kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của hàn quốc và bài học kinh nghiệm với việt nam - Pdf 13


TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪACỦA HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC RÚT RA
CHO VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
Lớp : ANH 10
Khoá : K43C - KT&KDQT
Giáo viên hướng dẫn : PGS,TS. NGUYỄN VĂN HỒNG


3.1.3 SMEs đặc biệt thích nghi với việc phát huy mọi tiềm năng của địa
phương và cơ sở 16
3.1.4 SMEs có lợi thế về sử dụng lao động 16
3.2. Về những hạn chế của SMEs 16
3.2.1 Thiếu nguồn lực để thực hiện những ý tưởng kinh doanh lớn 16
3.2.2 SMEs không có được các lợi thế của kinh tế quy mô (economy of
scale) 17
3.2.3 Hạn chế về trình độ quản lý và tay nghề của người lao động 17

3.2.4 Các SMEs do rất dễ khởi nghiệp nên cũng phải chịu nhiều rủi ro trong
kinh doanh 17
II.VAI TRÒ CỦA SMEs TRONG NỀN KINH TẾ 18
1. SMEs đóng góp không nhỏ vào tăng trƣởng và phát triển kinh tế 18
2. SMEs giúp nền kinh tế phát triển năng động, linh hoạt và hiệu quả hơn 19
3. SMEs góp phần quan trọng vào việc mở mang và phát triển xuất khẩu 20
4. Đóng góp không nhỏ vào việc tạo lập sự phát triển cân đối và hoàn thiện
cơ cấu kinh tế 21
5. Tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao thu nhập cho ngƣời
dân 22
6. Thúc đẩy phát triển công nghệ đồng thời góp phần đào tạo, phát triển
tài năng kinh doanh 22
7. SMEs là bộ phận cần thiết trong quá trình liên kết và hỗ trợ sản xuất
cho các doanh nghiệp và các tập đoàn lớn 23
III. CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI CÁC SMEs 23
1. Tạo khung khổ pháp lý khuyến khích SMEs 24
2. Đƣa ra các nhóm chính sách và biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy SMEs 25
3. Thành lập các cơ quan chuyên trách về quản lý Nhà nƣớc đối với SMEs 26
4. Khuyến khích thành lập các tổ chức hỗ trợ và các hiệp hội của SMEs 27
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA HÀN

1. Những thành quả đạt đƣợc trong quá trình phát triển SMEs ở Hàn
Quốc 62
2. Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình phát triển SMEs ở Hàn Quốc65
CHƢƠNG III: BÀI HỌC RÚT RA TỪ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 67
I. NHỮNG NÉT TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA HÀN QUỐC VÀ
VIỆT NAM 67
1. Về điều kiện tự nhiên, dân số 67
1.1 Điều kiện tự nhiên 67
1.2 Dân số 68
2. Về chính trị, văn hóa, xã hội 68
2.1 Chính trị 68
2.2 Văn hóa 69
2.3 Xã hội 70
3. Về kinh tế 71
II. THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM 72
1. Sơ lƣợc về tình hình phát triển của các SMEs Việt Nam 72
2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các SMEs Việt Nam 74

2.1 Năng lực quản lý và trình độ của đội ngũ lao động trong các SMEs
Việt Nam 74
2.2 Cơ sở vật chất và trình độ công nghệ sản xuất của các SMEs 76
2.3 Hiệu quả kinh doanh của các SMEs 78
2.4 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm do các SMEs sản xuất 79
III. Bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc và một vài đề xuất nhằm phát triển
hơn nữa các SMEs ở Việt Nam 80
1. Khuyến khích gia tăng số lƣợng SMEs 81
1.1 Khơi dậy tinh thần kinh doanh của người Việt, đặc biệt là của giới trẻ
Việt Nam. 81
1.2 Đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh 82

