BÁO CÁO THỰC TẬP GIÁO TRÌNH CHUYÊN MÔN NƯỚC LỢ - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
BÁO CÁO
THỰC TẬP GIÁO TRÌNH CHUYÊN MÔN
NƯỚC LỢ
MÃ MÔN HỌC: SH 217.4
Cần Thơ, 2011
Nhóm: 2B
LỚP: NTTS K3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
BÁO CÁO
THỰC TẬP GIÁO TRÌNH CHUYÊN MÔN
NƯỚC LỢ
MÃ MÔN HỌC: SH 217.4
ii
Sinh viên thực hiện nhóm 2B
LƯƠNG THANH HẠ
TRẦN THỊ THÚY HẰNG
TRẦN PHÚC HẬU
TRẦN TRUNG HẬU
NGUYỄN VĂN HIẾN
Cán bộ hướng dẫn
ThS. TĂNG MINH KHOA
ThS. NGUYỄN THÀNH TÂM
Cần Thơ, 2011
LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên, Chúng em xin cảm ơn gia đình đã cho chúng em được tiếp bước trên con
đường Đại học.
Xin cám ơn ThS. Tăng Minh Khoa và ThS. Nguyễn Thành Tâm đã tận tình dạy
bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt quá trình thực

iv
Danh Sách bảng
Trang
Bảng 2.1: Sức sinh sản của tôm ở các kích cở và trọng lượng khác nhau (Ang, 1991)
xii
Bảng 2.2 Đặc điểm các giai đoạn biến thái của ấu trùng tôm càng xanh xiv
Bảng 4.1: Kết quả ương tôm càng xanh xxxix
4.2 Tôm sú xl
Bảng 4.2: Kết quả về Tôm sú xl
Bảng 4.3: Ngày tuổi và các giai đoạn ấu trùng xl
v
CHƯƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Nghề nuôi thủy sản đã có từ rất lâu và ngày càng phát triển trên khắp toàn thế giới.
Nguồn lợi, sản phẩm, lợi ích kinh tế do nghề nuôi thủy sản mang lại chiếm một
phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngày nay nghề nuôi thủy sản phát
triển rất mạnh do được đầu tư đúng mức và áp dụng công nghệ khoa học kĩ thuật
tiên tiến. Do nghề khai thác đánh bắt thủy sản ngày càng thu hẹp dẫn đến tỉ trọng
của nghề nuôi thủy sản chiếm tỉ lệ cao trong ngành thủy sản và đã tạo ra một lượng
sản phẩm khổng lồ phục vụ cho nhu cầu trong nước và đáp ứng cho xuất khẩu thu
ngoại tệ cho đất nước.
Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, ngành nuôi trồng thủy sản đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn về mặt kinh tế cũng như sự phát triển của công nghệ nuôi
mới, đồng thời đã góp phần quan trọng vào giá trị xuất khẩu của cả nước cũng như
đã giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân, góp phần cải thiện đáng kể
chất lượng cuộc sống của một bộ phận người dân. Đồng Bằng Sông Cửu Long là
trung tâm kinh tế thủy sản của cả nước, thủy sản đã trở thành một bộ phận kinh tế
chủ lực của vùng vì thế nó có tác động rất lớn đối với kinh tế xã hội của toàn vùng.
Không chỉ mang về ngoại tệ mà còn có vai trò rất quan trọng trong xóa đói giảm

