Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản sang thị trường nhật bản - Pdf 13

Tr-ờng đại học ngoại th-ơng hà nội
Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành kinh tế đối ngoại
********* o0o ********
khoá luận tốt nghiệp

Đề tài:
Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
việt nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản
sang thị tr-ờng nhật bản

SV thực hiện : Phạm Thị Minh Khánh
Lớp : Nhật 2
Khóa : K42
GV h-ớng dẫn :tHs. Nguyễn Thị Thu Hằng hà nội, tháng 11 / 2007 1
LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, nền
kinh tế Việt Nam đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc. Tăng trƣởng kinh tế
trong những năm gần đây liên tục ở mức 7-8%/ năm, đời sống nhân dân đƣợc
nâng lên rõ rệt. Tất cả các lĩnh vực kinh tế đều có những bƣớc phát triển vƣợt
bậc, trong đó, xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản liên tục tăng trong

Nhật Bản, hệ thống chính sách xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của chúng ta
còn chƣa hợp lý,… trong đó, năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất
khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam còn yếu là một trong những
nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả hoạt động xuất khẩu các sản phẩm
nông, lâm, thuỷ sản của chúng ta còn nhiều hạn chế. Việc nghiên cứu và tìm
ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất
khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trƣờng Nhật Bản là hết sức cần
thiết góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển xuất khẩu nông, lâm,
thuỷ sản của đất nƣớc. Với những lý do trên, dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo,
Ths. Nguyễn Thị Thu Hằng, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Nâng cao năng lực xuất
khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản
sang thị trƣờng Nhật Bản” để làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
II. Mục đích nghiên cứu
1. Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp và năng lực xuất
khẩu của doanh nghiệp.
2. Đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản
phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị trƣờng Nhật Bản thông qua thực trạng xuất
khẩu các sản phẩm nông, lâm thuỷ sản sang thị trƣờng Nhật Bản.
3. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh
nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản sang thị
trƣờng Nhật Bản.
III. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Nhật Bản và các vấn đề liên quan đến thị trƣờng Nhật Bản: tổng quan
về thị trƣờng Nhật Bản, đặc điểm thị trƣờng, các yêu cầu và chính sách
và cơ chế nhập khẩu hàng hoá,… 3
- Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm

CỦA DOANH NGHIỆP
I. DOANH NGHIỆP VÀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
1. Doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
1.1. Khái niệm doanh nghiệp và đặc điểm của doanh nghiệp
Hiện nay, có khá nhiều khái niệm doanh nghiệp đƣợc đƣa ra. Tuy nhiên,
khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn đƣợc thừa nhận
phổ biến hơn cả.
Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng kí kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh" (Điều 4-khoản 1)
Từ định nghĩa trên có thể rút ra đƣợc một số đặc điểm cơ bản của
doanh nghiệp nhƣ sau:
- Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế độc lập
Doanh nghiệp hoạt động một cách độc lập, không phụ thuộc vào các
chủ thể kinh tế khác. Điều này thể hiện ở việc doanh nghiệp có tên riêng, trụ
sở giao dịch riêng, tài sản riêng, doanh nghiệp hoạt động một cách độc lập,
nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình.
- Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là kinh doanh thu lợi nhuận
Các doanh nghiệp thành lập thƣờng đều nhằm mục đích kinh doanh.
Mục tiêu của kinh doanh là thu đƣợc lợi nhuận. Vì vậy, mục đích hoạt động
của doanh nghiệp là kinh doanh thu lợi nhuận.
- Doanh nghiệp hoạt động tuân thủ theo các quy định của pháp luật
Pháp luật chỉ thừa nhận và bảo vệ doanh nghiệp khi doanh nghiệp hoạt
động trong khuôn khổ của pháp luật. Doanh nghiệp phải đƣợc thành lập hợp
pháp, tiến hành đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh tuân theo các
quy định của pháp luật.

một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu 6
công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. (Điều 63 khoản 1- Luật Doanh
nghiệp 2005)
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đƣợc chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số
lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa. (trích Điều 77
khoản 1 mục a, mục b- Luật Doanh nghiệp 2005).
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành
viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dƣới một tên
chung (gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên hợp danh, có thể có
thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp
vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn
đã góp vào công ty.
Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
2. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam
2.1. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
2.1.1. Xuất khẩu nâng cao trình độ lao động, trình độ quản lý của doanh
nghiệp
Các sản phẩm xuất khẩu phải đảm bảo đáp ứng đƣợc những yêu cầu
chất lƣợng khắt khe của các tiêu chuẩn quốc tế và các tiêu chuẩn của nƣớc
nhập khẩu. Do đó, để xuất khẩu đƣợc sản phẩm, doanh nghiệp phải xây dựng
cho mình một đội ngũ lao động có kỹ thuật, lành nghề, trình độ quản lý của
đội ngũ lãnh đạo cũng phải đƣợc nâng cao hơn.

