www.sangkienkinhnghiem.com
Phần I: Đặt vấn đề
Lý do chọn đề tài.
Thực trạng các giờ dạy đọc văn hiện nay còn đơn điệu tẻ nhạt, khiến học
sinh không hứng thú học văn dẫn đến chất lượng môn này ngày càng giảm sút.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng đó là khi hướng dẫn
học sinh đọc hiểu tác phẩm, nhiều giáo viên không xác định đúng “chất của loại”
trong thể. Xa rời bản chất loại thể của tác phẩm. Vì thế khi khai thác tác phẩm
văn học không những không làm cho tác phẩm trở nên sống động, giàu sức hấp
dẫn mà ngược lại làm cho tác phẩm khô khan, chết cứng. “Bệnh công thức cứng
nhắc, bệnh rập khuôn, máy móc, bệnh xã hội dung tục đều sinh ra từ đó”.
“Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là một trong những tác phẩm hay,
đặc sắc trong chương trình ngữ văn THPT được giảng dạy ở lớp 12. Tác phẩm
không phải chỉ đem tới thông tin mà là một hệ thống tín hiệu kích thích để bùng
nổ thông tin. Nói theo cách lập luận của thầy Nguyễn Viết Chữ: “ở đây “cái lạ”,
“cái thật”, “cái ảo”, “cái thực” trong thế giới hình tượng nghệ thuật gợi mở ra bao
nhiêu điều thú vị trong trường liên tưởng của người đọc”. (Phương pháp dạy học
tác phẩm theo loại thể - T.S Nguyễn Viết Chữ - NXBĐHQG Hà Nội - 2001).
Nhưng tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành cũng như một số
tác phẩm khác trong chương trình ngữ văn THPT hiện nay vẫn chưa được tiến
hành khai thác đúng hướng. Trong nhà trường vẫn giảng “Rừng xà nu” như một
truyện ngắn tự sự. Nguyễn Xuân Lạc trong cuốn “Để thấy những vì sao” nhận
xét: “Tư tưởng dạy học văn mới vẫn chưa chiếm lĩnh được trận địa giảng dạy,
phần đông giáo viên hiện nay vẫn giảng dạy theo phương pháp cũ. Sự đơn điệu
của cách dạy này trước hết ở nội dung giảng dạy, ở cách khai thác, phân tích tác
phẩm văn chương”. Chính vì thế người tiếp nhận không lĩnh hội được những vấn
đề “ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa” của tác phẩm.
Yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay là phải xác định đúng “chất của loại”
trong khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm. Bởi “Giảng dạy tác phẩm theo
1
www.sangkienkinhnghiem.com
kiểm nghiệm qua thực tế giảng dạy
I. Cơ sở lý luận của đề tài.
1. Nhà văn là người thai nghén sinh ra tác phẩm, là cha đẻ của tác phẩm,
bởi vậy để hiểu rõ tác phẩm thì phải hiểu thi pháp của nhà văn. Nguyễn Trung
Thành được nhớ như nhà văn của Tây Nguyên. Trong tác phẩm của Nguyễn
Trung Thành luôn chất chứa chất thơ làm say lòng người. Người đọc luôn bắt gặp
ở đây bút pháp trữ tình và anh hùng ca luôn luôn cất lên ở cung bậc cao, phù hợp
với khung cảnh cuộc sống và con người được phản ánh.
Cảm hứng trữ tình thấm đượm, giọng điệu đằm thắm sôi nổi, cảm xúc tinh
tế, ngọt ngào, cái nhìn lành - khỏe, trong trẻo, cách hành văn vừa phơi phới lại
3
www.sangkienkinhnghiem.com
lắng sâu, và vẻ trang trọng giàu tính sử thi là những cung bậc khác nhau cùng
thống nhất trong ngòi bút của Nguyễn Trung Thành.
Về mặt chọn lọc chi tiết Nguyễn Trung Thành cũng đứng ở góc độ riêng.
