Nghiên cứu xây dựng phân cấp các bảng cỡ số cho một số sản phẩm may dành cho phụ nữ - Pdf 13



BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN DỆT MAY BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ CÔNG THƯƠNG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHÂN CẤP CÁC BẢNG CỠ SỐ CHO
MỘT SỐ SẢN PHẨM MAY DÀNH CHO PHỤ NỮ

Mã số đề tài: 089.10RD NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHÂN CẤP CÁC BẢNG CỠ SỐ CHO
MỘT SỐ SẢN PHẨM MAY DÀNH CHO PHỤ NỮ

Thực hiện theo Hợp đồng số
089.10 RD/H§-KHCN ký ngày 25 tháng 02 năm 2010
giữa Bộ Công Thương và Viện Dệt May Những Người thực hiện chính:
KS. Bùi Thúy Nga – chủ nhiệm đề tài
Th.s Đỗ Phương Nga
CN. Ngô Thu Nga
TS. Thẩm Thị Hoàng Điệp
Trần Thanh Sơn
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)

12
1.2.3. Ứng dụng thiết bị quét cơ thể 3D trong ngành công nghiệp
may mặc
15
1.3
Tổng quan về thiết kế mẫu trong sản xuất công nghiệp
16

1.3.1. Các phương pháp thiế
t kế mẫu kỹ thuật
16

1.3.2. Quy trình thiết kế mẫu kỹ thuật trong sản xuất may công
nghiệp
18

1.3.3. Tám nguyên lý cơ bản trong thiết kế may mặc
19
Chương 2: TIẾN HÀNH KHẢO SÁT NHÂN TRẮC HỌC BẰNG THIẾT BỊ
QUÉT CƠ THỂ NGƯỜI BA CHIỀU VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CỠ SỐ CƠ
THỂ NỮ GIỚI

23
2.1
Thiết kế cuộc khảo sát nhân trắc
23
2.1.1. Mục tiêu khảo sát số đo nhân trắc 23
2.1.2. Công nghệ và độ chính xác của phương tiện 23
2.1.3. Sự phù hợp các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế 23
2.1.4. Lựa chọn đối tượng đo 24

Trong những năm vừa qua, ngành dệt may đã có được tốc độ phát triển
nhanh và ổn định. Với kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt trên 9 tỷ USD, dệt
may luôn là ngành mũi nhọn trong nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, phần lớn
doanh thu ngành may là từ các hợp đồng gia công sản phẩm nên hiệu quả kinh tế
không cao. Vì vậy, việc đầu tư phát triển thị trường nội địa là một hướng đi đúng
đắ
n, đặc biệt là khi mức sống và nhu cầu của người dân đã tăng cao như hiện nay.
Thị trường nội địa hiện đang phải chịu sự cạnh tranh rất mạnh từ các nước
trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Sản phẩm từ các nước này đa dạng về
mẫu mã, phong phú về chất liệu, giá thành rẻ nhưng chất lượng sản phẩm không
cao, đặc biệt là r
ất kén người mặc vì kích cỡ chỉ vừa với một số đối tượng nhất
định. Bên cạnh đó, các công ty may Việt Nam cũng chưa đáp ứng được yêu cầu
của người tiêu dùng về độ vừa vặn của sản phẩm, do sản xuất dựa trên thông số
kích thước của các đơn hàng gia công cho nước ngoài rồi điều chỉnh cho phù hợp
với người Việt Nam. Chính vì vậy, việc xây d
ựng các bộ mẫu thiết kế chuẩn cho
người Việt Nam, phục vụ thị trường may mặc nội địa là điều rất cấp thiết.
Năm 2007-2008, Viện Dệt May đã có đề tài nghiên cứu xây dựng hệ thống
cỡ số cơ thể người phục vụ cho sản xuất hàng may mặc. Đây là một tiền đề rất
quan trọng cho việc dần thống nhấ
t các hệ thống cỡ số giữa các công ty may
trong nước. Để thực hiện được điều đó, bước đi tiếp theo là xây dựng hệ thống cỡ
số cho các sản phẩm may mặc, từ đó đưa ra các bộ mẫu kỹ thuật chuẩn cho các
sản phẩm may dùng trong sản xuất công nghiệp.
Tuy nhiên, các cuộc khảo sát nhân trắc học trước đây đều được thực hiện
theo phươ
ng pháp thủ công (đo bằng tay), trong khi hầu hết các nước tiên tiến
khác trên thế giới đã sử dụng công nghệ quét ba chiều để khảo sát. Từ năm 2009,
Viện Dệt May đã được trang bị máy quét cơ thể ba chiều, rất thuận lợi trong việc
3
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN

1.1. SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG CỠ SỐ CƠ THỂ NGƯỜI
1.1.1. Tóm tắt quá trình nghiên cứu và hình thành các hệ thống cỡ số cơ thể
người tại các quốc gia trên thế giới:
Việc khảo sát nhân trắc học nhằm tiến tới những ứng dụng trong may mặc
đã được các quốc gia trên thế giới quan tâm thực hiện từ rất sớm. Ở Mỹ, ngay từ
năm 1921, người ta đã tiến hành điều tra 100000 nam giới trong quân đội Mỹ
nhằm đưa ra báo cáo đầu tiên về ký hiệu cỡ quần áo. Từ những năm 1950, các
cuộc khảo sát cỡ số cũng đã được tiến hành tại các quốc gia Châu Âu. Tại Châu
Á, Nhật Bản là nước đầu tiên thực hiện các cuộc khảo sát nhân trắc học vào năm
1965-1966, tiếp theo là các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan…

100000
147000

10800
Đo tay
Đo tay

Đo máy
1921
1937/1941

2002/2003
Quân đội Mỹ
Ủy ban tiêu chuẩn
Mỹ
TC
2

Anh Nữ 5000
2500
2500
2500
37
Đo tay
Đo máy
Đo máy
Đo máy

14000?
31
26
Đo tay
Đo tay
Đo tay
Đo tay
1965/66
1969/70
1969/70
1958
CETIH
Nữ 8000
8500
8500
8600
1500
1100
13
21
21
24
82
82
Đo tay
Đo tay
Đo tay
Đo tay l
Đo máy
Đo máy

Hy Lạp Nữ
Nam
Nam (6-17)
Nữ (6-17)
Trẻ em
700
2950
1100
1100
300 30
26
Đo máy
Đo máy
Đo tay
Đo tay
Đo máy
1999/2000
1999/2000
1973
1973
1999/2000
SOMA
SOMA
ELKEPA

SOMA
Ý Nam/Nữ 1500 Đo máy 2002 D’appolonia

VGT Denhag

5

Trẻ em nữ
Trẻ em nam
750
3300
3300

24
22
Đo máy
Đo tay
Đo tay
2000
1984
1984
TNO
VGT Denhag
VGT Denhag
Thụy Điển Nữ
Nam
1000 22 Đo tay
Đo tay
1973
1975
TEFO, Goteborg
TEFO, Goteborg
Thổ Nhĩ

1992/1994
Tổ chức tiêu chuẩn
Viện HQL

Trung
Quốc
Nam/Nữ/Trẻ
em
Nữ
14000

1100
2800
62
Đo tay

Đo máy
Đo máy
1984

1997/1999
2002 Trung tâm nghiên
cứu phát triển con
người (Thượng Hải)

9. NF G 03-001 - Số đo cơ thể người: thuật ngữ, sơ đồ và phác đồ hình dạng
(Pháp)
10.TGL 20866 - Số đo cơ thể quần áo ( Đức)
11. Gost 17521-72 - Số đo nhân trắc cho phân cỡ trang phục (Nga)
1.1.2. Tóm tắt quá trình phát triển hệ thống cỡ số cơ thể ng
ười tại Việt
Nam :
Ngay từ khi ngành công nghiệp may phát triển ở Việt Nam các nghiên cứu
về nhân trắc để xây dựng cỡ số quần áo đã được quan tâm. Có thể kể đến một số
nghiên cứu trong nước trong thời gian qua:
- Năm 1966, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước đã ban hành 2 tiêu chuẩn cỡ
số đầu tiên có ứng dụng đo số liệu nhân trắc. Tiêu chuẩn đã phân loại 15 cỡ áo sơ

