Những phương pháp và biện pháp thích hợp để dạy học truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ở lớp 12 - Pdf 13

Phần I: Đặt vấn đề
Lý do chọn đề tài.
Thực trạng các giờ dạy đọc văn hiện nay còn đơn điệu tẻ nhạt, khiến học
sinh không hứng thú học văn dẫn đến chất lợng môn này ngày càng giảm sút. Một
trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng đó là khi hớng dẫn học
sinh đọc hiểu tác phẩm, nhiều giáo viên không xác định đúng chất của loại
trong thể. Xa rời bản chất loại thể của tác phẩm. Vì thế khi khai thác tác phẩm
văn học không những không làm cho tác phẩm trở nên sống động, giàu sức hấp
dẫn mà ngợc lại làm cho tác phẩm khô khan, chết cứng. Bệnh công thức cứng
nhắc, bệnh rập khuôn, máy móc, bệnh xã hội dung tục đều sinh ra từ đó.
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một trong những tác phẩm hay,
đặc sắc trong chơng trình ngữ văn THPT đợc giảng dạy ở lớp 12. Tác phẩm không
phải chỉ đem tới thông tin mà là một hệ thống tín hiệu kích thích để bùng nổ
thông tin. Nói theo cách lập luận của thầy Nguyễn Viết Chữ: ở đây cái lạ, cái
thật, cái ảo, cái thực trong thế giới hình tợng nghệ thuật gợi mở ra bao nhiêu
điều thú vị trong trờng liên tởng của ngời đọc. (Phơng pháp dạy học tác phẩm
theo loại thể - T.S Nguyễn Viết Chữ - NXBĐHQG Hà Nội - 2001).
Nhng tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành cũng nh một số tác
phẩm khác trong chơng trình ngữ văn THPT hiện nay vẫn cha đợc tiến hành khai
thác đúng hớng. Trong nhà trờng vẫn giảng Rừng xà nu nh một truyện ngắn tự
sự. Nguyễn Xuân Lạc trong cuốn Để thấy những vì sao nhận xét: T tởng dạy
học văn mới vẫn cha chiếm lĩnh đợc trận địa giảng dạy, phần đông giáo viên hiện
nay vẫn giảng dạy theo phơng pháp cũ. Sự đơn điệu của cách dạy này trớc hết ở
nội dung giảng dạy, ở cách khai thác, phân tích tác phẩm văn chơng. Chính vì
thế ngời tiếp nhận không lĩnh hội đợc những vấn đề ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở
cái bề xa của tác phẩm.
Yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay là phải xác định đúng chất của loại
trong khi hớng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm. Bởi Giảng dạy tác phẩm theo
loại thể chính là một phơng diện lớn của việc giảng dạy tác phẩm văn học trong
1
sự thống nhất giữa hình thức với nội dung, một sự giảng dạy đi đúng hớng với quy

đợc nhớ nh nhà văn của Tây Nguyên. Trong tác phẩm của Nguyễn Trung Thành
luôn chất chứa chất thơ làm say lòng ngời. Ngời đọc luôn bắt gặp ở đây bút pháp
trữ tình và anh hùng ca luôn luôn cất lên ở cung bậc cao, phù hợp với khung cảnh
cuộc sống và con ngời đợc phản ánh.
Cảm hứng trữ tình thấm đợm, giọng điệu đằm thắm sôi nổi, cảm xúc tinh
tế, ngọt ngào, cái nhìn lành - khỏe, trong trẻo, cách hành văn vừa phơi phới lại
lắng sâu, và vẻ trang trọng giàu tính sử thi là những cung bậc khác nhau cùng
thống nhất trong ngòi bút của Nguyễn Trung Thành.
3
Về mặt chọn lọc chi tiết Nguyễn Trung Thành cũng đứng ở góc độ riêng.
Nếu nh Phan Tứ hay Anh Đức bao giờ cũng đa vào truyện của mình những chi
tiết chân thực để cố gắng biểu hiện một cuộc sống với tất cả vẻ gồ ghề, gai góc
của nó, thì trái lại, Nguyễn Trung Thành thờng đi sâu vào những chi tiết giàu chất
thơ, những gì đã xúc động tâm hồn nhà văn một cách mạnh mẽ. Cảnh vật, con ng-
ời và cuộc sống trong văn của Nguyễn Trung Thành bao giờ cũng đẹp, một vẻ đẹp
huyền ảo nh đợc tô điểm bằng những màu sắc lãng mạn, làm cho ngời đọc phải
say sa, ngây ngất.
Sở trờng của Nguyễn Trung Thành là miêu tả những nhân vật anh hùng với
những nét khái quát cô đọng, hàm súc, tạo nên những hình khối lớn, những tính
cách kiên cờng. Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định vẻ đẹp độc đáo trong sáng tác
nghệ thuật và quan niệm về con ngời của nhà văn. Đó là quan niệm độc đáo về
con ngời anh hùng Nguyên Ngọc suốt đời đi tìm cái hùng - cũng là cái đẹp trong
cảm quan thẩm mỹ của anh. Đối với Nguyên Ngọc, đó là một nhu cầu tự thân,
một sự thôi thúc bên trong, thôi thúc của máu . Một điều đặc biệt là tác giả có
tài chọn lọc những chi tiết nhỏ, những chi tiết giàu tính tạo hình, và giàu chất thơ
làm phong phú thêm tính cách nhân vật.
2. Tây Nguyên là mảnh đất có nền văn hoá với nhiều truyền thuyết đẹp, với
những mối quan hệ tốt đẹp giữa những con ngời và thiên nhiên. Sức mạnh, sự
hùng mạnh của núi đá cao lớn, sông dữ, rừng thẳm, của những cây đại thụ trờng
sinh, của muôn loài cầm thú cũng là sức mạnh, sự hùng dũng của con ngời. Vẻ

