NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG GIAI ĐOẠN 2006- 2012 - Pdf 13

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG CỤ NGHIỆP VỤ THỊ
TRƯỜNG MỞ TẠI VIỆT NAM( GIAI ĐOẠN 2006- NỬA ĐẦU NĂM 2013).
Sau một thời gian dài chuẩn bị về hành lang pháp lý, trang thiết bị, nhân
lực tháng 7/2000 cùng với sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam, Ngân hàng
nhà nước Việt Nam đã chính thức đưa nghiệp vụ thị trường mở( NVTTM) vào hoạt động-
đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước (NHNN) theo hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ
gián tiếp, để phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước. Nó đã mở ra một
kênh cung ứng và điều tiết vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng( TCTD) cho NHNN và
tạo cho các tổ chức tín dụng sử dụng linh hoạt các loại giấy tờ có giá của mình. Công cụ
OMO( Open Market Operations) liên tục được NHNN cải tiến trong những năm qua và
đến nay đã trở thành một trong những công cụ quan trọng bậc nhất của NHNN trong việc
điều hành chính sách tiền tệ( CSTT).
1. Năm 2006.
Trong năm 2006, nghiệp vụ thị trường mở tiếp tục được sử dụng như một công
cụ chủ yếu trong điều tiết tiền tệ theo mục tiêu CSTT của NHNN thông qua việc thực
hiện giao dịch theo cả 2 chiều mua và bán giấy tờ có giá. NHNN đã thực hiện 162
phiên thị trường mở (trong đó có 29 phiên chào mua kỳ hạn và 3 phiên chào bán kỳ
hạn, 130 phiên chào bán hẳn), với thời hạn ngắn 7, 14, 21, 28, 56 ngày, phương thức
đấu thầu lãi suất. Tổng doanh số giao dịch 2 chiều mua/bán giấy tờ có giá lên tới
khoảng 124.234 tỷ đồng, doanh số giao dịch bình quân một phiên khoảng 767 tỷ
đồng, tăng mạnh so với thời điểm năm 2004, 2005. Lãi suất trong các phiên chào mua
dao động trong khoảng từ 6,0-8,5%/năm. Lãi suất trong các phiên chào bán có xu
hướng giảm dần, từ 4,5-5%/năm từ đầu năm, đến tháng 12/2006 còn 0,8-0,95%/năm.
Kết quả nghiệp vụ thị trường mở cụ thể như sau:
Vào thời điểm tháng 1, nửa cuối tháng 3/2006 và một số ngày cuối tháng
12/2006, để có thể kịp thời hỗ trợ vốn khả dụng cho các TCTD đảm bảo khả năng
thanh toán, duy trì ổn định thị trường tiền tệ, NHNN đã thực hiện 29 phiên chào mua
giấy tờ có giá với kỳ hạn ngắn. Trong thời gian này, không chỉ có các NHTMNN mà
còn có của các NHTM khác (Citibank, ANZ, Standard Chartered bank, NH Nhà
ĐBSCL, NH Nhà HN, NH Quân đội…) đã tham gia tích cực nghiệp vụ thị trường

phiên chào bán là 4,35%/năm. Đây cũng là diễn biến khác với nhiều năm trước và cho
thấy tính tham gia rộng rãi, vai trò của thị trường mở đối với các NHTM cũng như đối
với việc điều hành chính sách tiền tệ. Thời hạn giấy tờ có giá giao dịch cũng khác
nhau, nhưng rất đa dạng, khoảng 10 kỳ hạn, nhưng chủ yếu là 7 ngày, 14 ngày,… lãi
suất có xu hướng tăng và ở mức cao so với các năm gần đây. Lãi suất chào mua bình
quân khoảng 8,2%/năm.
Về thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nước trong năm 2007, thị trường
đấu thầu tín phiếu kho bạc không sôi động như các năm trước(quy mô giao dịch của
thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc năm 2007 không đạt cao như dự kiến từ đầu
năm và thấp hơn năm 2006, tổng khối lượng trúng thầu là 10.220 tỷ đồng, thấp nhất
trong nhiều năm qua) nhưng vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc NHNN
can thiệp vào vốn khả dụng của các NHTM và tạo hàng hoá giao dịch trên thị trường
mở, từ đó tác động vào lãi suất trên thị trường tiền tệ, tác động vào lãi suất huy động
vốn của NHTM.
3. Năm 2008.
Năm 2008 được coi là một năm điều hành thành công CSTT của NHNN trong
bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những khó khăn nội tại của nền kinh tế.
Đóng góp vào thành công đó phải kể đến việc sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ
CSTT, trong đó có vai trò quan trọng của NVTTM thể hiện qua doanh số giao dịch
tăng gần 150% so với năm 2007. Điều hành linh hoạt NVTTM đã góp phần kiểm soát
lạm phát thành công, đảm bảo khả năng thanh khoản cho các TCTD và sự bền vững
của hệ thống ngân hàng.
NVTTM là công cụ điều hành CSTT chủ yếu nhất và có khối lượng giao dịch
chiếm phần lớn trên TTTT. Kết quả giao dịch NVTTM năm 2008 như sau:

Loại giao dịch
Tổng số dự
kiến
Khối lượng
đăng ký

hạn
12,18 190.214 11,88 445.000 15 283.100 13,6 28.891
Bán hẳn 8,5 1.867 7,75 1.578 4,5 74.986
Bán kỳ
hạn
14,91 12.022
Nguồn số liệu: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Trong quý I, trên NVTTM diễn ra cả hai loại giao dịch mua và bán nhưng kết
quả mua là chủ yếu (khoảng 93%) và áp dụng cả hai phương pháp đấu thầu là đấu
thầu lãi suất và đấu thầu khối lượng, thời hạn giao dịch phổ biến là 07 và 14 ngày
trong nghiệp vụ Mua kỳ hạn trên TTM. Từ tháng 2/2008, do tình hình lãi suất đặt thầu
và thắng thầu tăng cao, NHNN chỉ sử dụng phương pháp đấu thầu khối lượng, mức
lãi suất thống nhất được sử dụng trong tuần đầu tiên là 15% nhằm tạo định hướng cho
thị trường, trong các tuần tiếp theo lãi suất được điều chỉnh giảm xuống 14%, 13%,
10% và 9% cho phù hợp với lãi suất cơ bản do NHNN công bố.
Sang quý II, để đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, NHNN một
mặt áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhưng mặt khác vẫn hỗ trợ thanh khoản cho
các TCTD qua kênh NVTTM. Lượng vốn bơm ra thị trường trong thòi kỳ này đạt
mức kỷ lục là 445.000 tỷ đồng, chiếm 99,65% tổng khối lượng giao dịch NVTTM
trong Quý II. NHNN tiếp tục áp dụng hình thức đấu thầu khối lượng với mức lãi suất
thống nhất được điều chỉnh tăng dần từ 9% lên 12%/năm.
Quý III, tình hình vốn trên thị trường đã bớt căng thẳng. NHNN tiếp tục tổ chức
Mua kỳ hạn trên TTM và duy trì hình thức đấu thầu khối lượng với mức lãi suất được
điều chỉnh tăng lên 15%/năm cho phù hợp với định hướng điều hành lãi suất và kiềm
chế lạm phát của NHNN.
Bước sang Quý IV, lạm phát đã được kiềm chế và Chính phủ ưu tiên cho mục
tiêu chống suy giảm kinh tế, nguồn vốn khả dụng của các TCTD đã được cải thiện
đáng kể. NHNN đã tổ chức cả hai loại giao dịch mua và bán; trong đó giao dịch mua
vẫn áp dụng hình thức đấu thầu khối lượng nhưng lãi suất đấu thầu được điều chỉnh
giảm dần từ 15% xuống 9%/năm. Kết quả, lượng vốn đưa ra qua kênh mua chỉ bằng

hoạt 7 ngày và 14 ngày với lãi suất chào mua tương ứng là 7% và 7-8%/ năm. Đồng
thời, để chủ động kiểm soát lạm phát và điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các tổ
chức tín dụng trong hệ thống, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN với định
kỳ 3 phiên/ tuần, kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng; phương thức đấu thầu lãi suất, xét thầu
thống nhất nhưng trong số 68 phiên đấu thầu bán tín phiếu của NHNN chỉ có 2 phiên
trúng thầu với doanh số đạt 102 tỷ đồng.
Cùng với việc điều hành linh hoạt và thận trọng các công cụ CSTT khác, nghiệp
vụ thị trường mở đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo an toàn thanh toán
cho hệ thống các tổ chức tín dụng; đồng thời, lãi suất giao dịch trên thị trường liên
ngân hàng có xu hướng xoay quanh lãi suất chào mua qua nghiệp vụ thị trường mở.
Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở năm 2009.
Chỉ tiêu Chào mua Chào bán
Số phiên. 261 68
Kỳ hạn( ngày). 7; 14 91; 182
Số lượt thành viên. 3085 11
Doanh số đặt thầu( tỷ đồng). 3613860 406
Doanh số trúng thầu( tỷ đồng). 961773 102
Lãi suất( %/ năm):
- Phương thức đấu thầu khối
lượng
6,5- 9,0
- Phương thức đấu thầu lãi
suất.
7,2- 7,8
Nguồn số liệu: Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
5. Năm 2010.
Năm 2010, NHNN điều hành CSTT chủ động, thận trọng và linh hoạt theo
nguyên tắc thị trường nhằm ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo khả năng thanh khoản
của từng tổ chức tín dụng và cả hệ thống ngân hàng.
NVTTM được điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến cung cầu vốn trên thị

