29
3. QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC CẤP ĐỊA PHƯƠNG
Một phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi
của Việt Nam từ một nhà nước phân theo thứ
bậc với chế độ tập trung cao được thiết kế cho
một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang một
hình thức tổ chức nhạy bén hơn phù hợp với nền
kinh tế thị trường chính là quá trình phân cấp
một phần trách nhiệm và thẩm quyền cho chính
quyền địa phương các cấp. Có thể nói rằng các
cấp chính quyền địa phương càng thấp thì càng
“gần gũi với người dân” hơn, và có khả năng
cung cấp các dịch vụ cần thiết cho người dân địa
phương tốt hơn. Đồng thời, một số chức năng
của nhà nước thuộc về chính quyền trung ương,
vì những lý do như để đảm bảo hiệu quả, công
bằng, hoặc khả thi, được thực hiện với sự hợp tác
của các cấp chính quyền địa phương khi được
trao nhiều quyền hơn. Trong một số trường hợp,
năng lực thực hiện một số chính sách nhất định
một cách hiệu quả và minh bạch ở cấp chính
quyền địa phương có thể thấp hơn. Phân cấp cho
đúng, đi đôi với các can thiệp xây dựng năng lực
thích hợp là khía cạnh then chốt của cải cách thể
chế.
Mức độ phân cấp, cả về ngân sách lẫn quản lý
nhà nước từ trung ương xuống địa phương dù áp
dụng bất kỳ thước đo khách quan nào cũng đều
tương đối lớn. Cùng với việc chính quyền cấp
tỉnh và địa phương được trao thêm thẩm quyền và
trách nhiệm, nhiều biện pháp đã được tiến hành
chính từ trên xuống bằng trách nhiệm giải trình
của cấp trên với cấp dưới thông qua sự tham gia
và minh bạch đòi hỏi phải có những thay đổi về
văn hóa, và điều này không dễ sớm đạt được.
Khung pháp lý vững chắc cho phân cấp quản trị
nhà nước là Nghị định về Dân chủ cơ sở, văn
kiện này đã công nhận tầm quan trọng của việc
công khai thông tin và có sự tham gia tích cực
của người dân vào quá trình ra quyết định. Tuy
nhiên, mười năm sau khi Nghị định ra đời, kết
quả đạt được vẫn còn rất khiêm tốn. Mặc dù các
nguyên tắc tăng cường sự tham gia và tiếp cận
thông tin đã được quy định rõ ràng, song cơ chế
lập kế hoạch có sự tham gia và cung cấp thông
tin lại không được rõ ràng như vậy.
Thách thức thứ ba là các tỉnh mới được trao
quyền ít có động cơ phối hợp hoạt động hơn so
với trước đây, khi có sự chỉ đạo từ trung ương. Ở
một chừng mực nào đó, cạnh tranh giữa các tỉnh
là yếu tố tích cực, đặc biệt khi các tỉnh cạnh tranh
để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh nhất.
Song khi quyết định của tỉnh này ảnh hưởng đến
tỉnh khác, cho dù là tích cực hay tiêu cực, thì
việc thiếu phối hợp trong vùng có thể dẫn đến
hoạt động kém hiệu quả.
Chương này sẽ tìm hiểu tính chất và hàm ý của
quá trình phân cấp theo địa lý ở Việt Nam xuống
cấp tỉnh, huyện và xã. Quan hệ giữa các cấp
chính quyền được phân cấp và công dân cũng
như doanh nghiệp, sự tham gia vào quá trình lập
các cấp địa phương bên dưới.
Về phía chi ngân sách, bắt đầu từ năm 1996 thẩm
quyền chi tiêu trong một loạt hoạt động đã được
giao cho chính quyền tỉnh, cũng như cấp huyện
và cấp xã nhưng ở mức độ thấp hơn. Năm 2002,
chính quyền tỉnh được trao thêm nhiều thẩm
quyền hơn trong việc ưu tiên nguồn lực, bao
gồm cả quyết định phân bổ ngân sách cho các
ngành khác nhau và cho chính quyền địa phương
cấp thấp hơn. Cũng trong năm 2002, tỉ lệ chi tiêu
được quyết định ở các cấp địa phương lên đến
gần một phần hai lượng chi tiêu công. Theo một
nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là
nước phân cấp chi tiêu mạnh nhất ở Đông Á, sau
Trung Quốc và Nhật Bản.