Xuất khẩu là một phần của GDP nên xuất khẩu góp phần thúc đẩy sự
tăng trƣởng GDP của đất nƣớc. Năm 2002, xuất khẩu chiếm 47% tổng GDP,
so với năm 1998 tăng 62%, kéo theo sự tăng tƣơng ứng của GDP là 55%.
1

2.2.3. Xuất khẩu góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân
Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hƣớng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang 1
Bộ Thƣơng mại, Báo cáo kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2002 8
kinh tế hàng hoá. Phát triển xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho ngƣời lao động, nâng cao chất lƣợng và trình độ của ngƣời lao động, cải
thiện đời sống nhân dân, từ đó phát triển nền kinh tế theo chiều sâu.
2.2.4. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việt Nam từ chỗ chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm thô, chƣa qua chế
biến, giá trị gia tăng thấp, đến nay chúng ta đã chú ý đầu tƣ phát triển các
ngành công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và các
ngành công nghiệp chế tạo linh kiện điện tử và công nghiệp phần mềm. Đồng
thời, thực hiện chiến lƣợc hƣớng ra xuất khẩu, cơ cấu lao động của Việt Nam
đang chuyển dịch theo hƣớng giảm dần lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao
động phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
2.2.5. Xuất khẩu thúc đẩy các mối liên kết kinh tế
Xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của hàng loạt các ngành
có liên quan nhƣ công nghệ chế biến, dịch vụ, vận tải,…Chẳng hạn, xuất khẩu
nông sản thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản, cơ khí chế tạo máy nông

hoá, dịch vụ đến mức cao nhất của doanh nghiệp trên thị trƣờng nƣớc ngoài.
2

Thứ hai, có thể hiểu “ Năng lực xuất khẩu là khả năng một doanh
nghiệp có thể bán đƣợc sản phẩm trên thị trƣờng quốc tế và thu lợi trên cơ sở
tạo dựng và khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp và
những cơ hội thị trƣờng”.
3

Cách tiếp cận về năng lực xuất khẩu này có một số hàm ‎ ý. Thứ nhất,
năng lực xuất khẩu là kết quả của chiến lƣợc và các hoạt động hay nỗ lực có
chủ định của một doanh nghiệp nhằm tạo dựng và khai thác một cách hiệu
quả nhất các nguồn lực mà doanh nghiệp sở hữu hoặc có khả năng tiếp cận,
tức là nó phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan của doanh nghiệp. Thứ hai,
doanh nghiệp có thể tạo dựng đƣợc năng lực xuất khẩu trên cơ sở tiếp cận và
khai thác tốt các yếu tố về lợi thế so sánh, môi trƣờng kinh doanh thuận lợi
của quốc gia, nhƣ cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, vị trí địa lý, các ngành công
nghiệp bổ trợ, điều kiện nhu cầu. Định nghĩa cũng chỉ ra rằng, năng lực xuất
khẩu thực sự của doanh nghiệp phải đƣợc xem xét trong điều kiện cạnh tranh 2
TS. Bùi Ngọc Sơn, Tác động của môi trƣờng kinh doanh đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt
Nam, Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp và mô hình đánh giá
năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội, 01/2004, tr75-76
3
CN. Ngô Quý Nhâm, Các căn cứ để xây dựng mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu của DN, Hội thảo khoa
học: Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp và mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu
của các doanh nghiệp Hà Nội, 01/2004, tr36-37