7,0- 10 6,5- 9,0
Nguồn số liệu: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
6. Năm 2011.
Năm 2011, thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã chủ động
trong điều hành chính sách tiền tệ một cách chặt chẽ, linh hoạt và phù hợp với tình
hình thực tế, khẳng định vị trí huyết mạch của nền kinh tế.
Thống kê từ đầu năm đến hết tháng 3/ 2011, NHNN đã bơm ra thị trường mở 1 285
146 tỷ đồng, trong khi hút về 1 202 214,1 tỷ đồng. Như vậy, mức bơm ròng đạt 82
931,9 tỷ đồng. Trong tháng 4, NHNN cũng đã bơm ra thị trường mở 519 695,7 tỷ
đồng và hút về 453 002,7 tỷ đồng, mức bơm ròng là 66 693 tỷ đồng. Trong 2 tuần đầu
tháng 4, sau khi nâng lãi suất thị trường mở từ 12% lên 13%, NHNN liên tục bơm tiền
qua thị trường này nhưng khối lượng dè chừng hơn. Nhu cầu vay trên thị trường mở
vẫn lớn khi tỷ lệ đăng ký/ chào thầu ở mức gần 230%.
Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011
Đơn vị tính: tỷ đồng.
Tháng Cung ứng Hút về Cung ứng ròng
1 501.749 345.483 156 6
2 314.493 345.338,8 -30.845,8
3 468.904 511.392,3 -42.488,3
4 519.695,7 453.002,7 66.693
5 353.381,9 425.139,5 -71.757,6
6 141.838,4 206.649,7 -64.811,3
Tổng 2.300.062 2.287.006 13.056
Nguồn số liệu: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Như vậy, với quyết tâm kiềm chế lạm phát NHNN đã liên tục hút ròng trên
OMO; tuy nhiên việc hút ròng trên thị trường mở ngoài thực hiện mục tiêu kiềm chế
lạm phát như bình thường, còn để trung hòa một khối lượng tiền mà NHNN đã bỏ ra
mua khoảng trên 2 tỷ USD bổ sung cho quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Cụ thể, chỉ
riêng trong khoảng thời gian cuối tháng 4, đầu tháng 5/ 2011, thông qua mua thêm 1
tỷ USD bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia; về mặt lý thuyết NHNN đã cung ứng

Doanh số đặt thầu( tỷ đồng) 5 981 403
Doanh số trúng thầu( tỷ đồng) 2 801 253
Lãi suất(%/ năm)
- Phương thức đấu thầu khối lượng 10- 15%/ năm
Nguồn số liệu: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Có thể thấy rằng, khi các tổ chức tín dụng thiếu hụt nghiêm trọng vốn khả dụng
thì thị trường mở thực sự là “ phao” hỗ trợ quan trọng, bảo đảm khả năng thanh toán cho
các tổ chức tín dụng trong trường hợp thị trường có những biến động đột xuất. Điều này,
đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ ngay tức thì, đáp ứng yêu cầu điều tiết vốn khả
dụng của các thành viên tham gia thị trường mở. Và có thể nói rằng, trong năm 2011, với
quyết tâm kiềm chế lạm phát, NHNN đã sử dụng linh hoạt, thận trọng, có hiệu quả các
công cụ CSTT trong đó có nghiệp vụ thị trường mở, phục vụ tốt mục tiêu điều hành
chính sách tiền tệ của mình.
7. Năm 2012.
Trong 6 tháng đầu năm, tổng lượng tiền NHNN “hút về” qua thị trường mở rất
lớn, lên đến 116.517 tỷ đồng. Cụ thể:
- Với nghiệp vụ “mua kỳ hạn”, tổng khối lượng trúng thầu 6 tháng đầu năm đạt
305.070 tỷ đồng. Tổng khối lượng đáo hạn là 363.438 tỷ đồng. Thông qua nghiệp
vụ này, NHNN đã “hút” tổng cộng 58.368 tỷ đồng.
- Với nghiệp vụ “bán kỳ hạn”, tổng khối lượng trúng thầu 6 tháng đầu năm đạt
107.842 tỷ đồng, tổng khối lượng đáo hạn là 49.693 tỷ đồng. NHNN đã “hút”
thông qua nghiệp vụ này tổng cộng 58.149 tỷ đồng.
Tuy nhiên, lượng tiền khổng lồ NHNN “hút” về trong 6 tháng đầu năm không
phải từ nguyên nhân thanh khoản đã cải thiện mà là do trong khoảng thời gian từ tháng 2
đến cuối tháng 5, NHNN liên tiếp tung tiền ra mua ngoại tệ.
Quy mô cung tiền qua NVTTM được NHNN tăng mạnh trong quý I (lên đến
gần 285.000 tỷ đồng) để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của hệ thống. Tuy nhiên, nhằm
trung hòa lượng tiền đưa ra thị trường để mua 9 tỷ USD, trong 3 tháng liên tiếp kể từ
tháng 3, NHNN liên tiếp hút tiền với tổng lượng hút lên đến trên 187.000 tỷ đồng. Trong
những ngày gần đây, giao dịch tín phiếu đang giảm dần cả về khối lượng giao dịch và kỳ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status