15
Theo một thước đo
đơn giản là tỉ lệ chi ngân sách được quyết định ở
cấp địa phương, thì Việt Nam là một nước phân
cấp rất mạnh.
Mặc dù có ý định phân cấp xuống cho chính
quyền địa phương ở cấp thấp nhất, song nhiều
nguồn kinh phí vẫn nằm dưới sự quản lý của
chính quyền tỉnh chỉ có một số chương trình (ví
dụ chương trình 135) cấp xã là cấp quản lý ngân
sách. Nguồn kinh phí được cân đối cho cấp tỉnh
để huyện và xã sử dụng trên thực tế được chuyển
xuống hai cấp này khác nhau rất nhiều, phụ
thuộc vào địa phương. Tình trạng này đang dần
dần được cải thiện, mặc dù năng lực của chính
theo quy định.
Cách tiếp cận bổ sung ngân sách ưu tiên nghèo
không phải được tất cả các tỉnh ủng hộ. Trên thực
tế, những tỉnh nộp ngân sách ròng cho ngân sách
nhà nước đều cho rằng phân cấp ngân sách là quá
thiên theo nguyên tắc ưu tiên nghèo. Các cuộc
phỏng vấn sâu thực hiện trong năm 2007 với cán
bộ của chính quyền bảy tỉnh
17
cho thấy các tỉnh
nộp ngân sách ròng cho trung ương đánh giá cao
quá trình phân cấp, song cho rằng hệ thống chia
sẻ thuế là quá mang tính khai thác, để lại cho các
tỉnh giàu không đủ nguồn lực để họ duy trình tốc
độ tăng trưởng của mình. Họ cũng cho rằng phần
ngân sách chi thường xuyên do trung ương phân
bổ cho giáo dục và y tế là dựa trên dân số theo
số liệu chính thức, và do vậy họ phải dùng ngân
sách riêng của tỉnh cho những người dân nhập cư
không có đăng ký hộ khẩu.
Phân cấp quản lý nhà nước khá mạnh cũng diễn
ra trong lĩnh vực đầu tư công. Năm 1999, chính
quyền tỉnh được trao quyền quyết định các dự án
đầu tư quy mô nhỏ và trung bình, và cấp huyện
và xã được quyền quyết định các dự án loại
tương tự nếu được chính quyền tỉnh và HĐND
cho phép. Sau đó, đến năm 2005, chính quyền
tỉnh được trao quyền quyết định các dự án đầu tư
công lớn hơn, theo danh mục do Thủ tướng quy
định. Chính quyền tỉnh cũng được trao quyền
để thực hiện các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ở
các xã đặc biệt khó khăn. Năm 2006, khi chương
trình 135 đi vào giai đoạn 2, chính quyền cấp xã
đã được trao toàn bộ quyền quản lý các dự án
đầu tư thuộc chương trình 135.
Mặc dù những thành tích trên là rất đáng kể, song
việc triển khai vẫn không đáp ứng được những
mục tiêu tham vọng hơn của chương trình 135,
ví dụ như mục tiêu 100% số xã làm “chủ đầu tư”
các dự án và lựa chọn dự án. Ví dụ, một nghiên
cứu cho biết có đến 15 trong số 20 dự án cơ sở
hạ tầng do huyện làm chủ đầu tư chứ không phải
xã.
18
Thông thường, cấp huyện đưa ra một danh
sách các dự án có thể cấp vốn, và cấp xã tổ chức
việc thông qua danh sách. Trong trường hợp tốt
nhất, các xã có đóng góp vào việc thiết kế dự
án, ví dụ như có tiếng nói về địa điểm đặt dự án,
tuy nhiên họ ít có ảnh hưởng đến việc lựa chọn
dự án.