khả năng bán sản phẩm trên thị trƣờng quốc tế và thu đƣợc lợi nhuận. Để bán
đƣợc sản phẩm trên thị trƣờng quốc tế (có năng lực xuất khẩu) thì sản phẩm
đó phải đƣợc chấp nhận bởi các nhà nhập khẩu nƣớc ngoài. Sản phẩm của 4
Nhóm nghiên cứu trƣờng ĐH Ngoại Thƣơng đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực
xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá thủ đô
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”- tr16
5
TS. Bùi Ngọc Sơn, Tác động của môi trƣờng kinh doanh đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt
Nam, Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận về NLXK của doanh nghiệp và mô hình đánh giá năng lực
xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội, 01/2004, tr76. 11
doanh nghiệp có đƣợc chấp nhận hay không trên thị trƣờng quốc tế sẽ phụ
thuộc vào lợi thế (chí phí và/hoặc khác biệt hoá) mà doanh nghiệp tạo ra.
Điều đó có nghĩa là năng lực cạnh tranh là điều kiện cần của năng lực xuất
khẩu. Ngƣợc lại, doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu, nghĩa là có khả năng
xuất khẩu thu lợi nhuận, thì chƣa chắc doanh nghiệp đó đã có năng lực cạnh
tranh quốc tế. Hiện nay, cạnh tranh trên thƣơng trƣờng diễn ra vô cùng khốc
liệt, năng lực cạnh tranh rất dễ bị triệt tiêu và năng lực xuất khẩu không thể
trở thành năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp không tích cực chủ động
thƣờng xuyên nâng cao chất lƣợng và cải tiến, đổi mới sản phẩm phù hợp với
những biến động của thị trƣờng.
3.2. Các yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
Tuỳ theo quan điểm tiếp cận mà có những cách hiểu khác nhau về yếu
tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở đây, theo
quan điểm của tác giả, các yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh

doanh nghiệp.
- Chất lƣợng của sản phẩm: Hàng hoá chỉ có thể đƣợc ngƣời tiêu dùng
tin dùng khi có giá cả hợp lý và chất lƣợng đảm bảo. Chất lƣợng cao, giá cả
hợp lý là những tiêu chí tạo nên sức cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp
trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Sức cạnh tranh của hàng hoá và doanh
nghiệp tăng sẽ góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
3.2.3. Năng lực tổ chức xuất khẩu
- Năng lực tổ chức xuất khẩu thể hiện khả năng thực hiện hợp đồng
xuất khẩu, khả năng giao hàng đúng hạn và nghệ thuật bán hàng phù hợp,
phƣơng thức thanh toán thuận tiện, năng lực thực hiện những dịch vụ sau bán
hàng của doanh nghiệp. Năng lực tổ chức xuất khẩu của doanh nghiệp thƣòng
gồm một số mặt:
+ Năng lực đàm phán, ký kết các hợp đồng xuất khẩu;
+ Năng lực thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu (thu mua, vận chuyển
hàng hoá xuất khẩu, mua bảo hiểm, thuê tàu,…);
+ Năng lực thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế;
+ Năng lực xử lý các tình huống khi các tranh chấp thƣơng mại phát
sinh.
3.2.4. Khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trƣờng. 13
Khả năng này phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp đối với thị trƣờng.
Vấn đề chiếm lĩnh và mở rộng thị trƣờng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song,
về cơ bản doanh nghiệp cần phải xây dựng đƣợc chiến lƣợc kinh doanh và
chiến lƣợc thị trƣờng dài hạn.
3.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
Muốn đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, ta cần xây dựng
một hệ thống chỉ tiêu đánh giá. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu
của doanh nghiệp có thể đƣợc xây dựng bao gồm hai nhóm chỉ tiêu cơ bản:

phẩm. Quá trình sản xuất phải đƣợc kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ở tất cả các
khâu. Sản phẩm làm ra phải đƣợc kiểm định bởi hệ thống kiểm tra chất lƣợng
của công ty và/hoặc hệ thống kiểm tra chất lƣợng của khách hàng và/ hoặc hệ
thống kiểm tra của tổ chức đo lƣờng chất lƣợng có uy tín, đƣợc công nhận.
Sản phẩm còn phải đảm bảo thoả mãn các yêu cầu vệ sinh, môi trƣờng, phải
mang tính xã hội, không gây hại tới sức khoẻ ngƣời tiêu dùng. Nâng cao chất
lƣợng sản phẩm để nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là vấn đề
chung mà bất kì doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm giải quyết trong điều
kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
+ Giá cả của sản phẩm
Giá cả là một trong những tiêu chí quan trọng ảnh hƣởng đến quyết
định mua sắm của ngƣời tiêu dùng, do đó giá sản phẩm phải hợp lý, tƣơng
xứng với giá trị của sản phẩm. Đối với doanh nghiệp, giá sản phẩm phải đảm
bảo đủ bù đắp chi phí sản xuất đồng thời đảm bảo yêu cầu đem lại lợi nhuận.
Nâng cao chất lƣợng, hạ giá thành sản phẩm luôn là yếu tố căn bản nâng cao
năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp.
+ Bao bì, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm
Ngày nay, bao bì sản phẩm không chỉ dừng lại ở việc là hình thức, vỏ
bọc bên ngoài sản phẩm mà còn là biểu tƣợng của doanh nghiệp. là sức hút
của sản phẩm đối với ngƣời tiêu dùng. Kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm phải phù
hợp với thị trƣờng, thu hút sự chú ý và kích thích nhu cầu mua hàng của
ngƣời tiêu dùng. Do đó , kiểu dáng sản phẩm phải tiện lợi, đa dạng và phù
hợp với thẩm mỹ của ngƣời tiêu dùng. Để nâng cao năng lực xuất khẩu của
doanh nghiệp, doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến khâu thiết kế bao bì, kiểu
dáng, mẫu mã sản phẩm 15
+ Uy tín thƣơng hiệu sản phẩm
Trong nỗ lực thâm nhập thị trƣờng, gắn liền với việc nâng cao chất

Hoạt động quảng cáo, xúc tiến thƣơng mại giúp mở rộng hình ảnh của
doanh nghiệp trên thị trƣờng và định vị hình ảnh trong lòng ngƣời tiêu dùng.
Hiệu quả của hoạt động quảng cáo, xúc tiến thƣơng mại đƣợc đánh giá thông
qua: trình độ học vấn và kinh nghiệm của đội ngũ quảng cáo, xúc tiến thƣơng
mại của doanh nghiệp, cơ hội và năng lực tiếp cận với các công nghệ truyền
thông hiện đại, khả năng ghi nhớ của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm và đối
với doanh nghiệp, khả năng xây dựng các kế hoạch xúc tiến thƣơng mại, mức
độ thành công của các chiến dịch quảng cáo,…
3.3.2. Nhóm chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả kinh doanh
- Chỉ tiêu về lƣợng và trị giá xuất khẩu của doanh nghiệp
+ Lƣợng xuất khẩu: thể hiện trình độ lực lƣợng sản xuất của từng
doanh nghiệp, phản ánh quy mô, cũng nhƣ khả năng sản xuất, tiêu thụ của
doanh nghiệp. Giá trị xuất khẩu là yếu tố đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này cũng phản ánh khả năng huy động nguồn lực cho sản xuất, khả
năng thực hiện đơn hàng của doanh nghiệp. Với một giá bán không đổi, khối
lƣợng tiêu thụ tăng sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
+ Giá xuất khẩu: Giá hàng hoá/ dịch vụ là một yếu tố khách quan
nhƣng năng lực xuất khẩu có thể đƣợc đánh giá thông qua chính sách định giá
của doanh nghiệp đối với hàng hoá/ dịch vụ xuất khẩu. Chính sách giá hợp lý
sẽ giúp doanh nghiệp thu đƣợc lợi nhuận nhiều hơn. Giá xuất khẩu sẽ đƣợc so
sánh giữa nhiều kỳ với nhau, giữa nhiều thị trƣờng với nhau, giữa giá doanh
nghiệp định ra và giá thị trƣờng trong tƣơng quan với biến động lƣợng xuất
khẩu…để đánh giá hiệu quả chính sách giá của doanh nghiệp trên thị trƣờng.
+ Trị giá xuất khẩu: đƣợc tính bằng công thức: q*p, trong đó q là
lƣợng xuất khẩu và p là đơn giá mặt hàng xuất khẩu, phản ánh trị giá thu về
của doanh nghiệp sau một kỳ xuất khẩu. Đây cũng là một chỉ tiêu để đánh giá
năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua việc theo dõi sự biến động trị
giá xuất khẩu qua các kỳ kinh doanh (tƣơng đối và tuyệt đối), so sánh với đối
thủ cạnh tranh (trong nƣớc và nƣớc ngoài) dựa trên thị phần, tốc độ tăng
trƣởng, so sánh với ngành,