mi nam và 3 cỡ quần nam giới
- Năm 1970, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước đã ban hành các tiêu chuẩn
TCVN 371-70 và TCVN 372-70 cỡ số quần áo trẻ em với việc lựa chọn 8 thông
số kích thước ; TCVN 373 và TCVN 374: cỡ số trẻ em gái với 34 thông số kích
thước; TCVN 375-70 và TCVN 376-70 cỡ số trẻ em trai với 30 thông số kích
thước; TCVN 1267-72 và TCVN 1268-72 – Cỡ số quần áo nữ với 45 thông số
kích thước và TCVN 1680-75 và TCVN 1681-75 cỡ số quần áo nam với 42
thông số kích thước.

7
- Năm 1982, trong quân đội ban hành hệ thống cỡ số với 12 thông số kích thước.
Trong đó chiều cao là kích thước chủ đạo với 5 vóc, mỗi vóc chênh nhau 5 cm.
Mỗi vóc chiều cao chỉ có một cỡ vòng ngực và một cỡ vòng eo
- Năm 1994, Tổng cục tiêu chuẩn ban hành các tiêu chuẩn:
+ TCVN 5781-1994- Phương pháp đo cơ thể người
+ TCVN 5782-1994 – Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo. Tiêu chuẩn này qui
định hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quầ

trong độ tuổi từ 6 đến 60. Từ các kết quả khảo sát này, đề tài đã tiến hành xây
dựng được hệ thống cỡ số cơ thể người Việt Nam. Có thể nói, đây là bảng cỡ số
hoàn thiện nhất từ trước t
ới nay, bởi nó được xây dựng hoàn toàn đáp ứng tiêu
chuẩn ISO, với phương pháp luận chặt chẽ, khoa học. Việc khảo sát cỡ số cũng
như xác định các kích thước cần đo được thực hiện theo đúng hướng dẫn của tiêu
chuẩn ISO 8559. Các bước tiến hành xây dựng hệ thống cỡ số cũng được thực
hiện theo tiêu chuẩn ISO TR-10652. Mặt khác, đề tài sử dụng phương pháp
nghiên c
ứu thành phần chính – một phương pháp toán học tiên tiến – trong việc
xác định các kích thước chủ đạo cũng như phân dạng cơ thể người. Với việc phân
cỡ theo dạng cơ thể, bảng cỡ số đã đáp ứng được đa số dân số. Tuy nhiên, quá
trình khảo sát nhân trắc học trong nghiên cứu này chỉ được thực hiện bằng
phương pháp truyền thống đo tay, vì vậy còn hạn chế
trong các ứng dụng tiếp
theo.
So sánh giữa kết quả khảo sát năm 1999 với kết quả năm 2008, cũng có thể
thấy sự thay đổi về kích thước cơ thể người Việt Nam có những thay đổi rõ rệt,
thể hiện:
15.3
8
37.2
32.39
31.6
37.11
11.8
18.4
1.99
4
0.221

0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
70 75 80 85 90 95 100
Năm 1999
Năm 2008

Hình 1.2. So sánh sự thay đổi về kích thước vòng ngực của phụ nữ
Việt Nam qua hai thời kỳ

1.1.3. Thực trạng việc sử dụng các hệ thống cỡ số trong công nghiệp may:
Trên thực tế hiện nay, hầu hết các nhà sản xuất hoặc bắt chước các hệ thống
cỡ số đã có hoặc sử dụng các cỡ số đã có với sự cải tiến dự
a trên hiểu biết về
khách hàng sau một thời gian hợp tác. Các hệ thống cỡ số thường được xây dựng
và điều chỉnh theo cách thử - sửa, phụ thuộc vào thông tin phản hồi của các cuộc
điều tra nhỏ và phân tích các báo cáo hàng hóa đã bán và phải trả lại. Kết quả là
các cỡ quần áo có thể khác nhiều giữa công ty này và công ty khác. Quần áo cùng
kích thước nhưng được gắn nhãn cỡ khác nhau và ngược lại những quần áo cùng
nhãn cỡ lại có kích thước khác nhau. Thực tế, cỡ số ghi trên nhãn thường không
biểu thị rõ là chỉ số đo quần áo hay cơ thể hay phần quần áo hay cơ thể nào.
Trong nhiều trường hợp, ký hiệu cỡ số không thể hiện số đo cơ thể hay quần áo.
Tình trạng thông tin sai lệch giữa khách hàng và ngành công nghiệp may sẵn

