ngân
hàng tỏ ra bối rối trong các hoạt động huy động và cho vay vì không biết diễn
biến thị trường thế nào. Kết quả là trong năm 2008 tăng trưởng của các ngân
hàng chậm lại, chất lượng nợ bị suy giảm, tỷ lệ nợ xấu gia tăng điều này đe
dọa trực tiếp đến sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.
Trong thời gian này cầu đặt ra đối với ngân hàng là phải nắm bắt diễn biến
thị trường, để thích nghi và tồn tại và còn phải giữ vai trò tiên phong trong
việc định hướng cho những hoạt động của các doanh nghiệp.
Nhận thức được vai trò và sự cần thiết của hoạt động ngân hàng trong
thời buổi hiện nay tôi đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” làm
chuyên đề thực tập của mình nhằm tìm hiểu và đóng góp phần nào vào sự
phát triển của các ngân hàng. Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân
hàng thương mại
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam.
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 2 Kế Hoạch 47A
thời nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh
nghiệp, các tổ chức, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để
huy động vốn trong xã hội.
Với tư cách là người cho vay: ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần bổ sung trong
hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dung. Với vai trò này ngân hàng đã
thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó giữ
vai trò điều hòa lượng tiền trong xã hội cho phù hợp, luôn đáp ứng nhu cầu
về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.
Tuy nhiên khi cho vay, cái mà ngân hàng thu được là lợi nhuận sau khi
đã trừ đi tất cả các khoản phí, đồng thời đi kèm với lợi nhuận dự kiến có rủi
ro. Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi khách hàng không thực hiện đầy đủ những
cam kết trong hợp đồng tín dụng vì vậy ngân hàng phải xem xét mối quan hệ
giữa lợi nhuận và rủi ro để định ra một mức lãi suất phù hợp và có lợi cho cả
ngân hàng và khách hàng.
2. á
Các hình thức tín dụng cuả ngân hàng
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên
một số tiêu thức nhất định và tùy từng ngân hàng có cách phân loại khác
nhau, phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị lập một
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 4 Kế Hoạch 47A
quy trình tín dụng thích hợp, giảm thiểu rủi ro và dễ quản lý. Có nhiều tiêu
thức để phân loại tín dụng, trên thực tế có các cách phân loại sau đây:
2.1. Theo mục đích sử dụng tiền vay của người vay
Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm 2 loại:
năm và chủ yếu được sử dụng để mua sẳm tài sản cố định, cải tiển và đổi mới
kỹ thuật , mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu
hồi vốn nhanh. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng
có khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, loại hình
này được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí
nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất
quy mô lớn. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài
thì có những biến động xảy ra không lường trước được và ngân hàng phải
tiến hành phân tích tín dụng rõ ràng trước khi cho vay.
Tín dụng không thời hạn: là loại tín dụng mà thời hạn hoàn trả tiển
vay không được xác định khi ký hợp đồng vay mà thay vào đó là điều kiện về
việc thu hồi khoản tiền cho vay của ngân hàng hoặc việc trả nợ của người
vay. Việc thu nợ hay trả nợ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan trên cơ sở tình
hình hoạt động của ngân hàng và của người đi vay.
2.3. Theo điều kiện đảm bảo
Theo tiêu thức này tín dụng được chia làm hai loại là: tín dụng có bảo
đảm và tín dụng không có bảo đảm
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 6 Kế Hoạch 47A
Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như
thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng nắm dữ
tài sản của người đi vay để sử lý thu hồi nợ khi người đi vay không thực hiện
các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hình thức này được
áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng. Mặc
dù có tài sản bảo đảm nhưng hình thức tín dụng này vẫn có độ rủi ro cao vì
tài sản có thể bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của
mình.
Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản cố định: loại hình cho vay với
mục đích đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở
rộng sản xuất, xây dựng mới. Hình thức tín dụng này thường có mức độ rủi
ro cao vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn.
2.6. Ngoài ra tín dụng còn được chia theo các cách sau
Theo xuât sứ tín dụng gồm: tín dụng gián tiếp và tín dụng trực tiếp
Theo đối tượng được cho vay gồm: tín dụng cho doanh nghiệp – tổ
chức tài chính khác vay, tín dụng cho nhà nước vay, tín dụng cho người tiêu
dùng vay.
Dựa vào các cách phân loại trên các nhà phân tích sẽ biết được kết cấu
tín dụng của từng loại tín dụng, tỷ trọng từng loại tín dụng trong tổng dư nợ.
Từ kết cấu tín dụng đó so sánh với kết cấu nguồn huy động , so với nhu cầu
của nền kinh tế sẽ giúp cho các nhà phân tích đánh giá xem kết cấu tín dụng
đã phù hợp với ngân hàng chưa từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp để nâng
cao vai trò của hoạt động tín dụng.
