Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt nam - Pdf 13

Đề tài:

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính tại
Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt nam

Diendan.studentzone.vn

HÀ NỘI, Tháng 02 - 2009
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 6
1.1. TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHO THUÊ TÀI CHÍNH. 6
1
11
1
.1.1. Lịch sử hình thành của hoạt động cho thuê tài chính 6
1.1.2. Chu kỳ phát triển của ngành công nghiệp cho thuê tài chính. 8
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH HIỆN NAY. 10
1.2.1. Các khái niệm cơ bản: 10
1.2.2. Đặc thù của hoạt động CTTC. 15
1.2.3. Các hình thức CTTC hiện nay. 19
1.2.4. Vai trò của CTTC . 28
1.3. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 35
CHƯƠNG II 44
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM. 44
2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH (CTTC) Ở
VIỆT NAM. 44
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của hoạt động CTTC ở Việt Nam. 44
2.1.2 Hành lang pháp lý của hoạt động CTTC ở Việt Nam. 46

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT
NAM. 79
1 Mục tiêu phương hướng cho năm 2009 79
2 Những thuận lợi cho mục tiêu 80
3 Khó khăn để thực hiện mục tiêu 80
4 Nhiệm vụ và giải pháp Error! Bookmark not defined.
1 Phát triển khách hàng, tăng trưởng dư nợ: 81
2 Xử lí nợ xấu: 82
3 Hoàn thiện hệ thống văn bản, quy trình quy chế: 82
4 Ngoài ra, Công ty cần thực hiện một số giải pháp khác như 83
5 Kiến nghị với Ngân hàng ngoại thương Việt nam. 83
6 Kiến nghị với Bộ công an. 84
KẾT LUẬN 85
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay, thế giới nói chung cũng như Việt
Nam nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn. Nhất là việc gia nhập WTO vào năm 2006
của Việt Nam,khiến tình hình cạnh tranh giữa các công ty với nhau là hết sức khốc liệt.
Để có thể tồn tại và đứng vững trên cái thị trường mở này,các công ty phải không ngừng
đổi mới công nghệ,đổi mới phương thức kinh doanh trong đó đổi mới công nghệ,thiết bị
máy móc là yếu tố quan trọng nhất bởi nó quyết định tới chất lượng sản phẩm nói
riêng,và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doang nói chung.
Thực tế cho thấy, việc đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị ở các doanh nghiệp
sản xuất là một đòi hỏi bức thiết trong bối cảnh hội nhập để nâng cao chất lượng sản
phẩm cũng như năng suất lao động, giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Phần lớn các trang thiết bị của nhiều doanh nghiệp đã lạc hậu từ 2-3 thế hệ so với các
nước tiên tiến. Song muôn thuở nan giải vẫn là câu hỏi: lấy vốn ở đâu? Hiện nay lượng
vốn dài hạn đầu tư cho các dự án này ở các doanh nghiệp Việt nam là hết sức khiêm tốn.
Kênh tài trợ quen thuộc vẫn là đi vay ở các ngân hàng thương mại.Tuy nhiên, đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới ra đời không có đủ tài sản đảm bảo cũng

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1. TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHO THUÊ TÀI CHÍNH.