Công tác quản lý cán bộ cũng được phân cấp phần
nào. Chính quyền tỉnh được trao thẩm quyền quy
hoạch cán bộ
19
, tuyển dụng, bổ nhiệm, tổ chức
giao nhiệm vụ, đánh giá, thanh tra và kể cả nâng
bậc lương và phụ cấp cho cán bộ công chức làm
việc trong các cơ quan ban ngành địa phương
trong phạm vi quản lý của mình. Kể từ năm
trên, việc thu và chi phần “nhân dân đóng góp”,
một hình thức thuế tự nguyện. Ngoài ra còn có
những cơ chế khác được thực hiện cũng có thể
tăng cường được sự minh bạch của chính quyền
cấp tỉnh, như bắt buộc kê khai thu nhập và tài sản
đối với cán bộ cấp cao ở địa phương, và nghĩa vụ
phản hồi yêu cầu cung cấp thông tin của người
dân trong vòng 10 ngày.
Một mốc quan trọng về trách nhiệm giải trình
của chính quyền tỉnh là việc trao cho các cơ quan
dân cử, tức Hội đồng Nhân dân Tỉnh quyền phê
duyệt phân bổ nguồn thu ngân sách địa phương
cho các cấp thấp, các tiêu chí và cơ chế phân bổ,
thu phí và lệ phí, đóng góp của người dân. Công
tác giám sát tài chính của chính quyền tỉnh cũng
được tăng cường thông qua việc thành lập Kiểm
toán Nhà nước Việt Nam với chức năng kiểm
toán độc lập tất cả các mục thu chi ngân sách nhà
nước, bao gồm cả ngân sách địa phương.
Ngược lại, sự tham gia trực tiếp của người dân
vào quá trình ra quyết định sử dụng ngân sách
tỉnh lại không mấy tiến bộ. Từ năm 2004, đã có
yêu cầu dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh phải được tham vấn rộng rãi với
người dân, song vẫn chưa có những hướng dẫn
cụ thể và rõ ràng. Tuy nhiên, chương này cũng
33
quản trị nhà nước cấp địa phương
giải thích, kể cả khi được đưa ra tham vấn rộng
rãi, thì những kế hoạch này vẫn không gắn kết
với ưu tiên phân bổ nguồn lực và mục tiêu cung
cấp dịch vụ. Một nghiên cứu gần đây cho thấy
“phạm vi ra quyết định” hạn chế của cán bộ địa
phương có thể ảnh hưởng đến việc thu hút đầu
tư nước ngoài và thành công của các khu kinh tế
của tỉnh (Hộp 3.2). Nghiên cứu này cũng cho
thấy tinh thần sẵn sàng thử nghiệm ở quy mô
nhỏ, là hình ảnh thu nhỏ của phong cách cải cách
của Việt Nam.
Mặc dù các tỉnh có vai trò trong quyết định về
nhân lực, song họ cũng bị giới hạn. Việc quản lý
cán bộ ở cấp tỉnh phải tuân thủ nhiều nguyên tắc
và quy trình tiêu chuẩn đã quy định trong Luật
Cán bộ và Công chức Nhà nước, cũng như nhiều
biện pháp phòng chống tham nhũng quy định
trong Luật Phòng, Chống Tham nhũng. Quy
hoạch cán bộ phải được Hội đồng Nhân dân Tỉnh
phê duyệt, và phải đảm bảo theo đúng biên chế
và tiêu chí do trung ương quy định. Tiền lương
cán bộ cũng phải tuân theo hướng dẫn của chính
quyền trung ương.
Nhiều bằng chứng cho thấy trên thực tế quyền
tự chủ của các tỉnh trong việc bố trí “cán bộ chủ
chốt” bị hạn chế rất nhiều. Phỏng vấn sâu trong
năm 2007 ở bảy tỉnh
22
cho thấy mức độ tự chủ
của chính quyền tỉnh trong việc lựa chọn, bổ
nhiệm và đề bạt “cán bộ chủ chốt” là rất hạn chế,
vì cấp ủy đảng ở tỉnh và cấp cao hơn đóng vai trò
xã, và thực tế cho thấy lĩnh vực này còn cần được
cải thiện. Khoảng một nửa số hộ ở Việt Nam cho
34
các thể chế hiện đại
Hộp 3.2. Đổi mới trong thực hiện thẩm quyền ở cấp địa phương — Khu Kinh tế Mở Chu Lai
Một nghiên cứu gần đây đã tìm hiểu kinh nghiệm của Việt Nam trong những thử nghiệm nhằm khuyến khích
phát triển nông thôn, thử nghiệm này đã rút ra những bài học cả về những hạn chế của phân cấp và hiểu rõ
những điều kiện để tiến hành đổi mới.