đầu của hội đồng, các nghiên cứu và báo cáo trước từ nhiều nước xác định là xây
dựng một hệ thống cỡ số quốc tế là không thể thực hi
ện do sự khác biệt lớn giữa
dân số của các nước. Tạo một hệ thống cỡ số để phục vụ dân số thế giới là không
hiệu quả do sự đa dạng nhân trắc cũng như các vấn đề tôn giáo khác có liên quan.
Do đó nghiên cứu của ISO/TC 133 tập trung vào việc tiêu chuẩn hóa các thành
phần của một hệ thống ký hiệu cỡ số và đề xuất các hướng dẫn cho vi
ệc xây
dựng một hệ thống cỡ số hơn là xây dựng hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quốc tế.
Những kích thước chủ đạo và thứ cấp có thể tạo cơ sở cho một tập hợp cỡ số của
mỗi loại quần áo được thiết lập và một phác đồ cho việc ký hiệu cỡ số của các
quần áo được thông qua.
Dãy các tiêu chuẩn ISO "Ký hi
ệu cỡ số quần áo" xác định các kích thước cơ
thể chủ đạo và qui định cách ký hiệu cỡ số của các loại quần áo cho nam, nữ và
trẻ em. Ví dụ, ISO 3636:1977 – ký hiệu cỡ số quần áo cho nam giới và trẻ em
nam; ISO 3637:1977 – ký hiệu cỡ quần áo cho phụ nữ và trẻ em nữ.
Năm 1991, ISO/TC 133 đã ban hành Bản báo cáo kĩ thuật ISO/TR
10652:1991 xác định những kích thước chủ đạo và trình bày qui trình xây dựng
một hệ thống cỡ
số dựa trên dữ liệu nhân trắc của một dân số cụ thể. Bản báo cáo
hướng dẫn qui trình xây dựng hệ thống cỡ số từ dữ liệu nhân trắc thu thập theo

11
tiêu chuẩn ISO 8559:1989. Hệ thống cỡ số giới thiệu trong ISO/TR 10652:1991
không được coi là tiêu chuẩn mà chỉ là ví dụ thực hiện việc xây dựng hệ thống cỡ
số. Với việc phát hành tài liệu này, mục tiêu của ISO/TR 133 coi như đã đạt được,
các tiêu chuẩn cần thiết cho ký hiệu cỡ số, xác định các kích thước chủ đạo cho
mỗi loại quần áo và qui trình xây dựng một hệ thống cỡ số.
Nhiề

12
Thiết bị quét cơ thể 3D đã được nhiều hãng phát triển. Những máy quét
khác nhau (như [TC]
2
Cyberware, Human Solutions, Telmat, Hamamatsu, Wicks
and Wilson, Bodyskanner
TM
) sử dụng những máy ảnh và hình dạng máy khác
nhau, các loại nguồn sáng khác nhau để chiếu sáng vật thể, và các hệ thống máy
tính khác nhau, nhưng đều được thiết kế để hiển thị hình ảnh 3D của vật thể và
cho phép tách chính xác thành kích thước một, hai hay ba chiều của vật thể. Một
dạng khác của hệ thống quét cơ thể dựa trên sóng radio hiện nay được công ty
Interlifit dùng để lựa chọn kích cỡ tự động có khả
năng quét bề mặt cơ thể thông
qua quần áo của đối tượng đo.