phẩm. Tác phẩm đợc dạy trong hai tiết, vì vậy giáo viên phải hớng dẫn học sinh
đọc trớc ở nhà. Giáo viên phải làm rõ đâu là giọng kể, đâu là giọng tả, đâu là
giọng trần thuật, giọng đối thoại. Việc đọc phải làm nổi lên đợc những cung bậc
tình cảm của tác giả làm cho lời văn đọc lên lúc âm vang, lúc thiết tha sâu lắng.
Đọc làm sao để sống dậy đợc những tâm t, tình cảm của nhân vật gửi đằng sau
những câu chữ ngủ yên.
5
- Sử dụng phơng pháp gợi mở và biện pháp nêu vấn đề thông qua việc xây
dựng hệ thống câu hỏi trong bài giảng để tạo bầu không khí văn chơng. Coi học
sinh là bạn đọc sáng tạo, ngời giáo viên cần tôn trọng sự tiếp nhận của cá nhân
học sinh, đồng thời khơi gợi tổ chức cho học sinh tự hoạt động để đến với tác
phẩm một cách dê dàng.
Trong khi giảng giáo viên cần sử dụng biện pháp nêu vấn đề. Cơ chế của
biện pháp này là: Giáo viên đặt câu hỏi - học sinh tri giác - giáo viên tổ chức quy
trình giải quyết. Muốn tạo đợc tình huống có vấn đề phải xây dựng đợc một hệ
thống câu hỏi có vấn đề (chứa đựng những mâu thuẫn, trong nhận thức đánh giá).
Khi sử dụng phơng pháp này giáo viên cần hớng dẫn học sinh giải quyết vấn đề
một cách đầy đủ, chính xác bằng hình thức câu hỏi gợi mở.
- Phơng pháp giảng bình: Giảng bình đã trở thành một bí quyết trong giảng
văn, khiến giờ giảng văn trở nên hứng thú mang màu sắc cảm xúc và văn học rõ
rệt.
- Phơng pháp nghiên cứu cần đợc vận dụng nhằm giúp học sinh hình thành
và rèn luyện năng lực hoạt động t duy sáng tạo. tuy nhiên do thời gian có hạn, ph-
ơng pháp này chỉ nên thực hiện dới dạng những bài tập ở nhà hoặc trong buổi
ngoại khóa.
- Phải có sự đan xen của các phơng pháp.
3. Xây dựng hệ thống câu hỏi
Chú ý câu hỏi hình dung tởng tợng, giảm câu hỏi phát hiện. Câu hỏi hớng
vào ba hình tợng: rừng xà nu, cụ Mết, tnú và dân làng Xô man, Tnú và hình tợng
đôi bàn tay đẫm chất sử thi. Ngoài ra, các câu hỏi nên hớng vào các hình tợng