Nhiều hy vọng được đặt vào Khu Kinh tế Mở Chu Lai ở tỉnh Quảng Nam với diện tích 27.000 héc-ta khi khu
kinh tế này được thành lập vào năm 2003. Với việc phân cấp thẩm quyền chính sách và ngân sách cho lãnh
đạo của Khu Kinh tế Mở, người ta kỳ vọng rằng cán bộ địa phương sẽ có được không gian và động cơ quản
lý để thử nghiệm những chính sách và thể chế mới, và kết quả sẽ là kích thích sự phát triển của vùng này.
Tuy nhiên, sau ba năm, phần lớn đều cảm thấy kết quả đạt được không có gì đáng kể. Tuy nhiên, đến nay đã
có chín tỉnh được phép thực hiện Mô hình Chu Lai.
Các nhà nghiên cứu xác định một số điểm hạn chế chính cần phải giải quyết để mang lại thành công cho cách
tiếp cận này. Thứ nhất, họ cho rằng việc Chu Lai chỉ tập trung thu hút đầu tư nước ngoài đã lấn át mất sự chú
ý dành cho phát triển khu vực tư nhân trong nước. Mặc dù một môi trường điều tiết vững mạnh dĩ nhiên là
một yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, song nó không phải là yếu tố duy nhất – nghiên cứu cho rằng vấn
đề của Chu Lai trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào công nghiệp chế tác và công nghiệp nhẹ chủ yếu là
do vị trí và cơ chế khuyến khích đầu tư của Chu Lai, chứ không phải là chất lượng của môi trường điều tiết.
Hệ quả là Chu Lai dành các nguồn lực cơ sở hạ tầng khan hiếm để giải quyết những cái mà họ cho là yêu
cầu của các nhà đầu tư nước ngoài dường như ít có khả năng đến với Chu Lai (ví dụ như cảng trung chuyển
quốc tế), hơn là những nhu cầu hiện tại của các doanh nghiệp tư nhân trong nước.
Thứ hai, các nhà nghiên cứu nhận thấy thiết kế pháp lý của Chu Lai không tương thích với việc thử nghiệm
chính sách và đổi mới thể chế. Để đáp lại kinh nghiệm của những năm 1990, thời gian mà các khu công
nghiệp nông thôn không được hiệu quả như các khu công nghiệp thành thị, các nhà hoạch định chính sách
đã nhắm vào cái mà họ cho là lý do của sự thành công không đồng đều, tức là việc thiếu phân cấp ngân sách
và chính sách cho cán bộ địa phương. Do vậy, ý định đặt ra cho Chu Lai là sẽ trao cho lãnh đạo địa phương
thêm thẩm quyền ngân sách, chính sách và pháp lý. Tuy nhiên, trên thực tế, khung pháp lý của Chu Lai đã
chia thẩm quyền ra quyết định về ngân sách và chính sách trong những lĩnh vực quan trọng cho cả cán bộ
dân bị khiếm thính, hoặc không hiểu được ngôn
ngữ. Nếu thông tin được phổ biến bằng ngôn ngữ
nói, chẳng hạn qua loa phóng thanh, có thể sẽ
khó khăn khi nhớ lại thông tin nếu cần – do vậy
cần phải có nhiều kênh phổ biến thông tin khác
35
quản trị nhà nước cấp địa phương
nhau. Cuối cùng, một số người cho rằng thái độ
và năng lực của cán bộ không giúp ích gì.
Quyền thứ hai được thiết lập trong Pháp lệnh
Dân chủ ở Cấp cơ sở là quyền được tham vấn.
Mục Quản trị nhà nước của VHLSS hỏi người
được phỏng vấn về sự tham gia của họ vào các
quy trình xây dựng luật pháp hay hoạch định
chính sách khác nhau. Phần đông chưa từng đưa
ra ý kiến gì về ngân sách và kế hoạch của xã, và
nguyên nhân thường được viện dẫn nhất là họ
không được hỏi ý kiến. (Hình 3.2) Tuy nhiên,
khó hình dung được một mô hình tham vấn nào
có thể đảm bảo cho mọi người dân đều cảm thấy
được lấy ý kiến, hoặc biết được đâu là cơ sở hợp
lý trong trường hợp này. Những nguyên nhân
Nguồn: Tự tính toán dựa trên mục quản trị Điều tra MSHGĐ 2008.