Nếu như Phan Tứ hay Anh Đức bao giờ cũng đưa vào truyện của mình những chi
tiết chân thực để cố gắng biểu hiện một cuộc sống với tất cả vẻ gồ ghề, gai góc
của nó, thì trái lại, Nguyễn Trung Thành thường đi sâu vào những chi tiết giàu
chất thơ, những gì đã xúc động tâm hồn nhà văn một cách mạnh mẽ. Cảnh vật,
con người và cuộc sống trong văn của Nguyễn Trung Thành bao giờ cũng đẹp,
một vẻ đẹp huyền ảo như được tô điểm bằng những màu sắc lãng mạn, làm cho
người đọc phải say sưa, ngây ngất.
Sở trường của Nguyễn Trung Thành là miêu tả những nhân vật anh hùng
với những nét khái quát cô đọng, hàm súc, tạo nên những hình khối lớn, những
tính cách kiên cường. Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định vẻ đẹp độc đáo trong
sáng tác nghệ thuật và quan niệm về con người của nhà văn. Đó là quan niệm độc
đáo về con người anh hùng “Nguyên Ngọc suốt đời đi tìm cái hùng - cũng là cái
đẹp trong cảm quan thẩm mỹ của anh. Đối với Nguyên Ngọc, đó là một nhu cầu
tự thân, một sự thôi thúc bên trong, thôi thúc của máu ”. Một điều đặc biệt là tác
giả có tài chọn lọc những chi tiết nhỏ, những chi tiết giàu tính tạo hình, và giàu
lần, hoặc đọc thuộc.
2. Vận dụng đan xen bốn phương pháp lớn trong giờ dạy - học “Rừng xà nu”
- Phương pháp đọc sáng tạo.
Đối với học sinh, cái khó khăn lớn nhất là phải làm sao mà vượt qua được
những yếu tố hữu hình của ngôn ngữ để nắm bắt được những yếu tố vô hình của
tác phẩm như một chỉnh thể. Vì vậy giáo viên phải vận dụng phương pháp đọc
sáng tạo. Đọc để nhận thức được nội dung tác phẩm, phong cách tác giả thể hiện
trong tác phẩm. Tác phẩm được dạy trong hai tiết, vì vậy giáo viên phải hướng
dẫn học sinh đọc trước ở nhà. Giáo viên phải làm rõ đâu là giọng kể, đâu là giọng
tả, đâu là giọng trần thuật, giọng đối thoại. Việc đọc phải làm nổi lên được những
5
www.sangkienkinhnghiem.com
cung bậc tình cảm của tác giả làm cho lời văn đọc lên lúc âm vang, lúc thiết tha
sâu lắng. Đọc làm sao để sống dậy được những tâm tư, tình cảm của nhân vật gửi
đằng sau những câu chữ ngủ yên.
- Sử dụng phương pháp gợi mở và biện pháp nêu vấn đề thông qua việc
xây dựng hệ thống câu hỏi trong bài giảng để tạo bầu không khí văn chương. Coi
học sinh là bạn đọc sáng tạo, người giáo viên cần tôn trọng sự tiếp nhận của cá
nhân học sinh, đồng thời khơi gợi tổ chức cho học sinh tự hoạt động để đến với
tác phẩm một cách dê dàng.
Trong khi giảng giáo viên cần sử dụng biện pháp nêu vấn đề. Cơ chế của
biện pháp này là: Giáo viên đặt câu hỏi - học sinh tri giác - giáo viên tổ chức quy
trình giải quyết. Muốn tạo được tình huống có vấn đề phải xây dựng được một hệ
thống câu hỏi có vấn đề (chứa đựng những mâu thuẫn, trong nhận thức đánh giá).
Khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần hướng dẫn học sinh giải quyết vấn
đề một cách đầy đủ, chính xác bằng hình thức câu hỏi gợi mở.
- Phương pháp giảng bình: Giảng bình đã trở thành một bí quyết trong
giảng văn, khiến giờ giảng văn trở nên hứng thú mang màu sắc cảm xúc và văn
học rõ rệt.
- Phương pháp nghiên cứu cần được vận dụng nhằm giúp học sinh hình
sinh và trong đấu tranh sẽ bộc lộ toàn bộ sức mạnh tiềm tàng: kiên cường, bất
khuất, sức sống mãnh liệt
Câu hỏi 4: Nếu như cây tre đối với người miền Bắc không chỉ là người
bạn thân thiết mà tre còn “giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa
chín”. Có thể nói như thế với cây xà nu đối với dân làng Xô Man?