trong ngành sản suất 39
Bảng 2.10 Một vài chỉ số tài chính của SMEs trong giai đoạn 2002-2006 44
Bảng 3.6 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của SMEs năm 2006 79
PHỤ LỤC
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn xác định SMEs ở Đài Loan qua các thời kỳ 103
Bảng 2.4 Số lượng SMEs phân loại theo ngành nghề 104
Bảng 2.6. Số lượng và tỷ trọng lao động trong các SMEs 105
Bảng 2.7. Số lượng và tỷ lệ lao động làm việc tại 105
các loại hình doanh nghiệp 105
Bảng 2.9. Giá trị gia tăng của các SMEs trong ngành sản xuất 106
Bảng 2.11. Lãi suất cho vay đối với các SMEs trong các năm 1999-2005 106
Bảng 2.12. Phí bảo lãnh của KCGF đối với các SMEs 106
Bảng 3.1. Số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh 107
trong các năm từ 2000-2007 107
Bảng 3.2. Chỉ số xếp hạng về trình độ công nghệ của VN 107
Bảng 3.3. Tỷ trọng các SMEs thực hiện nghiên cứu và phát triển (R&D) 108
Bảng 3.4 Chi phí R&D phân theo ngành và theo loại hình doanh nghiệp (%
của tổng doanh thu thuần) 109
Bảng 3.5 Chi phí thực hiện đổi mới công nghệ phân theo ngành và theo loại hình
doanh nghiệp (% của tổng doanh thu thuần) 109

Hình 1.1 Tỷ lệ khởi nghiệp và phá sản của các SMEs Nhật 18
Hình 1.2 Số lượng SMEs trong nền kinh tế Đài Loan 2003-2006 20
Hình 2.1 Số lượng SMEs trong giai đoạn 2001-2006 34
Hình 2.2 Kim ngạch xuất khẩu của SMEs Hàn Quốc 2003-2006 41
Hình 3.1 Độ tuổi của chủ doanh nghiệp (tính theo %) 75

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐKKD Đăng ký kinh doanh

những chủ trương, chính sách đúng đắn đó, SMEs Việt Nam đã được hoạt động
trong một môi trường khá thuận lợi và bước đầu đạt được những thành quả nhất
định. Tuy nhiên kết quả đó vẫn chưa tương xứng với vị trí và vai trò của SMEs.
Phần lớn các SMEs còn non trẻ, năng lực còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, trong thời kỳ
hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như ngày nay, bên cạnh những cơ hội mới mà tự
do hóa thương mại đem lại, SMEs Việt Nam còn đang gặp không ít những trở ngại
và khó khăn. Tất cả những nhân tố này đòi hỏi chúng ta, cả phía doanh nghiệp và
Nhà nước cần cùng nhau nỗ lực hơn nữa để không ngừng gia tăng số lượng và nâng
cao năng lực cạnh tranh cho các SMEs.
Là một nước công nghiệp mới, Hàn Quốc tuy không phải là một nền kinh tế lấy
SMEs làm lực lượng “đầu tàu” mà chủ yếu phát triển dựa trên nền công nghiệp đại quy
mô với những tập đoàn kinh tế lớn (chaebols) nhưng không phải vì thế mà khu vực
SMEs ở quốc gia này kém phát triển. Ngược lại, có thể nói quá trình hình thành và phát
triển của SMEs Hàn Quốc đã và đang diễn ra rất thành công. SMEs đang ngày càng
khẳng định được tầm quan trọng của mình trong nền kinh tế của Đại hàn dân quốc.
Có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam cả về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn
hóa và xã hội, quá trình hình thành và phát triển SMEs của Hàn Quốc chắc chắn đem
lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với công cuộc phát triển SMEs ở Việt Nam.

2
Xuất phát từ ý nghĩa đó, người viết chọn đề tài “Kinh nghiệm phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa của Hàn Quốc và bài học rút ra cho Việt Nam” làm đề tài Khóa
luận tốt nghiệp của mình với hi vọng cùng các công trình nghiên cứu chung góp phần
xây dựng các giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của SMEs trong nước.
2. Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận
Trên cơ sở tìm hiểu những cơ sở lý luận về SMEs và về thực trạng phát triển
SMEs của Hàn Quốc, rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam và từ đó đề xuất
một vài giải pháp nhằm phát triển hơn nữa khu vực SMEs của đất nước.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận:
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tình hình phát triển SMEs của Hàn

thầy cô giáo và sự góp ý từ phía bạn đọc.

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Quỳnh Trang
A10- K43C- Khoa KT&KDQT

4
CHƢƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

I. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (SMEs)
1. Khái niệm SMEs
Nhiều năm trở lại đây, các cụm từ như “SMEs”, “doanh nghiệp vừa và nhỏ”
hay “doanh nghiệp nhỏ và vừa” đều đã trở nên khá phổ biến và quen thuộc. Đây
chính là những thuật ngữ dùng để chỉ một loại hình doanh nghiệp nhỏ về quy mô
nhưng lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong các nền kinh tế.