Hình 1.3. Thiết bị quét cơ thể người 3D – NX16 của hãng TC
2
Từ năm 2009, Viện Dệt May đã được trang bị thiết bị đo cơ thể người 3D
của hãng TC
2
- hãng sản xuất hàng đầu về thiết bị này. Có thể điểm qua một số
tính năng của thiết bị quét cơ thể 3D của hãng TC
2
như sau:
- Thiết bị sử dụng nguồn là ánh sáng trắng, đây là công nghệ an toàn nhất
hiện nay.
- Thiết bị này có thể tự vận hành bởi người được đo trong một môi trường
hoàn toàn riêng biệt, mà không cần sự trợ giúp của một người nào khác. Sẽ
có một dòng âm thanh hướng dẫn người đo đứng đúng vị trí và cần bấm

1.2.2. Ứng dụng thiết bị
quét cơ thể 3D trong việc khảo sát nhân trắc học:
Với sự phát triển nhanh chóng của máy quét cơ thể 3D, nhiều nước trên thế
giới đã sử dụng công nghệ tiến bộ này để tiến hành những cuộc điều tra nhân trắc
học tiết kiệm thời gian, sức lao động hơn. Mục tiêu của công việc này là có được
những bản phân tích cơ thể 3D chính xác và tự động có thể sử d
ụng ngay trong
công nghiệp quần áo. Hệ thống này đo cỡ người, hình dáng và thể tích theo nhiều
cách khác nhau cho mỗi bộ phận quần áo thậm chí có thể cho phép tạo trực tiếp
những mẫu quần áo cho số liệu 3D, hạn chế việc lặp lại các phép đo và hình dáng.
1. Khảo sát nhân trắc tại Nhật Bản :
Nhật Bản là nước đầu tiên trên thế giới sử dụng máy quét cơ thể 3D để
thực hiệ
n một cuộc khảo sát lớn trên phạm vi toàn quốc gia. Kết quả của cuộc
khảo sát này được công bố trong ‘Số liệu kích thước cơ thể Nhật Bản 1992-1994’
do Viện nghiên cứu kĩ thuật con người cho chất lượng cuộc sống (HQL). Khoảng

14
19000 nam giới và 15 000 nữ giới Nhật Bản độ tuổi từ 7 đến 90 đã được đo với
178 số đo được thực hiện bằng máy quét laze 3D Voxelan và phương pháp
truyền thống.
Động lực chính của cuộc điều tra là để hiểu hơn sự thay đổi hình dáng và
kích thước cơ thể người Nhật Bản. Chiều cao cơ thể giảm sau thời kì Kofun và
thấp nhất vào cuối thờ
i Edo. Từ đó, chiều cao cơ thể phát triển nhanh chóng.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi thấy rõ là những nhân tố môi trường liên
quan đến dinh dưỡng hơn là những nhân tố về gen. Trong 100 năm, chiều cao
trung bình người Nhật Bản đã tăng khoảng 10 cm. Tỉ lệ tăng đặc biệt ở thế hệ
sinh trong thập niên 1940 và rất thấp ở thập niên 1970. Sự khác biệt giữa các thế
hệ về vóc dáng mộ

Năm 1999, chính phủ Anh tiến hành một đề tài nghiên cứu toàn quốc và
thành lập Trung tâm thương mại điện tử 3D. Đề tài được tài trợ bởi một nhóm
công ty thương mại và nhà phân phối quần áo hàng đầu. Đề tài gồm 3 phần: mua
hàng chính thức, quần áo khách hàng và cuộc điều tra kích thước quốc gia ‘Cỡ số
Anh’, cuộc điều tra lớn nhất lại Anh từ thập niên 1950. Chi phí cho cuộc điề
u tra
bắt đầu là 1.2 triệu USD. Ba máy quét TC
2
được sử dụng tại 8 địa điểm khác
nhau tại Anh. Mỗi người được trích ra 140 số đo từ ảnh quét tự động và 10 số đo
thực hiện theo phương pháp truyền thống.
Cỡ Anh sử dụng thiết bị quét cơ thể 3D với mục đích cung cấp cho người
mặc những quần áo vừa vặn hơn. Đại học Luân Đôn và Đại học cao đẳng Luân
Đôn đóng vai trò quan trọng trong dự án với 10000 nam nữ được quét.
Bodymetrics được chọn là người bán độc quyền các số liệu của cuộc điều
tra kích thước ‘Cỡ số Anh’ năm 2003. Tổ chức này có trách nhiệm phân tích số
liệu cơ thể của 5000 phụ nữ và 5000 nam giới và thị trường hoá số liệu nghiên
cứu. Từ số liệu hình dáng 3D phân tích, những dịch vụ đề nghị bao gồm thử trự
c
tiếp bằng mắt và cung cấp biểu đồ cỡ số và hình mô phỏng cho thợ may. Tổ chức
cũng tham gia vào chương trình Mốt tại Selfridges với một máy quét cơ thể TC
2