Dự kiến trả lời:
- Cây xà nu gắn bó với con người và cuộc sống dân làng
+ Xà nu có mặt trong đời sống hàng ngày như tự ngàn đời nay của dân
làng: “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che trở cho làng”; ngọn lửa xà
7
www.sangkienkinhnghiem.com
nu trong mỗi bếp, trong đống lửa nhà ưng tập hợp dân làng, ngọn đuốc xà nu
cháy sáng soi những đoạn rừng đêm, khói xà nu làm tấm bảng cho Tnú và Mai
học chữ
+ Xà nu tham dự vào những sự kiện quan trọng của cuộc sống chống Mĩ:
ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết và tất cả dân làng vào rừng lấy dáo
mác đã giấu kỹ, chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, và đêm đêm làng Xô Man thức dưới
ánh đuốc xà nu, mài vũ khí; giặc đốt hai bàn tay của Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà
nu ; cũng ngọn lửa từ những đuốc xà nu soi sáng rực cái đêm cả làng nổi dậy,
soi rõ xác mười tên lính giặc bị giết ngổn ngang quang đống lửa lớn giữa làng
+ Xà nu chứng kiến sự giác ngộ, sự hy sinh thầm lặng, lòng dũng cảm, ý
chí quật khởi của dân làng Xô Man: ánh lửa xà nu soi sáng lời dặn của anh Quyết
“người còn sống thì phải chuẩn bị vũ khí, sẽ có ngày dùng tới ”. Lửa xà nu thử
thách ý chí cũng như lòng dũng cảm của Tnú “không có gì đượm bằng nhựa xà
nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc” lòng căm thù
cháy giần giật như nhựa xà nu bén nhạy để “bàn tay hận thù”, thành “bàn tay trả
thù”.
Câu hỏi 5: Việc chọn cây xà nu để miêu tả nhiều lần và làm phông nền
trong tác phẩm có tác dụng gì?
Dự kiến trả lời:
- Hoàn cảnh xuất thân: Tnú có một tuổi thơ nghèo khổ, là đứa con của làng
Xô Man “cha mẹ nó mất sớm, làng Xô Man này nuôi nó ”. Tnú đã tiếp nối
truyền thống của làng như một lẽ tự nhiên, và còn làm rạng rỡ thêm truyền thống
ấy.
+ Lúc dân làng bị giặc khủng bố, Tnú là người hăng nhất đưa cơm cho cán
bộ.
+ Tnú có quyết tâm cao khi học chữ; không nhớ được mặt chữ Tnú lấy đá
đập vào đầu cho nhớ chữ - quyết tâm học chữ đã biểu hiện cho một quyết tâm
hướng tới lý tưởng.
9
www.sangkienkinhnghiem.com
+ Biểu hiện của phẩm chất gan dạ dũng cảm: “Đi rừng Tnú xé rừng mà đi,
bơi qua sông chọn chỗ nước mạnh ” Bị giặc bắt, tra tấn dã man, chúng hỏi cộng
sản ở đâu?. Tnú đặt tay lên bụng mà nói “cộng sản ở đây này”
- Lớn lên: Tnú đi làm cách mạng, vượt lên bi kịch cá nhân:
+ Vượt ngục trở về cùng dân làng chuẩn bị vũ khí đánh giặc - nhưng cũng
là lúc bi thương nhất khi vợ anh - Mai bị giặc bắt tra tấn trước dân làng. Tnú tận
mắt chứng kiến, đôi mắt anh như hai cục lửa lớn, anh nhảy xổ vào bọn lính, dang
hai cánh tay chắc như hai cánh lim ôm lấy mẹ con Mai.
+ Tnú không cứu được vợ con, bản thân anh bị giặc bắt, đốt 10 đầu ngón
tay bằng giẻ tẩm nhựa xà nu.
+ Anh ra đi lực lượng, “bàn tay hận thù” đã thành “bàn tay trả thù”.
Câu hỏi 9: Tại sao Tnú có sức mạnh về thể chất, có lòng dũng cảm, sự
gan góc cùng tình thương yêu vô hạn với vợ con mà không bảo về được vợ con
và bản thân anh thì bị bắt, bị đốt 10 đầu ngón tay? Hình ảnh về bàn tay Tnú bị đốt
cháy gợi cho em suy nghĩ gì?