1
11
1
.1.1. Lịch sử hình thành của hoạt động cho thuê tài chính
Người đàn ông dầu hoả J.Paul Getty, tỷ phú đầu tiên trên thế giới, đã phát biểu "Mua làm
tăng giá trị, cho thuê làm giảm giá trị". Ngày nay, hơn 30% trong số những trang thiết bị
được sử dụng ở Hoa Kỳ đều dưới dạng hợp đồng cho thuê. Đây là hình thức hữu hiệu
nhất để gia tăng mở rộng nguồn tài chính trong cả nước. Hơn 80% các công ty- từ nhỏ
mới thành lập cho đến những công ty lớn trong danh sánh Forture 500- đã thuê từ vài hay
tất cả các thiết bị với tổng số giá trị hợp đồng thuê ban đầu gần $300 tỷ mỗi năm.
Thời Đại Hy Lạp Và Babylonia Cổ Đại
Trong chương 1 nếu các phần em tham khảo ở tài liệu nào, thì cần ghi rõ tên tác giả, tên
sách, năm xuất bản, để tránh trường hợp trùng với các bạn khác, nếu trùng, có có bằng
chứng là em tham khảo ở tài liệu nào. Tuy nhiên, tham khảo trong tài liệu, em cũng phải
tóm lược lại, đừng chép y nguyên
Những hình thức cho thuê sớm nhất đã được phát hiện khoảng 5,000 năm. Lịch sử ghi
nhận sự có mặt của một công ty cho thuê vào khoảng năm 1800 trước công nguyên ở
Babylonia. Nếu một nhân viên hay một người lính không muốn trồng trọt trên đất đai mà
họ được cấp sau khi phục vụ cho chế độ quân chủ, anh ta sẽ cho công ty đó thuê lại, đó là
chuyên gia cho thuê. Công ty đã chi trả tiền thuê cho người lính trước và sau đó cho
những người nông dân thuê lại mảnh đất đó.
Người Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên phát triển việc cho thuê hầm mỏ. Nhiều
loại hầm mỏ có kích cỡ khác nhau ở Athens thì thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và nó
sẽ được cho thuê lại thông qua một đặc quyền cho các công ty khai thác mỏ từ 3 đến 7
năm. Người Hy Lạp cổ đại cũng đi tiên phong tạo ra khái niệm ngân hàng cho thuê. Tài
sản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng cho thuê đầu tiên được ký kết vào năm 370 trước
công nguyên trong đó bao gồm tên ngân hàng, tiền ký quỹ, các văn phòng và đội ngũ

dụng tài sản này trong một giai đoạn nhất định nào đó.
Các chuyên gia của Ngân Hàng Thương Mại & Cho Thuê Tài Chính Cardiff (Hoa Kỳ)
nói:“Chúng tôi cho rằng việc thuê tài chính mang lại lợi ích cho tất cả các bên có liên
quan trong niên kỷ tương lai. Cơ chế cho thuê tài chính hướng tới việc đầu tư vào các
nguồn tài sản mà cho phép Doanh nghiệp đi vào hoạt động nhanh chóng và sản sinh ra
mức lợi nhuận hợp lý để bù đắp chi phí thuê mướn”. Những công ty như Ngân hàng
Cardiff khẳng định vị trí độc nhất nhằm mục đích chi phối phạm vi hoạt động này. Trong
khi ấy, các Ngân hàng theo thông lệ lại đầu tư nguồn vốn của họ vào những người đi vay
những người có những quyết định mà họ không thể chi phối và kiểm soát được một cách
dễ dàng

1.1.2. Chu kỳ phát triển của ngành công nghiệp cho thuê tài chính.
Mặc dù ngành công nghiệp cho thuê tài chính trong mỗi quốc gia phát triển theo tuỳ
theo tốc độ tăng trưởng của quốc gia đó, nhưng tất cả đều theo khuynh hướng của một
chu kỳ tiến triển chắc chắn. Chu kỳ cho thuê tài chính này được minh hoạ ở sơ đồ dưới
đây. Sự liên quan mật thiết giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sẽ giúp những
người cho thuê hiểu rõ hơn về môi trường cạnh tranh mà họ đang phải đối mặt một khi đã
hội nhập vào thị trường quốc tế.
Số sơ đồ: Sơ đồ chu kỳ phát triển của hoạt động Cho thuê tài chính
Nguồn tham khảo, đặt cuối sơ đồ
Cho thuê tài chính
(Finance leases)