sau:
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Lớp phụ: Malacostraca
Bộ: Decapoda
Họ: Palaemonidae
Giống: Macrobrachium
Loài: Macrobachium rosenbergii (De Man, 1879)
Hình 2.1 Hình dạng ngoài tôm càng xanh
(Nguồn: shop.woa.vn)
Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt. Có thể phân
biệt tôm càng xanh với các nhóm tôm khác ở hình dạng và màu sắc của chúng.
Tôm càng xanh có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên. Cơ thể gồm hai phần là phần
đầu ngực phía trước và phần bụng phía sau. Phần đầu ngực lớn bao gồm phần đầu
với 5 đốt liền nhau, mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực với 8 đốt liền nhau mang 8
đôi phụ bộ. Phần đầu ngực được bao dưới tấm vỏ gọi là giáp đầu ngực. Phần bụng
gồm 6 đốt có thể cử động và 1 đốt đuôi. Mỗi đốt mang một đôi phụ bộ gọi là chân
viii
bơi. Mỗi đốt bụng có tấm vỏ bao. Tấm vỏ phía trước xếp chồng lên tấm vỏ phía
sau. Tuy nhiên, tấm vỏ của đốt bụng thứ hai phủ lên cả hai tấm vỏ trước và sau nó.
Đặc điểm này để phân biệt tôm càng xanh với nhóm tôm biển (Nguyễn Thanh
Phương và csv, 2003).
Các phụ bộ có hình dạng, kích thước, chức năng và màu sắc khác nhau. Tôm lớn
đôi càng có màu xanh đậm, xuất hiện nhiều gai nhọn và lông tơ trên càng. Quá
trình thay đổi trên được thể hiện qua các giai đoạn như: tôm nhỏ, tôm càng lửa
nhạt, tôm càng lửa đậm, tôm càng lửa đậm chuyển tiếp càng xanh, tôm càng xanh
nhạt, tôm càng xanh đậm và tôm già (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
2.1.2 Phân bố
Theo Nguyễn Việt Thắng (1995), trong tự nhiên tôm càng xanh phân bố rộng ở
vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, tập trung ở khu vực Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình

khoang bụng hẹp hơn tôm cái. Đôi càng thứ hai to, dài và thô. Trong quá trình phát
triển, tôm đực thể hiện các dạng khác nhau như tôm nhỏ có càng trong suốt, sau
chuyển thành tôm càng lửa và cuối cùng tôm càng xanh đậm. Tuy nhiên, càng lớn
thì sự khác biệt càng rõ ràng hơn. Tôm càng lửa có sức sống lớn nhanh nhất, ít
hung dữ và ít tham gia sinh sản hơn tôm càng xanh. Tôm đực già có càng màu xanh
dương đậm. Các gốc chân ngực của tôm đực cũng xếp khít nhau hơn so với tôm
cái. Cạnh gốc đốt của chân ngực thứ năm có lỗ sinh dục được che phủ bởi tấm giáp.
Ở con đực còn có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ hai.
Nhánh phụ đực bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn ấu niên khi tôm đạt kích cỡ 30mm và
hoàn chỉnh khi đạt 70mm (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
Cơ quan sinh duc của con đực gồm một đôi tinh sào, một đôi ống dẫn tinh và đầu
mút. Đôi tinh sào ngoằn ngèo nằm giữa mặt lưng của giáp đầu ngực được nối với
ống dẫn tinh chạy từ trước tim sang hai bên viền sau của giáp đầu ngực và đổ vào
đầu mút nằm ở đốt gốc của chân ngực thứ năm. Túi tinh hình thành trong quá trình
phóng tinh. Túi tinh chứa khối tinh trùng không di động (Nguyễn Thanh Phương
và csv, 2003).
Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực, có phần đầu ngực nhỏ và đôi càng
thon nhỏ. Tôm có ba tấm bụng đầu tiên rộng và đài tạo thành khoang bụng rộng
làm buồng ấp trứng. Quá trình nở rộng của các tấm bụng này bắt đầu khi tôm đạt
chiều dài giáp đầu ngực khoảng 20mm và đây là đặc điểm quan trọng của tôm cái.
Lỗ sinh dục của con cái nằm ở gốc chân ngực số ba, thứ tư và thứ năm, trên bờ sau
của giáp đầu ngực và trên nhánh trong của các chân bụng có nhiều lông tơ có tác
dụng giúp hướng trứng đi xuống buồng ấp trong quá trình đẻ trứng. Ngoài ra, trên
đốt giữa của các chân bụng còn có nhiều lông tỏ mà chỉ hình thành ở thời kỳ lột xác
x
tiền giao vĩ sẽ có tác dụng cho trứng bám vào (Nguyễn Thanh Phương và csv,
2003).
Ở con cái, buồng trứng nằm trên lưng của giáp đầu ngực, giữa dạ dày và gan tụy.
Khi buồng trứng thành thục sẽ có màu vàng có thể nhìn thấy qua giáp đầu ngực,
trãi dài từ sau đến đốt đầu của phần bụng. ống dẫn trứng nối từ buồng trứng ở trước