(hay tổng giá trị tài sản) là quan trọng hơn cả. Số lao động có thể là số lao động trung
bình hàng năm trong danh sách hoặc số lao động thực tế của doanh nghiệp. Vốn (hoặc tài
sản) có thể chỉ bao gồm số vốn (giá trị tài sản) cố định hoặc cũng có thể bao gồm tổng
vốn (tổng giá trị tài sản) thực tế mà doanh nghiệp đưa vào kinh doanh. Các nước sẽ đưa
ra những giới hạn nhất định cho những tiêu chí này. Rồi theo đó, các doanh nghiệp có
quy mô nằm trong hạn mức đưa ra sẽ được xếp vào khu vực các SMEs.
Như ở Thái Lan, người ta chỉ sử dụng tiêu chí về vốn để phân loại doanh
nghiệp. Những doanh nghiệp sản xuất có số vốn nhỏ hơn 200 triệu Baht sẽ được coi
là SMEs. Trong khi đó, một số quốc gia như EU và Nhật Bản lại kết hợp cả hai tiêu
chí: số lao động và số vốn (Nhật Bản) hay số lao động và doanh thu (EU) để phân
loại. Kết quả là, chỉ những doanh nghiệp thoả mãn đồng thời hai tiêu chí trên mới
được xem là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ngoài những tiêu chí mang tính định lượng kể trên, một vài quốc gia còn sử
dụng nhóm tiêu chí mang tính định tính, được xác định dựa trên các đặc trưng cơ
bản của SMEs như trình độ chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ
phức tạp của quản lý chưa cao Lấy ví dụ như ở Mỹ, bên cạnh tiêu chí về số lao
động sử dụng thường xuyên, người ta còn quan tâm đến mức độ độc lập trong kinh
doanh của doanh nghiệp đối với các hãng và tập đoàn lớn. Chỉ những doanh nghiệp
độc lập có quy mô nhỏ và vừa mới là SMEs còn những doanh nghiệp có quy mô
nhỏ và vừa nhưng là thành viên của các công ty lớn thì cũng không được xếp vào
khu vực SMEs và như vậy sẽ không được hưởng những chính sách hỗ trợ mà Nhà
nước dành riêng cho loại hình doanh nghiệp này.
Nhóm tiêu chí định tính có ưu điểm là phản ánh đúng bản chất của vấn đề

6
nhưng thường khó xác định trên thực tế. Vì vậy chúng thường chỉ được sử dụng làm
cơ sở để tham khảo, kiểm chứng còn ít được sử dụng để phân loại trên thực tế.
2.2 Những yếu tố tác động đến việc xác định tiêu chuẩn của SMEs
Tiêu chuẩn xác định SMEs là không cố định và chẳng những khác nhau giữa
các nước mà còn thay đổi ngay trong một quốc gia, phụ thuộc vào nhiều yếu tố.


Như vậy có thể khái quát lại:
- Trong từng nước, từng ngành nghề, từng thời kỳ, tiêu chuẩn về SMEs là rõ
ràng và có tính định lượng.
- Giữa các nước, các ngành nghề và các thời kỳ khác nhau, tiêu chuẩn về
SMEs là tương đối, nghĩa là có một số nét chung nhất định, song bên cạnh đó vẫn
có những nét riêng, khác nhau và có thể thay đổi.
Cũng cần nói thêm rằng, ở hầu hết các nước, người ta hay nói gộp chung
doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp vừa thành doanh nghiệp nhỏ và vừa, vì các
nước thường có những chính sách chung áp dụng cho cả hai loại doanh nghiệp này.
2.3. Tiêu chuẩn xác định SMEs của Hàn Quốc và Việt Nam
2.3.1 Tiêu chuẩn xác định SMEs của Hàn Quốc
Bộ luật cơ bản về SMEs của Hàn Quốc (1966) đưa ra khái niệm chung về
SMEs như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) là một doanh nghiệp sử dụng dưới 300
nhân công hoặc có tổng vốn góp không quá 8 tỉ Won.
Trên cơ sở đó, người ta đưa ra những tiêu chuẩn riêng cho từng ngành, nghề,
lĩnh vực cụ thể. Ví dụ:
- Trong ngành sản xuất công nghiệp, SMEs là những doanh nghiệp có số lao
động dưới 300 người hoặc tổng vốn không quá 8 tỉ Won.
- Trong ngành khai thác, xây dựng và vận tải: con số này là dưới 300 lao động
hoặc tổng vốn không quá 3 tỉ Won.
- Trong ngành ngư nghiệp, y tế và sản xuất phim, SMEs có số nhân công ít
hơn 200 người hoặc doanh thu hàng năm đạt không quá 20 tỉ Won.
- Trong ngành nông, lâm nghiệp: doanh nghiệp có số nhân công dưới 50 người
hoặc doanh thu đạt được dưới 5 tỉ Won sẽ được coi là SMEs.
- Trong ngành dịch vụ các con số tương ứng là:
+ dưới 300 nhân công hoặc có doanh thu dưới 25 tỉ Won đối với ngành viễn