Cho thuê tài chính linh hoạt

thiết để khấu hao tài sản thuê;
o Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài
chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm
ký hợp đồng
Do đó cho thuê tài chính thực ra là một hình thức cấp tín dụng. Khi một hợp đồng
thuê tài chính được ký kết, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được cấp một khoản
vốn. Khoản vốn này có được do doanh nghiệp không phải bỏ tiền ra mua tài sản mà
vẫn có tài sản sử dụng lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì đáng lẽ ra, có
thể doanh nghiệp đã phải đi vay một số vốn tương đương giá trị tài sản trong hợp
đồng thuê trả cho công ty cho thuê tài chính bao gồm cả vốn gốc và lãi.
b. Bên cho thuê:
Bên cho thuê là người nắm quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản cho thuê, là các
công ty cho thuê tài chính có tư cách pháp nhân, được cấp giấy phép hoạt động.
c. Bên thuê:
Bên thuê là người nắm quyền sử dụng tài sản thuê, là các cá nhân, các doanh
nghiệp được thành lập theo pháp luật, trực tiếp sử dụng tài sản thuê trong thời hạn
thuê.
d. Tài sản thuê:
Tài sản thuê là động sản như máy móc, thiết bị Theo Khoản 3, Điều 7 Nghị định
16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 thì tài sản thuê là máy móc, thiết bị, phương tiện
vận chuyển và các động sản khác đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tiến tiến, có giá trị sử
dụng hữu ích trên một năm được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu.
e. Thời hạn cho thuê:
Là thời gian bên thuê sử dụng tài sản thuê và trả tiền thuê, được bên cho thuê và
bên thuê thoả thuận trong hợp đồng CTTC.
f. Tiền thuê:
Tiền thuê là khoản tiền bên đi thuê phải thanh toán cho bên cho thuê theo thoả
thuận trong hợp đồng.
g. Phí cho thuê:
Trong hoạt động CTTC phí cho thuê được tính trên cơ sở lãi suất cho vay trung

16 được Chính phủ ban hành năm 2001 quy định về tổ chức và hoạt động của
Công ty cho thuê tài chính (CTCTTC)
Ở Việt nam, theo Điều 1 của Nghị định này, một giao dịch được gọi là CTTC phải
thoả mãn một trong các điều kiện sau:
1) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển
quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo thoả thuận của hai
bên.
2) Nội dung của hợp đồng cho thuê có qui định: khi kết thúc thời hạn thuê,
bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp
hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại.
3) Thời hạn thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời hạn cần thiết để
khấu hao tài sản thuê.
4) Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui định tại hợp đồng thuê, ít nhất phải
tương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợp
đồng.
Như vậy, có thể khái quát các tiêu chuẩn quy định một giao dịch là CTTC của một số
quốc gia trên thế giới theo bảng sau:
Hạn chế sử dụng đại từ nhân xưng (em, chúng ta) trong chuyên đề, chỉ dùng chữ tôi
trong mở đầu và kết luận nếu thực sự cần
Bảng 1.1:
Bảng thống kê tiêu chuẩn để một giao dịch được gọi là CTTC của một số quốc
gia trên thế giới.
Nếu bảng này không do em tự tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo
IASC Mỹ Anh Nhật Hàn Quốc Indonesia Việt Nam
- Chuyển
giao
quyền sở
hữu khi
kết thúc
hợp đồng.

quá 30
năm
Phần lớn

Tài sản
≤ 10
năm:
70%,
Tài sản
>10
năm:
60%
Tài sản > 5
năm: 60%,
Tài sản ≤5
năm:
70%
Tài sản có
đời sống
≥2 năm
≥75%
- Hiện giá
thuần các
Bằng
hoặc
≥90% ≥90% ≤90% Trả đủ
tiền thuê
Bằng hoặc
lớn hơn
khoản tiền

doanh nghiệp đi vay bị phá sản thì bên cho thuê tài sản mặc nhiên thu hồi tài sản của
mình. Do đó, về lý thuyết, tín dụng thông qua hoạt động cho thuê tài chính có mức độ an
toàn cao hơn tín dụng bằng tiền.
Như vậy, hoạt động CTTC có ưu điểm hơn so với tín dụng trung và dài hạn của ngân
hàng. Nó giúp cho các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với nguồn vốn
trung và dài hạn, đồng thời nó có độ an toàn cao hơn xét trên phương diện nhà tài trợ.
Bảng 1.2: Sự khác biệt giữa CTTC và Tín dụng ngân hàng
Nếu bảng này không do em tự tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo

Tiêu thức so sánh Cho thuê tài chính Tín dụng ngân hàng
- Hình thức tài trợ. Bằng hiện vật Bằng tiền
- Đối tượng. Động sản Động sản và bất động sản
- Quyền sở hữu Do bên cho thuê nắm giữ
cho đến khi quyền mua của
bên thuê được thực hiện.
Bên đi vay chiếm giữ ngay
từ đầu.
II Sự khác biệt của CTTC với hình thức thuê mua trả góp.
Hình thức tín dụng thuê mua hay còn gọi là thuê mua trả góp chính là sự phát triển
của hình thức tín dụng thương mại. Sở dĩ có sự phát triển này là do trong những thập kỷ
gần đây thuê mua trả góp đã được các nhà chế tạo phát triển nó thành một hình thức tài
trợ vốn thông qua tài sản hiện vật và nó cũngđược các định chế tài chính, các nhà kinh
doanh cho thuê sử dụng như một hình thức tài trợ cho thuê.
Tín dụng thuê mua trả góp là một hình thức mua trả góp tài sản trong một khoảng
thời gian từ 1 tới 5 năm, được áp dụng đối với trường hợp người mua có thế chấp và cả
không có thế chấp. Nhưng trong hầu hết mọi giao dịch, tín dụng thuê mua trả góp là một
hình thức tài trợ vốn cho người thuê không có thế chấp.
Khi bên thuê có nhu cầu thuê mua tài sản theo hình thức này, họ sẽ thiết lập hợp đồng
với chủ tài sản. Trong đó bên thuê thường phải trả ngay cho nhà tài trợ một khoản tiền từ
25% đến 30% giá trị của tài sản, phần còn lại bên thuê sẽ phải trả góp làm nhiều lần, mỗi

bộ số tiền ngay lập tức. Tuy nhiên, cho thuê vận hành có một số nét khác biệt so với
CTTC được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.4: Phân biệt CTTC và Cho thuê vận hành. Nếu bảng này không
do em tự tập hợp lên, thì phải ghi nguồn tài liệu tham khảo

Cho thuê tài chính Cho thuê vận hành.
1.Thời hạn thuê.
Thường dài hơn một nửa cho đến bằng đời
sống hữu ích của tài sản.

Rất ngắn so với đời sống hữu ích của tài
sản.
2.Quyền huỷ ngang hợp đồng.
- Không được quyền huỷ ngang hợp đồng.

- Được quyền huỷ ngang hợp đồng.
3.Mức thu hồi vốn của một hợp đồng.
- Thông thường mức vốn gốc được thu hồi
gần bằng với giá trị tài sản (tổng số tiền tài
trợ), đặc biệt đối với cho thuê động sản.

- Mức vốn được thu hồi nhỏ hơn rất nhiều
so với giá trị tài sản.
4.Trách nhiệm bảo dưỡng, bảo hiểm và
đóng thuế tài sản.
- Người thuê chịu mọi chi phí vận hành,
bảo dưỡng, phí bảo hiểm và đóng thuế tài
sản.