1
-F
o
+ Tỷ suất phí của từng kỳ kinh doanh: (F’): F’= [F/DT]*100%
+ Tỷ lệ chênh lệch tỷ suất phí ( F’): F’=F’
1
-F’
o
+ Mức độ tăng, giảm tỷ suất phí ( t
f
): t
f
=[ F’/F’
o
]*100%
+ Mức bội chi (U): U= F’.DT
kỳ nghiên cứu
6
Nguyễn Tấn Bình (2005), Phân tích hoạt động doanh nghiệp, Sách, tr104, 105, 106, Nhà xuất bản Thống kê 18
(F: Chi phớ (cỏc loi), DT: Doanh thu trong hot ng xut khu)
- Ch tiờu v hiu qu hot ng xut khu
Hiu qu l ch tiờu tng hp phn ỏnh mi quan h tng i gia vic
s dng tng cỏc yu t u v v kh nng to ra ton b cỏc yu t u ra
trong mt iu kin hon cnh c th. Hiu qu cú nh hng quyt nh n


- Cỏc ch tiờu ti chớnh tng hp ca doanh nghip
Nng lc ti chớnh ca doanh nghip mnh thỡ kh nng u t cho xut
khu tt, qua ú nng lc xut khu ca doanh nghip tng lờn. Cỏc ch tiờu 19
tài chính thƣờng đƣợc sử dụng là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán, chỉ
tiêu hiệu quả sử dụng vốn, chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu cơ cấu tài chính.
+Nhóm chỉ tiêu thanh toán: Hệ số khái quát:

x100%
tr¶ iph¶ n kho¶c¸c Tæng
thu iph¶ n kho¶c¸c Tæng

Các chỉ tiêu dùng để xem xét tình hình cụ thể gồm: các khoản phải thu
và các khoản phải trả.
Hai chỉ tiêu dùng xem xét các khoản phải thu là:

thu iph¶ n kho¶c¸c quay vßngSè
=
n©qu nh×b thu iph¶ n kho¶C¸c
thiÕu b¸n thu Doanh
x100%
Số vòng quay càng cao (tức số ngày thu tiền càng ngắn) chứng tỏ tình
hình quản lý và thu công nợ tốt, doanh nghiệp có khách hàng quen thuộc, ổn
định, thanh toán đúng hạn. Mặt khác, số vòng quay quá cao thể hiện phƣơng
thức bán hàng cứng nhắc, gần nhƣ bán hàng thu tiền mặt, khó cạnh tranh và
mở rộng thị trƣờng. Tuỳ vào tình hình cụ thể, chỉ tiêu trên sẽ đƣợc vận dụng
cho phù hợp.

hóa hàngchuyển nâlu vòngSố
=
x100%
nâqu nhìb khotồn hoá hànggiá Trị
vốngiá theora bán hoá hànggiá Trịmột vòngcủa ngàySố
=
x100%
vòngSố
360

Thi hn thanh toỏn gm thi hn thu tin v thi hn tr tin.

x100%
ngày1 nquâ nhìb thu Doanh
nquâ nhìb thu iphả n khoảCác
=tiền thu hạnThờix100%
ngày1 nquâ nhìb bán hàng vốnGiá
nquâ nhìbtrả iphả n khoảCác
=tiểntrả hạnThời

+ Nhúm ch tiờu li nhun: gm h s lói gp, h s lói rũng, sut sinh
li ca ti sn, sut sinh li ca vn ch s hu v phng trỡnh DuPont.
H s lói gp: Lói gp l khon chờnh lch gia giỏ bỏn v giỏ vn.
Khụng tớnh n chi phớ kinh doanh, h s lói gp bin ng s l nguyờn nhõn


u÷ hsë chñ Vèn
rßng L·i
=u÷ hsë chñ cña vèn lêi sinhSuÊt

mang ‎ý nghĩa một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu lợi nhuận ròng cho
chủ sở hữu.
+ Phƣơng trình Dupont:
ROE=ROA*Đòn bẩy tài chính
Trong đó, đòn bẩy tài chính hay đòn cân tài chính hay đòn cân nợ FL
(financial leverage) là chỉ tiêu thể hiện cơ cấu tài chính của doanh nghiệp:

u÷ hsë chñ Vèn
ns¶ tµi Tæng
=chÝnh tµi bÈy ßn§

+ Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính gồm hệ số nợ so với tài sản và hệ
số nợ so với vốn.
Hệ số nợ hay tỉ số nợ là phần nợ vay chiếm trong tổng nguồn vốn:

ns¶ tµi Tæng
nîsè Tæng
= nîsè HÖ

Hệ số nợ so với vốn:
Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu- một cách khác viết về đòn cân tài
chính, là loại hệ số cân bằng dùng so sánh giữa nợ vay và vốn chủ hữu, cho
biết cơ cấu tài chính của doanh nghiệp rõ ràng nhất.