xi
kích thích tôm đực tìm đến. Sự hiện diện của tôm đực còn bảo vệ được tôm cái mới
lột khỏi bị các tôm cái tấn công. Tuy nhiên, nếu có sự hiện diện của nhiều tôm đực,
chúng sẽ tấn công lẫn nhau và tôm đực yếu sẽ rút lui.
Quá trình giao vĩ xảy ra vào ban đêm. Toàn bộ quá trình tiếp xúc và giao vĩ xãy ra
trong vòng 20-35 phút. Sau khi giao vĩ, tôm đực nằm cạnh tôm cái khoảng 5-10
phút. Tôm đực bảo vệ tôm cái vốn còn vỏ mềm khỏi bị tôm khác tấn công. Tôm cái
dùng đôi càng để sắp xếp các lông tơ ở các chân ngực và chân bụng và chỉnh lại túi
chứa tinh trước khi đẻ. Sau khi giao vĩ 2-5 giờ, có khi 6-24 giờ, tôm cái bắt đầu đẻ
trứng. Tôm đẻ trứng thường vào ban đêm. Tôm cái di chuyển từ tầng đáy lên tầng
giữa hay tầng mặt để đẻ. Trong quá trình đẻ trứng, trứng được thụ tinh khi đi ngang
túi chứa tinh. Trứng sẽ lần lượt dính từng chùm vào các lông tơ của các đôi chân
bụng thứ tư, thứ ba, thứ hai và thứ nhất. Trong thời gian đẻ trứng khoảng 10-60
phút và thường 15-25 phút. Tôm cái dùng các chân ngực để hướng trứng xuống
phần bụng và dính vào bốn đôi chân bụng đầu tiên. Trong quá trình đẻ trứng, nếu
tôm cái bị làm sốc khi trứng chưa dính chắc vào các lông tỏ thì trứng sẽ bị rơi khỏi
buồng trứng. Những tôm cái thành thục chín mùi nhưng chưa được giao vĩ thì
chúng vẫn đẻ trứng trong vòng 24 giờ sau khi lột xác, tuy nhiên, những trứng này
sẽ không được thụ tinh và sẽ rơi ra ngoài sau 1-2 ngày (Nguyễn Thanh Phương và
csv, 2003).
Tùy vào kích cỡ và trọng lượng của tôm cũng như chất lượng và số lần tham gia
sinh sản của chúng mà sức sinh sản của tôm có thể thay đổi từ 7.000 - 503.000
trứng (Trần Thị Thanh Hiền, 2003). Thông thường khoảng 20.000 - 80.000 trứng.
Trung bình, sức sinh sản tương đối của tôm khoảng 500 - 1.000 trứng/g trọng lượng
tôm (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
Trong quá trình ấp trứng, tôm cái thường dùng chân ngực quạt nước để tạo dòng
nước, làm thoát khí cho trứng. Tôm cũng thường dùng các chân ngực để loại bỏ
những trứng hư hay vật lạ bám vào khối trứng. Tùy theo nhiệt độ ấp mà thời gian
ấp trứng có thể thay đổi từ 15-23 ngày (Nguyễn Thanh phương và csv, 2003).
Bảng 2.1: Sức sinh sản của tôm ở các kích cở và trọng lượng khác nhau (Ang, 1991)