Hình 3.1. Thông tin đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình về ngân sách và kế hoạch của xã
(trong số những người quan tâm)
Hình 3.2. Hộ gia đình cho ý kiến về kế hoạch và ngân sách xã trong thời kỳ 2006 – 2008
0% 25% 50% 75% 100%
Quy hoạch sử dụng đất ở cấp xã
Kế hoạch tái định cư và đền bù cấp xã
Kế hoạch tái định cư và đền bù cấp xã
Kế hoạch đầu tư CSHT ở cấp xã
Kế hoạch phát triển KT-XH ở cấp xã
Phí và lệ phí do cấp xã thu
Sử dụng ngân sách / trợ cấp của Chính phủ ở xã
Sử dụng đóng góp của người dân ở xã
36
các thể chế hiện đại
khác thường được mọi người nhắc đến giải thích
cho việc không bày tỏ quan điểm về những công
việc của xã bao gồm: vấn đề quá phức tạp (theo
7-8% số người không tham gia ý kiến), hoặc
những ý kiến của họ dù sao cũng không được
xem xét đến (10-13% số người không tham gia
ý kiến).
Những quyền cơ bản khác được quy định trong
Pháp lệnh Dân chủ Cơ sở là quyền quyết định
và quyền giám sát. Các quy trình này được thể
hiện rõ nhất ở các địa phương có chương trình
135. Trong chương trình này, người dân ở mỗi xã
được tham gia lựa chọn những dự án phản ánh
tốt nhất ưu tiên của họ. Chương trình 135 nổi bật
nhờ nguyên tắc trao quyền và áp dụng các cơ chế
mới nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình từ
trên xuống.
Với vai trò nổi bật như một chương trình giảm
nghèo và những nỗ lực đầy tham vọng nhằm
tăng cường sự tham gia, Chương trình 135 đã
Bảng 3.1. Sự tham gia của hộ gia đình vào quá trình ra quyết định và giám sát các công trình cơ sở hạ
tầng ở các xã thuộc Chương trình 135 ở các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Bình Phước và Sóc Trăng
vào (%)
Điện 54 67 88 21 2
Đường giao thông 74 50 86 13 11
Trường học 71 33 97 8 5
Cung cấp nước sạch 73 41 92 43 0
Trạm y tế 61 17 93 13 0
Chợ 87 27 100 0 0
Nhà văn hóa 78 26 100 0 0
Thủy lợi 85 50 88 52 10
Trung bình 73 39 93 19 4
Nguồn: Báo cáo Kết quả Khảo sát bằng Thẻ Báo cáo Công dân về mức độ hài lòng của người dân với Chương
trình 135-II (Quyến và CS, 2009)
Bảng 3.2. Tham gia vào quá trình ra quyết định và giám sát các dự án hạ tầng cấp xã; các xã thuộc các
tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Bình Phước, và Sóc Trăng
Dự án thuộc
CT135-II
Dự án thực hiện tại các xã 135-II do các
chương trình khác tài trợ
Phần trăm số dự án có tổ chức các cuộc họp với
sự tham gia của người dân để lựa chọn dự án
86.6 80.0
Phần trăm các dự án được người dân giám sát 81.9 72.4
Nguồn: Kết quả Điều tra mức độ hài lòng của người dân đối với chương trình 135-II bằng Thẻ Báo cáo Công
dân (Quyến và CS, 2009)
37
quản trị nhà nước cấp địa phương
Bảng 3.3. Tiếng nói của người dân và cán bộ xã: Đâu là những khó khăn trong việc thực hiện quy chế
“dân chủ cơ sở”?
Khó khăn liên quan đến chính quyền Khó khăn liên quan đến người dân
8 xã ở Tỉnh
Người dân ít quan tâm đến quyền •
được biết, quyền được bàn và
quyết định.
Người dân còn bận lo “kiếm ăn” •
và có nhiều vấn đề cá nhân phải
quan tâm hơn là các vấn đề của
cộng đồng.