3. V
Vai trò của hoạt động tín dụng đối với sự phát triển kinh tế
3.1. Đ
Đối với nền kinh tế:
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 8 Kế Hoạch 47A
TDNH góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Vai trò quan
trọng nhất của tín dung là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu
sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Các chủ thể này có
thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất, cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm .
Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thỏa mãn
nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các
nguồn vốn tín dung trở nên dễ dàng hơn, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm
thấp,lãi suất ưu đãi thì hiệu quả sử dụng vốn tăng .
TDNH còn là động lực đối với việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH-HĐH nền kinh tế.
TDNH góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mở rộng mối quan hệ
giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động tín
dung góp phần ổn định thị trường, ổn định giá trị đồng tiền, góp phần mang
lại một môi trường đầu tư hấp dẫn
3.1. Đối với khách hàng :
Thỏa mãn nhu cầu vốn và sử dụng vốn của khách hàng .Trong đó có
nhu cầu tiết kiệm của người thừa vốn và cung cấp vốn cho khách hàng thiếu
vốn; giúp họ nắm bắt các cơ hội đầu tư và sử dụng vốn hiệu quả…
3.2. Đối với bản thân ngân hàng :
Đối với hầu hết các ngân hàng ,dư nợ tín dung thường chiếm tới
hơn ½ tổng tài sản có và thu nhập từ tín dung chiếm khoảng 1/2 đến 2/3 tổng
thu nhập của ngân hàng. Mặt khác rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có xu
hướng tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dung
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 10 Kế Hoạch 47A
Khi ngân hàng rơi vào tình trạng tài chính khó khăn nghiêm trọng
thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dung của ngân hàng. Ngân
hàng không thể thu hồi được vốn,có thể do: một chính sách tín dụng kém
hiệu quả, ngân hàng buông lỏng quản lý tín dung, cấp tín dụng không minh
bạch, hay do nền kinh tế đang đi xuống không lường trước được. Do vậy cần
phải có những chính sách, biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo lành mạnh và
hiệu quả, để bảo vệ những người gửi tiền và cổ đông của ngân hàng.
Như vậy : TDNH có vai trò quan trọng không chỉ với bản thân ngân
hàng mà với toàn xã hội.
II. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mạị
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh độ thích nghi
cuả ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, để đánh
giá được ngân hàng mạnh hay yếu thì phải đánh giá được chất lượng tín dụng
và đánh giá dựa trên trên hai khía cạnh định tính và định lượng.
2.1. Chỉ tiêu định tính
Đối với khách hàng :chất lượng tín dụng được thể hiện qua các chỉ
tiêu:
Cảm giác an tâm của ngân hàng khi đến giao dịch với ngân hàng, nếu
ngân hàng có đầy đủ các dịch vụ như có bãi gửi xe, nhân viên trông xe miễn
phí, có bảo vệ thì sẽ tạo được một ấn tượng đầu tiên rất tốt trong lòng khách
hàng. Ngoài ra nếu ngân hàng có sơ đồ làm việc của các phòng ban thì khách
hàng không bị bỡ ngỡ và đỡ tốn thời gian tạo độ tin tưởng cho khách hàng.
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 12 Kế Hoạch 47A
Quy trình thủ tục tín dụng: đảm bảo đúng quy trình thủ tục nhưng phải
nhanh chóng.
Khả năng cung ứng vốn của NHTM đầy đủ và kịp thời, đáp ứng nhu
cầu vốn cho khách hàng,không gây sự ách tắc chậm trễ về vốn gây ảnh
hưởng đến kinh doanh như vi phạm hợp đồng kinh tế do NHTM giải ngân trễ
khi thanh toán.
Điều kiện tài sản bảo đảm: điều kiện tài sản bảo đảm là cần thiết tuy
nhiên nếu quá khắt khe, khách hàng sẽ khó lòng đáp ứng.
* Theo quy định hiện hành : Nghị định 163; Quy định về giao dịch bảo
đảm thì :
+ Một tài sản có thể được thế chấp tại nhiều TCTD.
+ Giá trị khoản tín dụng có thể cao hơn,thấp hơn, hoặc bằng giá trị
của TSBĐ.
+ Thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm.
Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ,
phân tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được ngân hàng cần đẩy mạnh
cho vay theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư
nợ khi so sánh với kết cấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình
cho vay nào là nhiều tử đó ngân hàng có biện pháp hợp lý.