20,0 14,3 105,35 355.112
2.1.5.3 Phát triển của phôi
Theo Nguyễn Thanh Phương và csv (2003), thì trứng tôm càng xanh mới đẻ ra có
hình elip, có kích cở khoảng 0,6 - 0,7mm; trứng được thụ tinh sau khi qua túi chứa
tinh trong quá trình đẻ trứng; trứng thụ tinh bắt đầu phân cắt nhân đầu tiên sau 4
giờ; lần phân chia tiếp theo khoảng 1 - 3 giờ; thời gian giữa các lần phân chia sau
đó sẽ ngắn dần trong quá trình phát triển của phôi; sự phân chia nhân hoàn thành
sau 24 giờ; trong quá trình giảm phân xảy ra khi nhân phân cắt lần thứ ba; ở các
giai đoạn phân cắt đầu tiên, nhân nằm sâu trong trứng.Theo sự phát triển của phôi,
trứng dần dần chuyển từ màu vàng sang màu vàng cam, sau đó có màu xám và khi
sắp nở trứng có màu xám đen. Sự thay đổi màu sắc này tương ứng với quá trình
tiêu hết noãn hoàng (màu vàng) và hình thành phôi với mắt to màu đen. Sau 17 - 23
ngày, trứng sẽ nở và nở hoàn thành sau 4 - 6 giờ. Khi nở, tôm mẹ cử động chân
bụng liên tục để thải ấu trùng ra ngoài.
2.1.5.4 Phát triển của ấu trùng
Ấu trùng mới nở ra sống phù du, có tính hướng quang mạnh và cần nước lợ (6
-16‰) để sống và phát triển; ấu trùng sẽ chết sau 3 - 4 ngày nếu không sống được
trong nước lợ (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003). Ấu trùng bơi lội chủ động,
bụng ngửa và đuôi ở phía trước, chúng bơi lội gần sát mặt nước thành từng đám.
Ấu trùng ăn liên tục. Thức ăn bao gồm các loài động vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng
xiii
của các loài động vật thủy sinh. Ấu trùng trãi qua 11 lần lột xác và biến thái để hình
thành hậu ấu trùng.
Bảng 2.2 Đặc điểm các giai đoạn biến thái của ấu trùng tôm càng xanh
Giai đoạn Ngày
tuổi
(ngày)
Chiều dài ấu
trùng (mm) Đặc điểm
I 1 1,92 Mắt chưa có cuống

C) (Sandifer và
Smith, 1985) (dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
Trọng lượng (g) Số ngày giữa các lần lột xác
xiv
2-5 9
6-10 13,5
11-15 17
16-20 18,5
21-25 20
26-35 22
35-60 22-42
Quá trình lột xác của tôm được chia thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn tiền lột xác: chất canxi của vỏ củ bị hấp thu làm cho vỏ mềm đi. Vỏ mới
bắt đầu hình thành dưới lớp vỏ cũ. Giai đoạn này mất vài giờ đến 3-5 ngày tùy giai
đoạn của tôm.
Giai đoạn hậu lột xác: Vỏ cũ nứt ra trên mặt lưng nơi tiếp giáp giữa đầu ngực và
phần bụng. Phần đầu ngực và các phụ bộ đầu ngực và tiếp theo là toàn bộ cơ thể rút
ra khỏi vỏ cũ. Quá trình lột vỏ mất khoảng 10 phút. Thời gian này cơ thể hấp thu
nhiều nước qua mang làm tăng nhanh kích cỡ.
Giai đoạn hậu lột xác: Là quá trình làm cứng vỏ mới thông qua sự canxi hóa. Ngay
sau khi lột vỏ, vỏ còn mềm. Gai chủy chưa cứng, tôm không thể cử động đôi càng
nếu đưa ra khỏi nước. Giai đoạn sau, vỏ và giai chủy cứng dần. Tuy nhiên, sắc tố
trên viền của giai chủy và tấm bụng chưa hình thành. Giai đoạn này mất vài giờ đến
3-5 ngày tùy theo kích cỡ của tôm.
Giai đoạn giữa chu kỳ lột xác: Giai đoạn này kéo dài. Nước trong cơ thể được dần
dần thay thế bởi sự phát triển của cơ. Các chất khoáng và chất vô cơ khác cũng dần
dần được tích lũy. Vỏ cứng, sắc tố hình thành trên viền bên của các đốt bụng. Thời
gian của giai đoạn này thay đổi lớn tùy theo giai đoạn của tôm.
Không giống như các loài cá, sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng của tôm
cũng như các loài giáp xác khác không tăng liên tục mà theo hình bậc thang. Sự