I Phân loại CTTC dưới phương diện người cho thuê.
A. CTTC hai bên (Two-party Lease).
Là loại hợp đồng CTTC trong đó người cho thuê sử dụng thiết bị của họ có sẵn tài trợ
cho bên thuê.
Người cho thuê thường là các nhà sản xuất hoặc các công ty cho thuê, sử dụng tài sản
của họ để tài trợ cho người thuê. Hình thức tài trợ này có đặc điểm cơ bản sau:
o Hàng hoá cho thuê thường là những tài sản có giá trị không quá lớn thường
là máy móc, thiết bị.
o Chỉ có hai bên tham gia trực tiếp vào giao dịch: Bên cho thuê và bên đi thuê.
o Vốn tài trợ hoàn toàn do bên cho thuê đảm nhận.
o Người cho thuê có thể mua lại máy móc, thiết bị khi chúng đã lạc hậu.
Phương thức tài trợ này có sự tham gia của hai bên được thực hiện như sau:
Sơ đồ 1.1: CTTC có sự tham gia của hai bên. Đây là một hình thức tài trợ mà các nhà sản xuất thường sử dụng để đẩy mạnh
việc tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra. Mặt khác, nhờ luôn luôn cập nhật những công
nghệ mới để chế tạo các loại máy móc, thiết bị nên các nhà sản xuất có thể sẵn sàng mua
lại những thiết bị đã lạc hậu về mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp những máy móc mới,
hiện đại do họ chế tạo ra.
B. CTTC ba bên (Third-party Lease).
Là loại hợp đồng CTTC ghi rõ nhà cung cấp, đó là người mà bên cho thuê ký hợp
đồng mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê để tài trợ cho họ. Đây là hình thức được phổ
biến ở các nước có thị trường cho thuê chưa phát triển.

7. Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho bên thuê.
8. Bên thuê thanh toán tiền thuê định kỳ cho bên cho thuê.
Phương thức tài trợ có sự tham gia của ba bên còn gọi là phương thức thuê mua thuần
(net lease) là phương thức được áp dụng phổ biến nhất hiện nay, đặc biệt là ở các nước
đang phát triển. Trên thế giới, 80% hợp đồng CTTC áp dụng theo phương thức này.
C. CTTC liên kết (Syndicate Lease)
Đây là phương thức cho thuê gồm nhiều bên tài trợ cho một người thuê. Sự liên kết
này có thể xảy ra theo chiều ngang hoặc chiều dọc tuỳ theo tính chất của loại tài sản hay
khả năng tài chính của các nhà tài trợ. Trong trường hợp tài sản có giá trị lớn, nhiều định
chế tài chính hay các nhà chế tạo cùng nhau hợp tác để tài trợ cho người thuê tạo thành sự
liên kết theo chiều ngang. Còn đối với trường hợp các đinh chế tài chính hay các nhà chế
Bên cho thuê
(Lessor)
Bên thuê
(Lessee)

Nhà cung cấp
(Supplier)

tạo lớn giao tài sản cho chi nhánh của họ thực hiện giao dịch tài trợ cho khách hành thì
hình thành sự liên kết theo chiều dọc.
Các bước và đặc điểm trong giao dịch với bên thuê của hình thức này không khác biệt
lớn so với phương thức cho thuê điển hình.

Bên cho thuê Bên thuê
1.Có thể có sự liên kết giữa các định chế
tài chính và các nhà sản xuất hay các công
ty mẹ và các chi nhánh.
1.Là một doanh nghiệp nhận tài sản thuê.
2.Đối tượng cho thuê là những loại tài sản
Phương thức tài trợ này thường được sử dụng trong các giao dịch cho thuê đòi hỏi
một lượng vốn đâù tư lớn, chẳng hạn cho thuê máy bay thương mại, tàu chở hàng hay
một tổ hợp chuyên ngành lớn. Hình thức cho thuê này đem lại lợi nhuận và mở rộng khả
năng tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn của Công ty CTTC.
E. CTTC môi giới (Broker Lease).
Đây là hình thức cho thuê chỉ được áp dụng ở những nước mà công nghệ cho thuê đã
phát triển rất mạnh. Theo phương thức tài trợ này, những nhà môi giới cho thuê có thể
tìm kiếm những người có nhu cầu thuê, thoả thuận với nhà cung cấp (hoặc những nhà sản
xuất), bảo đảm những khoản nợ tài trợ cho người cho thuê để sử dụng trong việc mua các
Bên thuê
(Lessee)

Bên cho
thuê
(Lessor)

Bên cho
vay
(Lender
)
Tiền
trả

Bên thuê
(lessee)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status