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 14 Kế Hoạch 47A
2.2.2. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn
Hiện tượng nợ quá hạn phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn
hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình đúng
hạn theo cam kết trước đó. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá
hạn và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định
thường là vào cuối các tháng, quý, năm. Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 5% thì chất
lượng tín dụng được coi là tốt
Khi một khoản vay khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết
mà không có lý do chính đáng thì được coi là nợ quá hạn và phải chịu lãi suất
cao hơn mức lãi suất bình thường, trên thực tế phần lớn các khoản nợ quá hạn
là các khoản nợ có vấn đề và chứa đựng lớn khả năng không thu hồi được
vốn. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng càng gặp nhiều khó khăn trong
kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán, mất khách
hàng, giảm uy tín và giảm lợi nhuận hay nói cách khác tỷ lệ nợ quá hạn cao
thì chất lượng tín dụng càng thấp và ngược lại. Để đánh giá chính xác hơn
người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn làm 2 loại:
Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi =
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi
Nợ quá hạn
dụng càng cao phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng
tín dụng càng cao, ngân hàng đóng góp càng nhiều vào sự phát triển chung
của toàn nền kinh tế.
2.2.4. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 16 Kế Hoạch 47A
Đây là chỉ tiêu cơ bản nhất và rõ ràng nhất để phản ánh chất lượng tín
dụng của ngân hàng, nguồn thu từ hoạt động tín dụng chứng tỏ các khoản cho
vay không chỉ thu hồi được nợ gốc mà còn có lãi đảm bảo được độ an toàn
của nguồn vốn cho vay. Đây là chỉ tiêu quan trọng được hầu hết các ngân
hàng theo dõi vì đây là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển.
Thu nhập từ họat động tín dụng =
Lãi từ hoạt động tín dụng
Tổng thu nhập
2.2.5. Chỉ tiêu doanh số cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng cho nền
kinh tế, chỉ tiêu này thường được theo dõi trong thời gian dài và nó cho thấy
khả năng hoạt động tín dụng qua các năm, sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua
các năm, có thể so sánh quy mô dư nợ tín dụng của ngân hàng với các ngân
hàng khác trong cùng hệ thống.
2.2.6. Chỉ tiêu các thông số quy định
Chất lượng tín dụng còn được đánh giá thông qua việc đảm bảo các
quy chế, thể lệ tín dụng chung đã được quy định trước như cho vay một
khách hàng, hệ số an toàn vốn tối thiểu là 8%. Hệ số an toàn vốn tối thiểu
cho biết một đồng vốn tự có bảo vệ bao nhiêu đồng tài sản có rủi ro của ngân
hàng thương mại, nó được tính bằng công thức sau:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu =
Vốn tự có
Tổng dư nợ
Tổng vốn huy động
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 18 Kế Hoạch 47A
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất luợngtín dụng
1. C
Các nhân tố từ phía ngân hàng
1.1. C
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng là một trong những chính sách
quan trọng nằm trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng, đó là yếu tố đầu
tiên tác động đến việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Đây là kim chỉ nam
cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, nó có ý nghĩa quyế định đến sự thành
công hay thất bại của ngân hàng. Tuy nhiên chính sách tín dụng của ngân
hàng phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của nhà nước, của ngân
hàng trung ương đồng thời phải hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền,
của ngân hàng và của người đi vay.
Chính sách tín dụng là đường lối, phương tiện đảm bảo cho hoạt động
tín dụng đi đúng hướng, nó có tác dụng quan trọng liên quan đến toàn bộ chất
lượng và quy mô tín dụng của ngân hàng. Chính sách tín dụng thường được
xác đính trước rấ rõ ràng, nó bao gồm các yếu tố về hạn mức tín dụng, kỳ hạn
của các khoản vay, lãi suất cho vay và các khoản lệ phí, các loại cho vay
được thực hiện. Những yếu tố này được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố khác
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 20 Kế Hoạch 47A
Một bước quan trọng trong quy trình tín dụng là công tác thu thập
thông tin tín dụng, thông tin tín dụng càng nhanh, càng chính xác thì ngân
hàng càng tránh được rủi ro. Thông tin tín dụng có thể thu thập từ rất nhiều
nguồn khác nhau như: từ trung tâm tín dụng của ngân hàng nhà nước, từ
phòng thông tin tín dụng của các ngân hàng thương mại, từ báo chí, các tổ
chức nghề nghiệp, hoặc cán bộ tín dụng thu thập trực tiếp thông qua điều tra
tín dụng trực tiếp khách hàng hoặc qua quá trình thẩm định. Tóm lại, thông
tín tín dụng là rất cần thiết cho hoạt động tín dụng của mọi ngân hàng thương
mại.