trong mỗi bếp, trong đống lửa nhà ng tập hợp dân làng, ngọn đuốc xà nu cháy
sáng soi những đoạn rừng đêm, khói xà nu làm tấm bảng cho Tnú và Mai học
chữ
+ Xà nu tham dự vào những sự kiện quan trọng của cuộc sống chống Mĩ:
ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết và tất cả dân làng vào rừng lấy dáo
mác đã giấu kỹ, chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, và đêm đêm làng Xô Man thức dới
7
ánh đuốc xà nu, mài vũ khí; giặc đốt hai bàn tay của Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà
nu ; cũng ngọn lửa từ những đuốc xà nu soi sáng rực cái đêm cả làng nổi dậy, soi
rõ xác mời tên lính giặc bị giết ngổn ngang quang đống lửa lớn giữa làng
+ Xà nu chứng kiến sự giác ngộ, sự hy sinh thầm lặng, lòng dũng cảm, ý
chí quật khởi của dân làng Xô Man: ánh lửa xà nu soi sáng lời dặn của anh Quyết
ngời còn sống thì phải chuẩn bị vũ khí, sẽ có ngày dùng tới . Lửa xà nu thử
thách ý chí cũng nh lòng dũng cảm của Tnú không có gì đợm bằng nhựa xà nu.
Lửa bắt rất nhanh. Mời ngón tay đã thành mời ngọn đuốc lòng căm thù cháy
giần giật nh nhựa xà nu bén nhạy để bàn tay hận thù, thành bàn tay trả thù.
Câu hỏi 5: Việc chọn cây xà nu để miêu tả nhiều lần và làm phông nền
trong tác phẩm có tác dụng gì?
Dự kiến trả lời:
Hình tợng cây xà nu tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi lãng mạn cho
câu chuyện về làng Xô Man kiên cờng, là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của
Nguyễn Trung Thành. Với hình tợng này, nhà văn đã thể hiện không gian nghệ
thuật rộng, phản ánh đợc bức tranh hoành tráng của cuộc kháng chiến của nhân
dân Tây Nguyên. Làm nền cho câu chuyện mang vẻ đẹp trữ tình, chất thơ nhng
cũng mang đậm chất anh hùng ca.
Câu hỏi 6: ấn tợng sâu sắc nhất về nhân vật cụ Mết
Dự kiến trả lời:
- Là nhân vật tợng trng cho lịch sử, cho truyền thống của dân làng:
+ Ông cụ mang một vẻ đẹp cờng tráng, trong t thế kiêu dũng ngực căng
nh một cây xà nu lớn , mang vẻ đẹp nh ta đã bắt gặp trong huyền thoại Đam

lúc bi thơng nhất khi vợ anh - Mai bị giặc bắt tra tấn trớc dân làng. Tnú tận mắt
chứng kiến, đôi mắt anh nh hai cục lửa lớn, anh nhảy xổ vào bọn lính, dang hai
cánh tay chắc nh hai cánh lim ôm lấy mẹ con Mai.
+ Tnú không cứu đợc vợ con, bản thân anh bị giặc bắt, đốt 10 đầu ngón tay
bằng giẻ tẩm nhựa xà nu.
+ Anh ra đi lực lợng, bàn tay hận thù đã thành bàn tay trả thù.
9
Câu hỏi 9: Tại sao Tnú có sức mạnh về thể chất, có lòng dũng cảm, sự gan
góc cùng tình thơng yêu vô hạn với vợ con mà không bảo về đợc vợ con và bản
thân anh thì bị bắt, bị đốt 10 đầu ngón tay? Hình ảnh về bàn tay Tnú bị đốt cháy
gợi cho em suy nghĩ gì?
Dự kiến trả lời:
Hình ảnh đó không chỉ tố cáo tội ác man rợ của kể thù mà còn nêu lên một
chân lý sâu sắc, đau đớn: Khi Tnú cha có vũ khí trong tay thì thứ nhựa thấm đợm
của núi rừng Tây Nguyên cũng thành ngọn lửa hủy diệt bàn tay vun xới cho cây.
Câu hỏi 10: Nhận xét về nghệ thuật xây dựng hình tợng nhân vât Tnú?
Dự kiến trả lời:
- Ngôn ngữ trang trọng để xây dựng nhân vật đẹp đến mức lý tởng, đẹp nhất
là chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
- Dùng những hình ảnh ấn tợng và biểu tợng: Hình ảnh bàn tay gợi ra
những chặng đờng đời của nhân vật vừa gợi ra những nét phẩm chất cụ thể; đó là
bàn tay nuôi dấu cán bộ, bàn tay cầm phấn viết chữ, bàn tay lấy đá đập vào đầu
cho nhớ chữ, bàn tay tình nghĩa khi gặp lại Mai, bàn tay khắc cốt ghi xơng mối
thù và trở thành bàn tay quả báo.
Câu hỏi 11: Khi gặp Dít Tnú chợt nhận ra Mai! Trớc mặt anh là Mai
đấy! Em có suy nghĩ gì về hình tợng Dít? Có phải hình tợng Dít là sự tiếp nối vẻ
đẹp của Mai không?
Dự kiến trả lời:
- Mai xa kia chỉ biết yêu thơng còn hình tợng Dít, hình tợng thanh niên của
thời đại cách mạng không chỉ biết yêu thơng mà còn biết căm giận, biết vùng lên,