Dự kiến trả lời:
Hình ảnh đó không chỉ tố cáo tội ác man rợ của kể thù mà còn nêu lên một
chân lý sâu sắc, đau đớn: Khi Tnú chưa có vũ khí trong tay thì thứ nhựa thấm
đượm của núi rừng Tây Nguyên cũng thành ngọn lửa hủy diệt bàn tay vun xới
lợi đưa đường thành thục, rắn rỏi.
- Heng gợi nhiều tin tưởng trong tương lai đối với người đọc. Heng là
bóng dáng của hình tượng chàng trai Tnú ngày trước nhưng còn đi đựơc rất xa,
xa hơn nhiều trên con đường của Đảng, của Bác.
4. Tăng cường biện pháp hoạt động liên môn với các phương tiện kĩ thuật
của các ngành nghệ thuật.
Có thể cho học sinh xem một số tác phẩm hội họa về hình tượng cây xà nu,
về hình tượng đôi bàn tay Tnú.
11
www.sangkienkinhnghiem.com
Có thể cho học sinh xem một vài đoạn phim của đạo diễn điện ảnh của
Nguyễn Văn Thông khi thực hiện chuyển thể tác phẩm này.
Có thể cho học sinh nghe âm hưởng một bài ca hào hùng về núi rừng tây
Nguyên để tạo không khí giờ học.
Làm được các thao tác như đề xuất ở trên, chắc chắn giờ học “Rừng xà nu”
sẽ rất thú vị và hấp dẫn đối với các em học sinh.
Phần III. Kết quả thử nghiệm.
1. Kết quả.
Trong khuôn khổ báo cáo sáng kiến kinh nghiêm này, chúng tôi đề xuất
những phương pháp và biện pháp thích hợp để dạy học truyện ngắn “Rừng xà
nu” của Nguyễn Trung Thành từ góc độ loại thể. Những suy nghĩ tìm tòi của bản
thân bắt nguồn từ một ý nguyện rất chính đáng là làm sao bộ môn ngữ văn trong
nhà trường ngày càng phát huy mạnh mẽ hiệu lực giáo dục phong phú của nó,
góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục đích giáo dục của nhà trường phổ thông
trong giai đoạn hiện nay.
Sau những cố gắng, nỗ lực kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp thực hiện,
thực tế cho thấy tôi đã gặt hái được nhiều kết quả khá khả quan. Nhiều em đã
thực sự có hứng khi học bộ môn này. Một số em trước đây chán ghét môn văn
nay có thể hoà hợp vào không khí chung của lớp. Chính sự yêu thích, hứng thú
học tập này là động lực thúc đẩy các em có ý thức chuẩn bị bài vở, sưu tầm tài
13
www.sangkienkinhnghiem.com
Phần IV. Bài học kinh nghiệm.
- Để trở thành một giáo viên dạy giỏi tạo được một tiết học có hiệu quả cao
thì bản thân người giáo viên phải khiêm tốn học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm
giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp để từng bước nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ.
- Tổ chức những tiết dạy mẫu theo những sáng kiến kinh nghiệm của bản
thân và kiểm nghiệm kết quả phù hợp với thực tế của học sinh và nhà trường thì
các giờ dạy theo phương pháp đổi mới mới có hiêụ quả.
Xác nhận của nhà trường Ngày 15 tháng 03 năm 2012
Người viết
Lê Thị Thao14
www.sangkienkinhnghiem.com
TƯ LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), “Dạy học văn ở trường phổ thông”-
NXBĐHQGHN.
2. Phan Trọng Luận (1999), “Phương Pháp dạy học văn” - NXBĐHQG.
3. Nguyễn Viết Chữ (2001) “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo
loại thể - NXBĐHQQG - 4. Nhị Ca - “Bàn tay Tnỳ và cõy xà nu” - Văn Nghệ
quân đội.
5. Nhiều tỏc giả (2005) “Nâng cao kỹ năng làm văn nghị luận” - NXBGD - .
6. Huỳnh Tấn Kim Khỏnh (2001) “Bài giảng văn học THPT” - NXB trẻ - .
7. Ngữ văn 12 - t2 - NXBGD - 2008.
8. Ngữ văn 12 - t2 - SGV- NXBGD- 2008.
9. www.sangkienkinhnghiem.com