Chuẩn bị cho vay: gồm ba giai đoạn: khai thác và tìm kiếm khách
hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và thành lập hồ sơ vay;
phân tích thẩm định khách hàng và phương án, dự án vay vốn. Chất lượng tín
dụng phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm định và quy định về điều kiện, thủ
tục cho vay của từng ngân hàng vì vậy giai đoạn chuẩn bị cho vay có vai trò
rất quan trọng.
Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay để ngân hàng nắm được diễn biến
của khoản tín dụng đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều
chỉnh và can thiệp khi cần thiết, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tối đa hay nâng
cao được chất lượng tín dụng.
Công tác thu hồi và giải quyết nợ là khâu quan trọng quyết định đến
chất lượng tín dụng, việc thu nợ tín dụng đúng hạn như trong cam kết đã thỏa
thuận là một thành công của ngân hàng. Tuy nhiên không phải lúc nào các
khoản nợ cũng được thu hồi đúng hạn vì vậy ngân hàng phải kịp thời phát
hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra với khách hàng và đưa ra biện pháp sử lý
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm
Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định sự thành
bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng đặc biệt là trong hoạt động tín
dụng vì cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy
trình tín dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Nói đến phẩm chất và trình độ cán bộ chúng ta phải kể đến đạo đức nghề
nghiệp, tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là những yếu
tố quyết định đến sự thành công của công tác tín dụng
Ngoài ra là một cán bộ tín dụng của ngân hàng cần phải có sự hiểu biết
về luật pháp, môi trường kinh tế - xã hội, đường lối phát triển của đất nước,
sự biến đổi của thị trường, dự báo tình hình biến động có thể xảy ra từ đó tư
vấn lại cho khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp.
1.5. Kiểm soát nội bộ
Một việc mà bất cứ ngân hàng nào cũng phải tiến hành thường xuyên
và liên tục đó là công tác kiểm soát nội bộ nhằm duy trì chất lượng, hiệu quả
kinh doanh theo kế hoạch đề ra. Thanh tra, kiểm soát là nhằm hoàn thiện hơn
nữa công tác NHTM trong mọi hoạt động, làm tốt công tác này ngân hàng
cần sắp xếp một đội ngũ cán bộ có phẩm chất và trình độ tốt để công tác tín
dụng được thực hiện theo đúng quy trình nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động tín dụng.
Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng nắm
được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra theo chiều hướng thế nào
từ đó có những biện pháp kịp thời và hợp lý hơn.
1.6. Tình hình huy động vốn
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 23 Kế Hoạch 47A
NH là trung gian tài chính mà hoạt động đặc trưng của nó là nhận tiền
gửi,sử dụng số tiền đó để cho vay, và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Vì
vậy muốn mở rộng cho vay thì trước hết phải huy động được nguồn. Nguồn
Ba là: Năng lực của khách hàng, năng lực của khách hàng bao gồm
năng lực pháp lý và năng lực tài chính. Đây là yếu tố quyết định đến việc
khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không, nếu năng lực của khách
hàng yếu kém, không dự đoán được những biến động lên xuống của thị
trường, không hiểu biết nhiều trong sản suất kinh doanh thì sẽ dễ dàng bị thất
bại trong kinh doanh từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng,
suy giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng và ngược lại khi năng lực khách
hàng cao thì chất lượng tín dụng cũng được đảm bảo.
Bốn là: Tư cách đạo đức của khách hàng.đây là vấn đề hết sức nhạy
cảm. Sự trung thực của khách hàng ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng
của ngân hàng, nếu các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng không cung cấp các
số liệu trung thực thì sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình
hình sản xuất kinh doanh cũng như việc quản lý vốn vay của khách hàng để
có quyết định đúng đắn. Nếu khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không
đúng đối tượng kinh doanh, không đúng phương án, mục đích thì gây khó
khăn cho ngân hàng trong quá trình theo dõi kiểm soát làm giảm chất lượng
tín dụng.
Năm là: rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng, đây là yếu
tố khách quan rủi ro xảy đến với nhiều lý do mà cả ngân hàng và khách hàng
đều không lường trước được như do thiên tai, hỏa hoạn, do thay đổi chính
Chuyên đề thực tập TS. Phan Thị Nhiệm Dương Hoàng 25 Kế Hoạch 47A
sách, do bị lừa đảo, trộm cắp. Với loại rủi ro này thì cả ngân hàng và doanh
nghiệp đều phải chấp nhận và tìm hướng giải quyết chung mà không thể ép
khách hàng trả nợ đúng thời hạn được.
Sáu là: Tài sản đảm bảo của khách hàng, đây được coi là phần tài sản
thế chấp của khách hàng cho ngân hàng để được vay vốn, những tài sản này
thường là nhà xưởng, máy móc thiết bị, mặc dù những tài sản này thường có