u÷ hsë chñ Vèn

so với nhân lực sản xuất những sản phẩm bán cho thị trƣờng nội địa. Trƣớc
hết, chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện thông qua tỷ lệ lao động có
trình độ học vấn, bằng cấp , đã qua đào tạo, tỷ lệ lao động có kinh nghiệm
trong doanh nghiệp, số lƣợng chuyên gia, số lƣợng ngƣời đƣợc nhận đƣợc các
chứng chỉ đƣợc quốc tế công nhận. Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ, tin học
của nhân viên cũng là một đòi hỏi quan trọng đối với nhân viện của các doanh
nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp có website thƣơng mại điện tử
mua bán trực tuyến.
Các chính sách đãi ngộ đối với ngƣời lao động là liều thuốc tinh thần
kích thích sự lao động hăng say, sáng tạo của đội ngũ nhân viên. Các chính
sách về lƣơng, thƣởng, chính sách hỗ trợ đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ 23
thuật, bổ nhiệm…có vai trò to lớn duy trì và phát huy đối với nhân tố nguồn
nhân lực của năng lực xuất khẩu.
1.2. Năng lực tài chính
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động tài chính luôn giữ vai
trò quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp. Năng lực tài chính của
doanh nghiệp thƣờng đƣợc thể hiện thông qua hai yếu tố chính là: Khả năng
huy động vốn và hiệu quả của sử dụng vốn.
Nhƣ ta đã biết, vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập doanh
nghiệp và tiến hành sản xuất kinh doanh. Quy mô vốn của doanh nghiệp sẽ
đảm bảo cho doanh nghiệp theo đuổi đƣợc các hợp đồng, dự án, chiến lƣợc
đòi hỏi đầu tƣ lớn và trong dài hạn. Thông thƣờng, ngƣời ta thƣờng dựa vào
chỉ tiêu quy mô vốn của doanh nghiệp để đánh giá quy mô của doanh nghiệp.
Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp biểu thị khả năng doanh
nghiệp đáp ứng đƣợc các đòi hỏi về vốn để thực hiện các quyết định đầu tƣ.
Đứng trƣớc một hợp đồng, dự án, chiến lƣợc cần đầu tƣ, doanh nghiệp có khả
năng huy động vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu (vốn góp, các quỹ, tăng vốn

và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của ban lãnh đạo doanh nghiệp, khả
năng điều chỉnh bộ máy quản lý phù hợp khi doanh nghiệp trở nên lớn
mạnh,… Bên cạnh đó, năng lực quản lý biểu hiện thông qua hiệu quả của
từng mảng hoạt động. Nhìn chung, doanh nghiệp thƣờng đƣợc đánh giá là có
năng lực quản trị tốt là doanh nghiệp mà: có định hƣớng, chiến lƣợc phát triển
rõ ràng, các chính sách đãi ngộ đối với ngƣời lao động thực hiện nhất quán,
hoạt động đào tạo, tập huấn, chuyển giao công nghệ đạt hiệu quả cao và đi
vào thực chất. Hoạt động tài chính doanh nghiệp hỗ trợ tích cực đối với việc
thực hiện các kế hoạch kinh doanh. Hệ thống giám sát chất lƣợng hiệu quả
đảm bảo mỗi sản phẩm làm ra tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt nhất về tiêu
chuẩn chất lƣợng doanh nghiệp đặt ra và tiêu chuẩn chất lƣợng của thị trƣờng
nƣớc nhập khẩu. Đội ngũ lãnh đạo năng động, có khả năng nhìn xa trông rộng
trƣớc những biến động thay đổi của thị trƣờng và có những quyết sách phù
hợp.
1.4. Năng lực công nghệ
Ngày nay khoa học công nghệ phát triển nhƣ vũ bão. Năng lực công
nghệ giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Năng lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status