Người dân tập trung vào các quy •
định liên quan đến lợi ích kinh tế,
và không quan tâm đến các quy
định phục vụ cho mục đích phát
triển địa phương nói chung
Người dân có dân trí thấp, nên •
không hiểu rõ vấn đề.
Người dân sợ rằng cuộc họp được •
tổ chức để yêu cầu người dân
đóng góp tiền hoặc hiện vật, do
vậy rất ít người tham gia.
Trong những cuộc họp có ít •
người, người dân ngại thể hiện
quan điểm của mình.
4 xã ở tỉnh
Sơn La, Thái
Bình, Gia Lai,
và Trà Vinh
Chính quyền địa phương nhận thức hạn chế •
về mục tiêu chiến lược của dân chủ cơ sở, và
họ coi dân chủ là một vấn đề nhạy cảm.
Cán bộ sợ rằng trao quyền cho người dân sẽ •
đánh mất quyền lực và thẩm quyền của mình
hiểu việc thực hiện chương trình. Các biện pháp
nhằm tăng cường sự tham gia đã được thực hiện
khá triệt để ở một số vùng, song ở các vùng khác
mức độ thực hiện kém hơn. Một khảo sát thực
hiện năm 2009 về các xã của Chương trình 135
ở bốn tỉnh cho biết mức độ tham gia vào quá
trình ra quyết định về các dự án hạ tầng ở bốn
tỉnh là rất cao đối với những người biết về công
việc xây dựng cơ sở hạ tầng, song sự tham gia
chủ yếu chỉ dừng lại ở việc lựa chọn địa điểm
dự án. Mức độ tham gia vào việc ra quyết định
trong quá trình xây dựng công trình không được
cao, và tham gia vào hoạt động giám sát rất yếu
(Bảng 3.1).
Mặc dù mức độ tham gia trong Chương trình 135
có vẻ cao, song để hiểu được các cơ chế này thực
sự thúc đẩy trách nhiệm giải trình hướng xuống
dưới như thế nào thì cần phải trả lời thêm hai câu
hỏi: cơ sở ban đầu để đo lường mức độ tham gia
là gì, và sự tham gia trên thực tế là như thế nào?
Để trả lời câu hỏi đầu tiên, một nghiên cứu đã
đánh giá kiểm chứng, không chỉ hỏi về các dự án
của Chương trình 135 có sự tham gia và giám sát
của người dân mà còn cả các dự án khác trong
xã. Kết quả như được trình bày trong bảng 3.2
cho thấy những dự án khác cũng có mức độ tham
gia khá cao trong việc lựa chọn dự án, và cũng
thường được người dân giám sát. Tuy nhiên,
trong cả hai trường hợp, tần suất tham gia và
giám sát đối với các dự án thuộc Chương trình
quả như mong muốn. Ở một số nơi, việc tham
gia của người dân không được lồng vào quá
trình ra quyết định, vì các cơ quan chức năng
địa phương thường cho rằng tham gia đi đôi với
rủi ro (mất quyền kiểm soát) hơn là cơ hội (thực
hiện tốt hơn).
Mặc dù tầm quan trọng của Dân chủ Cơ sở đối
với cách tiếp cận từng bước của Việt Nam đối
với phân cấp và trách nhiệm giải trình là không
thể phủ nhận, và cũng đã có những kết quả cụ
thể, song các nghiên cứu về Chương trình 135
và số liệu từ hợp phần Quản trị nhà nước của
VHLSS đều cho thấy một số cơ chế mới về trách
nhiệm giải trình hướng xuống dưới mới chỉ đang
bám rễ. Bảng 3.3 phác ra một số khó khăn được
nêu lên trong hai cuộc khảo sát quan trọng khác
về việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Những
khó khăn này không chỉ liên quan tới việc thực
hiện các quy chế bởi chính quyền địa phương,
mà còn liên quan cả đến những yếu tố con người,
như thiếu sự quan tâm, trình độ chuyên môn kém
và cả sự ngần ngại trong việc bày tỏ quan điểm.
Bất chấp những thách thức đối với quy chế dân
chủ cơ sở từ nhận thức cho đến văn hóa tổ chức,
từ năng lực yếu đến những thách thức thực tế,
những tiến bộ đạt được cho đến nay là rất đáng
kể. Thực tế, áp dụng cách tiếp cận phát triển dựa