có chức năng quét khách hàng và tự động tính toán cỡ số đồ jean phù hợp. Kết
quả được sử dụng cho ngân hàng dữ liệu hàng Jean với những thương hiệu nổi
tiếng như Calvin Klein, D&G và Versace.
5. Cỡ số Mĩ (2002-2003)
Từ sự thành công của máy quét cơ thể TC
2
tại ‘Cỡ số Anh’, ‘Cỡ số Mĩ’

giữa người Hàn Quốc và Trung Quốc’ cho Đại học Seoul đã thực hiện đo 2800
phụ nữ ớ các vùng Đông, Bắc, Nam Trung Quốc. Năm 2002 thực hiện một khảo
sát nhân trắc sử dụng máy quét TC2 để trích ra 62 số đo cơ thể cho mỗi chủ thể.
Năm 2003, một cuộc khảo sát số đo phụ nữ Trung Qu
ốc được thực hiện với sự
phối hợp của công ty đồ lót địa phương. Năm 2004, Một chiếc máy quét laze 3D
Voxelan được lắp đặt để đo cụ thể hơn vùng ngực.
17
1.2.3. Ứng dụng thiết bị quét cơ thể 3D trong ngành công nghiệp may mặc :
Việc nghiên cứu ứng dụng đo nhân trắc bằng công nghệ quét không tốn
kém và ít thời gian hơn với đo nhân trắc truyền thống, nó cung cấp nhiều chi tiết
hơn, chính xác hơn, giảm lỗi đo. Nó cũng cho phép tiến hành các phép đo mà đo
bằng tay không thực hiện được như diện tích bề mặt, chia cắt từng phần hoặc th

tích. Dữ liệu máy quét 3D nhận được tốt hơn dữ liệu đo truyền thống vì có thể
lặp lại nhiều lần, lưu giữ lâu dài, trích xuất những thông số kích thước cần thiết
cho những ứng dụng và các phân tích khác nhau. Chính vì những lý do đó nên
máy quét cơ thể 3D được sử dụng nhiều đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực
phát triển hệ thống cỡ số nói riêng cũng như
các lĩnh vực liên quan đến may mặc
nói chung.
• Máy quét cơ thể đã được dùng thành công để đo kích thước cơ thể trong
ngành may mặc (Ashdown, Loker, & Adelson, 2003; Petrova,2003, Ashdown,
Loker, & Schoenfelder, 2003);
• Phát triển những công cụ về định lượng hình dạng cơ thể (Connell, Ulrich,
Brannon, Alecxander, & Preslay.2006; Simmons, Istook, & Devarajan, 2004a,
2004b);

1. Thiết kế theo phương pháp tính toán :
Hay còn gọi là phương pháp thiết kế phẳng 2D. Theo phương pháp này
người ta xác định kích thước, hình dạng các chi tiết quần áo theo các kích thướ
c
cơ thể, phù hợp với kiểu dáng sán phẩm và lượng dư cần thiết. Có hai cách thực
hiện :
• Thiết kế trực tiếp : tính toán và thiết kế ngay mẫu kỹ thuật hoàn chỉnh theo
các yêu cầu trên bản vẽ thiết kế thời trang. Phương pháp này có độ chính xác
không cao, phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm của người thiết kế. Thường hiện
nay chỉ được sử dụng trong may đo d
ơn chiếc.
• Thiết kế từ mẫu gốc cơ sở : thiết kế mẫu kỹ thuật dựa trên mẫu cơ sở, cõ
thêm bớt các lượng dư cũng như các chi tiết cần thiết cho phù hợp với yêu cầu
của bản vẽ thiết kế thời trang. Mẫu cơ sở (basic block) là mẫu có độ vừa vặn ôm
sát cơ thể người mặc, chưa tính đế
n các yếu tố kiểu dáng. Phương pháp này hiện
được sử dụng chủ yếu trong sản xuất công nghiệp vì có độ chính xác cao và tiết
kiệm được thời gian. 19
2 . Thiết kế trên ma-nơ-canh :
Hay còn gọi là phương pháp thiết kế 3D. Người ta dùng một tấm vải trùn
lên bề mặt ma-nơ-canh rồi tiến hành ghim theo các đường may, đường thiết kế,
đánh dấu các vị trí quan trọng trên mẫu Sau đó, phần vải này được trải phẳng để
sao lại trên giấy, cân chỉnh mẫu và hoàn thiện. Phương pháp này thường được sử
dụng cho các mẫu thiết kế phức tạp hoặc s
ử dụng các chất liệu đặc biệt mà dùng
phương pháp tính toán không đạt được hiệu quả.
3. Phương pháp thiết kế kết hợp:

• Sử dụng mẫu cơ sở để
phát triển mẫu mới phù hợp với các yêu cầu thiết kế
khác nhau.
• Nhảy cỡ mẫu kỹ thuật hoàn chỉnh để tạo ra một bộ mẫu sản phẩm. Số
lượng và tỷ lệ cỡ phụ thuộc vào nhóm đối tượng của sản phẩm và nhu cầu của thị
trường.
• Kiểm tra lại độ chính xác của bộ mẫu kỹ thuật, xây dự
ng tài liệu kỹ thuật
và đưa vào sản xuất.
Mẫu kỹ thuật có thể được tạo ra từ thiết kế 2D, 3D hoặc kết hợp các phương pháp
thiết kế. Hệ thống thiết kế mẫu kỹ thuật (PDS) đã trở thành công cụ hữu ích đối
với người làm mẫu, giúp lưu trữ lượng dữ liệu lớn và xử lý nhanh chóng, chính
xác. Ngoài ra, một số công ty phần mềm như
Gerber Technology, Optitex,
Human Solution, Lectra Systems đã phát triển các phần mềm thiết kế thời trang
3D trợ giúp cho người thiết kế mẫu có thể xử lý độ vừa vặn và tạo dáng sản phẩm
theo yêu cầu. Hệ thống cho phép tạo ra các hình mẫu avatar ảo, có kích thước và
tỷ lệ như người mãu thật. Sau khi thiết kế mẫu kỹ thuật, định dạng các đường liên
kết của các chi tiết mẫu, người thiết kế có thể
tiến hành phủ mẫu kỹ thuật lên
hình mẫu avatar. Các tính chất của vải cũng được khai báo để tạo hiệu ứng rủ
như thật. Trên cơ sở đó người thiết kế có thể đánh giá được độ vừa vặn cũng như
mức độ tạo dáng của sản phẩm để có những điều chỉnh phù hợp.
1.3.3. Tám nguyên lý cơ bản trong thiết kế s
ản phẩm may mặc:
Trong quá trình thiết kế sản phẩm, để đảm bảo chất lượng cũng như tính
thẩm mỹ của sản phẩm, thiết kế viên phải tuân thủ đúng các nguyên lý cơ bản
sau:
Nguyên lý 1:
Thực hiện đúng quy trình thiết kế công nghiệp

Sự biến đổi của kích thước cơ thể trong quá trình vận động là cơ sở
để tính toán lượng gia giảm cử động cho sản phẩm may.
• Kích thước từng phần của sản phẩm khi cơ thể ở trạng thái động phải được
nghiên cứu, điều chỉnh bằng lượng gia giảm cử động tối thiểu hay còn gọi
là cử động cơ bản cho các kích thướ
c cơ thể (G
CD
min).
• Đối với các kích thước chủ đạo để thiết kế quần áo mặc hàng ngày, lượng
G
CD
min - được xác định từ số liệu khảo sát thay đổi kích thước khi hít thở
sâu – thường nhỏ hơn 2.5% đối với quần áo một lớp.
• Khi cơ thể chuyển động, một số kích thước có thể thay đổi nhiều so với khi
ở trạng thái tĩnh như: Khi đưa tay lên cao hoặc giơ tay ra phía trước, kích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status