Ưu điểm: đơn giản khi vận hành, tiết kiệm được nước và lao động
Khuyết điểm: quy trình đòi hỏi kỹ thuật cao, đầu tư lớn, thiết bị phải đồng bộ, phức
tạp khi lắp đặt, khi xảy ra sư cố khó sử lý như bệnh xuất hiện một bể trong hệ thống
lọc sinh học sẽ dễ lây sang các bể khác trong cùng một hệ thống lọc do đó phải
kiểm soát dịch trong toàn hệ thống lọc và chấp nhận rủi ro cho cả hệ thống.
2.1.7.3 Quy trình nước xanh (Green water system)
Qui trình này được bắt đầu từ năm 1966 do Fujimura (dẫn bởi Nguyễn Thanh
Phương và csv, 2003) khởi xướng và đã hoàn thiện năm 1974. Qui trình này đã
được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Nguyên tắc của quy trình này là dùng tảo
để ổn định môi trường nước ương. Đặc điểm chính của quy trình này là phải
thường xuyên bổ xung tảo Chlorella thuần vào bể ương để duy trì màu nước xanh
trong bể.
xvi
Ưu điểm: hạn chế thay nước so với mô hình nước trong hở, môi trường nước ổn
định nhờ có tảo.
Khuyết điểm: mật độ ương thấp hơn nước trong, kỹ thuật gây nuôi tảo thuần khá
tốn kém. Tảo thuần cho vào bể ương thường không bền và phải bổ sung liên tục.
2.1.8 Tình hình sản xuất giống và nuôi tôm càng xanh
2.1.8.1 Trên thế giới
a. Tình hình nuôi
Nuôi tôm càng xanh, Macrobrachium rosenbergii (de Man 1879), đã được nhiều
tác giả nghiên cứu (New and Singholka 1985, New and Valenti 2000, New 2002)
và phát triển nhanh từ năm 1995 với sản lượng tôm nuôi cao nhất thuộc về Trung
Quốc (New 2005). Sản lượng tôm càng xanh nuôi ở Trung Quốc hơn 1.000 tấn vào
năm 1993 và khoảng 90.000 tấn vào năm 2002 (Weimin and Xianping, 2002). Các
loài tôm nước ngọt đều được nuôi trong ao đất. Vì thế, hầu hết các nghiên cứu về
nuôi tôm càng xanh trên thế giới đều được thực hiện trong ao. Theo New (2005) thì
những nghiên cứu nuôi tôm trong hệ thống kết hợp với những hoạt động nông
nghiệp khác cùng chia sẻ nguồn tài nguyên là cần thiết .
Tôm càng xanh là đối tượng nuôi quan trọng của nhiều nước trên thế giới với nhiều

số tôm nuôi trong môi trường nước ngọt và nuôi trong môi trường nước lợ (có hàm
lượng muối là 2).
Theo qui trình nước xanh cải tiến do Ang (1986) đề nghị. Nước ương ấu trung có
độ mặn 12‰ có bổ sung nước xanh là một hỗn hợp phù du thực vật (tảo Chlorella
sp chiếm ưu thế) được gây nuôi từ bể nuôi cá rô phi. Trong suốt chu kỳ ương ấu
trùng không thay nước nhưng có bổ sung tảo để duy trì mật độ tào trong bể ương.
Lerge et al. (1986), cho rằng mặc dù trong suốt chu kỳ sống, tôm càng xanh sống
chủ yếu trong nước ngọt, nhưng giai đoạn ấu trùng tôm sống ở vùng nước lợ nên
nhu cầu về HUFA cao. Dầu mực có hàm lượng HUFA, đặc biệt là hai axit béo
20:5n-3 (axit eicosapentanoic) và 22:6n-3 (axit decosahecxaenoic) cao, vì thế việc
bổ sung dầu mực góp phần làm tăng chất lượng thức ăn cho ấu trùng. Một vài
nghiên cứu trước đây trên tôm càng xanh cũng cho thấy khi sử dụng thức ăn
Artemia được giàu hoá với HUFA cho kết quả rất tốt. Devresse (1990) cho biết
sinh trưởng và tỷ lệ sống cũng như chất lượng ấu trùng tôm càng xanh cao khi sử
dụng ấu trùng Artemia được giàu hoá với HUFA. Sandifer và Joseph (1976) đã thử
nghiệm bổ sung lipit chiết xuất từ đầu tôm để ương PL tôm càng xanh lên giống
cho kết quả rất tốt. Tác giả cho biết do trong dầu đầu tôm có hàm lượng HUFA cao,
đặc biệt là hai axit béo nói trên. Ngoài ra, thức ăn bổ sung dầu mực có mùi tanh nên
kích thích ấu trùng tôm bắt mồi và làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm.
Teshima (1986), cho biết hầu như tất cả các loài giáp xác đều cần lecithin trong
suốt quá trình phát triển, đặc biệt là giai đoạn ấu trùng. Lecithin có vai trò quan
xviii
trọng trong sự vận chuyển và hấp thu lipit của sinh vật. Thức ăn thiếu lecithin sẽ
dẫn tới hiện tượng lột vỏ không hoàn toàn của ấu trùng tôm hùm (Kazanawa,
1985), tôm he Nhật Bản (Teshima, 1986). Cho tới nay chưa thấy các nghiên cứu về
ảnh hưởng của lecithin lên ấu trùng tôm càng xanh, do đó kết quả thí nghiệm này
đã cho thấy việc bổ sung lecithin vào thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh là cần
thiết.
2.1.8.2 Ở Việt Nam
a. Tình hình nuôi