của Nguyễn Trung Thành từ góc độ loại thể. Những suy nghĩ tìm tòi của bản thân
11
bắt nguồn từ một ý nguyện rất chính đáng là làm sao bộ môn ngữ văn trong nhà
trờng ngày càng phát huy mạnh mẽ hiệu lực giáo dục phong phú của nó, góp phần
đắc lực vào việc thực hiện mục đích giáo dục của nhà trờng phổ thông trong giai
đoạn hiện nay.
Sau những cố gắng, nỗ lực kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp thực hiện, thực
tế cho thấy tôi đã gặt hái đợc nhiều kết quả khá khả quan. Nhiều em đã thực sự có
hứng khi học bộ môn này. Một số em trớc đây chán ghét môn văn nay có thể hoà
hợp vào không khí chung của lớp. Chính sự yêu thích, hứng thú học tập này là
động lực thúc đẩy các em có ý thức chuẩn bị bài vở, su tầm tài liệu, hăng hái tham
gia thảo luận trong giờ học. Sự cố gắng ấy khiến cho kết quả học tập của các em
tiến bộ hơn nhiều so với năm học trớc.
2. ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
1. Lý thuyết về phơng pháp giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể đã
khẳng định: Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dới hình thức một loại thể nhất
định, đòi hỏi một phơng pháp, một cách thức giảng dạy phù hợp với nó. Bởi vậy,
qua báo cáo sáng kiến kinh nghiệm lần này, chúng tôi muốn khẳng định thêm
một lần nữa vấn đề loại thể văn học trong thực tiễn giảng dạy ở trờng phổ thông
đặt ra không những nh một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn là vấn đề phơng pháp.
Chúng tôi đã trình bày một cách đầy đủ nhất các công việc chính, các thao tác,
các biện pháp và phơng pháp thích hợp để có thể giúp giáo viên tiến hành dạy -
học tốt tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành từ góc độ loại thể.
Chúng tôi - những giáo viên trực tiếp giảng dạy - thực sự mong muốn góp phần
nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục, sự nggiệp trồng ngời của đất nớc, mà tr-
ớc hết là làm sao chấm dứt đợc tình trạng học sinh hiện nay chán học môn văn.
Bằng phơng pháp dạy học văn mới mà chúng tôi đã thể hiện trong giờ dạy đọc
văn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành hi vọng làm sống dạy tình yêu văn
chơng không chỉ đối với những thày cô giáo dạy văn mà còn làm sống dạy tình
yêu văn chơng của các em học sinh, để qua đó bồi dỡng tâm hồn các em, giúp các

3. Nguyễn Viết Chữ (2001) “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo
loại thể - NXBĐHQQG - 4. Nhị Ca - “Bàn tay Tnú và cây xà nu” - Văn Nghệ
quân đội.
5. Nhiều tác giả (2005) “Nâng cao kỹ năng làm văn nghị luận” - NXBGD - .
6. Huỳnh Tấn Kim Khánh (2001) “Bài giảng văn học THPT” - NXB trẻ - .
7. Ngữ văn 12 - t2 - NXBGD - 2008.
8. Ngữ văn 12 - t2 - SGV- NXBGD- 2008.
MỤC LỤC
Phần I: Đặt vấn đề- lý do chọn đề tài 1
Phần II - Nội dung nghiên cứu 3
A - Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
15
B - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
C - Phương pháp nghiên cứu 3
I - Cơ sở lý luận của đề tài 3
II - Những phương pháp và biện pháp thích hợp để dạy- học tác phẩm
“Rừng xà nu” từ góc độ loại thể.
Phần III - Kết quả thử nghiệm 12
PhÇn IV - Bµi häc kinh nghiÖm 14
Tµi liÖu tham kh¶o 15
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status