Cùng với việc tăng diện tích nuôi trồng thủy sản, sản lượng nuôi trồng cũng gia
tăng. Khi xét riêng từng đối tượng thì sản lượng tôm càng xanh nuôi tỉnh Vĩnh
Long có xu hướng giảm, năm 2002 đạt 250 tấn đến 2003 chỉ còn khoảng 150 tấn.
Nguyên nhân giảm sản lượng, có thể một phần do trước đây đa số người dân trong
tỉnh Vĩnh Long nuôi tôm bằng nguồn giống tự nhiên nhưng khi nguồn giống này
giảm thì họ phải chuyển sang nuôi tôm bằng nguồn giống nhân tạo mà kinh nghiệm
của người dân nuôi bằng giống nhân tạo còn hạn chế. Sau một thời gian có kinh
nghiệm nuôi tôm bằng giống nhân tạo kết hợp các điểm trình diễn của tỉnh được
thực hiện tại địa phương, thì sản lượng nuôi tôm bắt đầu tăng trở lại, cụ thể là năm
2004 đạt sản lượng 186 tấn.
Chi cục Thủy Sản tỉnh Đồng Tháp tính đến đầu năm 2010 toàn tỉnh có 1.230 ha
nuôi tôm càng xanh đang trong thời kỳ thu hoạch rộ, với sản lượng ước đạt 1.907
tấn. Tam Nông là huyện đứng đầu về diện tích nuôi tôm trên ruộng lúa với 634 ha,
kế đến là huyện Lấp Vò 195 ha, huyện Cao Lãnh 109 ha. Nhờ nuôi có hiệu quả,
nên ở huyện Tam Nông khởi đầu chỉ có 1 hộ nuôi 2 ha, tăng từng năm lên 28 ha,
143 ha, 318 ha, 602 ha và đến năm 2010 la 133 hộ nuôi với 634 ha.
Theo thống kê 6 tháng đầu năm 2009 của Bộ Thủy Sản, sản lượng tôm càng xanh
nước ta đạt khoảng 103,7 nghìn tấn. Diện tích nuôi tôm càng xanh tại các tỉnh
ĐBSCL đã tăng nhanh trong những năm gần đây và hiện đạt gần 5.000 ha, tăng gấp
10 lần so với năm 1997. Diện tích nuôi tôm càng xanh tập trung lớn nhất tại các
tỉnh hai bên bờ sông Tiền và sông Hậu như: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến
tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với các mô hình như: nuôi trong mươn vườn, nuôi trên
ruộng lúa, nuôi đăng quầng. Năng suất nuôi tôm đạt trung bình 184 kg\ha\vụ đối
với nuôi kết hợp với lúa, 686 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm luân canh kết hợp với trồng
lúa, 4.120 kg/ha/vụ với nuôi tôm đăng quầng và 1.200 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm
trong ao (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
b. Tình hình sản xuất giống
Ở Việt Nam tôm càng xanh cũng được nghiên cứu từ năm 1974, sau năm 1980 tiếp
tục nghiên cứu ở Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II. Đến năm 1982, Trung tâm
Nghiên cứu Sản xuất giống Tôm Vũng Tàu đã cho tôm càng xanh sinh sản nhân tạo

Ngoài ra khả năng chịu đựng của ấu trùng cũng được cải thiện. Tôm được cho
ăn thức ăn chứa 2000 mg vitamin C/kg thức ăn cho tỷ lệ sống và số lượng
postlarvae cao nhất (78,9%) và 39,4 PL/L).
Hiện nay, tôm càng xanh là một trong những đối tượng quan trọng đối với nghề
nuôi trồng thủy sản nhất là vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Ở Việt nam, năm 2002
cả nước có 54 cơ sở sản xuất nhân tạo và sản xuất được 115 triệu tôm càng xanh
xxi
giống thì đến năm 2003 ĐBSCL đã có 70 trại sản xuất khoảng 92 triệu tôm giống.
Chỉ tiêu của Bộ thủy sản đến năm 2010 cả nước sản xuất được 3,5 tỷ con tôm càng
xanh giống.
2.2 SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM SÚ
2.2.1 Vị trí phân loại
Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009) thì tôm sú được định loại
như sau:
Ngành: Arthropoda
Ngành Phụ: Crustacea
Lớp: Malacostraca
Bộ: Decapoda
Họ chung: Penaeidea
Họ: Penaeus Fabricius
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon Fabricus 1798
2.2.2 Đặc điểm hình thái
Hình 2.2: Hình dạng bên ngoài tôm sú
Tôm sú là loài tôm có kích thước lớn nhất trong họ tôm he, cơ thể có thể dài đến
360mm. Phần đầu ngực và phần chân bụng có những băng đen ngang. Chân ngực
có thể có màu đỏ hoặc màu xanh nhạt, có gờ gan dài và cong, gai đuôi có rãnh
nhưng không có gai bên. Có 7 - 8 răng trên chủy và 3 - 4 răng dưới chủy, chủy
cong xuống rất ít (Trần Ngọc Hải và csv, 2009).
2.2.3 Phân bố

về phía sau.
- Postlarvae (PL): Hậu ấu trùng có hình dạng tương tự tôm trưởng thành, PL1 có
chiều dài khoãng 4,5 mm. Các chân bụng có nhiều lông tơ. Postlarvae giai đoạn
đầu một số còn tập tính bơi theo cột nước dần dần bắt đầu chuyển sang sống đáy, từ
PL6 trở đi tôm chủ yếu sống đáy.
- Tôm hậu ấu trùng sau 5 – 6 tuần trở thành tôm giống. Tôm giống được nuôi 6 -8
tháng đạt tiêu chuẩn tôm trưởng thành và có khả năng tham gia sinh sản (Nguyễn
Thanh Phương và csv, 1999).
xxiii
Hình 2.3: Vòng đời của tôm sú theo Motor (1985)
2.2.5 Tập tính ăn
Tôm sú là loài ăn tạp, mỗi giai đoạn phát triển sử dụng các loại thức ăn khác nhau.
Ở giai đoạn ấu trùng do có tập tính sống trôi nổi, bắt mồi thụ động bằng các đôi phụ
bộ nên thức ăn phải tương ứng với kích cỡ miệng của chúng.
- Giai đoạn Nauplii: dinh dưỡng bằng noãn hoàng.
- Giai đoạn Zoae: ăn lọc, kích cỡ hạt thức ăn nhỏ hơn 50µm, dinh dưỡng chủ yếu
bằng. Dinh dưởng chủ yếu bằng tảo khuê (Sketonema, Chaetoceros sp…). Trong
sản xuất giống nhân tạo nếu thiếu có thể bổ sung thức ăn công nghiệp như: Lansy,
Frippack 1, AP0, AP1 (Thạch Thanh và csv, 2003).
- Giai đoạn Mysis: Bắt mồi chủ động, kích cỡ hạt thức ăn từ 50 – 90 µm, ăn chủ
yếu phiêu sinh động vật, ấu trùng Artemia, luân trùng (Branchionus policatilis),
Trong sản xuất giống nhân tạo sử dụng thức ăn bổ sung như: Lansy, Frippack 2,
AP0, AP1 (Thạch Thanh và csv, 2003).
- Giai đoạn tôm bột: trong tự nhiên sử dụng các loại thức ăn như giáp xác nhỏ, các
loài nhuyễn thể và giun nhiều tơ. Khi ương từ tôm bột lên tôm giống có thể phối
hợp nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau như: ốc mượn hồn, mực, nghêu, sò huyết,

- Giai đoạn tôm trưởng thành: tôm sử dụng các loại thức ăn như giáp xác sống đáy
(Benthis crustaccan), hai mảnh vỏ (Bivalvia), giun nhiều tơ và các loại ấu trùng của
xxiv

niên 90 [Rosemberry, 1998].
xxv


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status