8

Khai thác, xây dựng và vận tải
< 300
=< 3 tỷ
< 50
< 10
Ngư nghiệp, dịch vụ y tế,
cung cấp giống cây trồng,
cung cấp ga, điện, nước
< 200
=< 20 tỷ *
< 10
< 10
Nông, lâm nghiệp
< 50
=< 5 tỷ *
-
-
Ngành dịch vụ:
+ Bán lẻ, viễn thông, xử lý
thông tin, truyền hình, kinh
doanh chung cư, khách sạn

< 300 =< 30 tỷ * < 10

<10 < 5

Các ngành khác
Doanh thu không vượt quá 5 tỷ Won
< 10
< 5

Nguồn: Bộ Kinh tế và tài chính Hàn Quốc; Cơ quan quản lý SMEs Hàn Quốc (SMBA);
Ngân hàng công nghiệp Hàn Quốc (IBK)

9
* Quy định về điều kiện loại trừ:
Bên cạnh việc đưa ra khái niệm SMEs dựa trên các tiêu chí về số lao động,
tổng vốn hay tổng giá trị tài sản, Hàn Quốc còn quy định một cách cụ thể các điều
kiện loại trừ. Theo đó, mặc dù doanh nghiệp có quy mô thỏa mãn một trong các tiêu
chí đưa ra nhưng nếu rơi vào một trong các trường hợp dưới đây thì cũng không
được xem là SMEs:
- Doanh nghiệp có số lao động thường xuyên vượt quá 1000 người.
- Doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản lớn hơn 500 tỷ Won. (Ví dụ như nhiều
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp điện tử không cần nhiều lao động
nhưng lại có tổng giá trị tài sản rất lớn nên không thể xếp vào khu vực các SMEs)
- Doanh nghiệp có trên 30% cổ phần được sở hữu bởi một doanh nghiệp lớn
(doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản lớn hơn 500 tỷ Won). Quy định này nhằm xác
định mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các hãng và các tập đoàn lớn.
1

- Liên Bộ Tài chính và Lao động thương binh xã hội lại quy định SME là
doanh nghiệp có vốn pháp định dưới 1 tỷ đồng, doanh thu hàng năm không quá 10
tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 100 người.
- Tổ chức UNIDO tại Việt Nam quy định cụ thể: doanh nghiệp nhỏ là doanh
nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng vốn và doanh thu dưới 1 tỷ đồng. Doanh nghiệp
vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 51 đến 200 người, tổng vốn và doanh thu
nằm trong hạn mức từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng.
- Còn theo quỹ phát triển Nông thôn (Ngân hàng Nhà nước), SMEs là những
doanh nghiệp có số lao động không quá 500 người và có số vốn dưới 2 tỷ đồng.
- Quỹ phát triển SMEs (chương trình do SMEDF-VN-EU phối hợp thực hiện)
quy định những doanh nghiệp có từ 10 đến 500 lao động và vốn pháp định từ
50.000 USD đến 300.000 USD sẽ được tài trợ bởi chương trình này.
Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã có Công văn số 681/CP-KCN về việc định
hướng chiến lược và chính sách phát triển SMEs, trong đó nêu rõ: "Tạm thời quy
định thống nhất tiêu chí xác định SMEs ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là
những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình
hàng năm không quá 200 người".
Công văn cũng chỉ rõ doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới
50 người (đối với các doanh nghiệp công nghiệp), dưới 30 người (đối với các doanh
nghiệp thương mại- dịch vụ) và có tổng vốn không lớn hơn 1 tỷ đồng, còn các
doanh nghiệp vừa sẽ bao gồm các doanh nghiệp có số lao động từ 31 đến 200 người
và có số vốn từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng.
Ngày 23/11/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ
giúp phát triển SMEs, đây là khung khổ pháp lý đầu tiên về khuyến khích phát triển

11
SMEs ở nước ta. Theo đó, " Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất kinh
doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký
không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người."
Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí trên là linh hoạt, tuỳ

2.4.2 Khu vực ASEAN
Tại các nước ASEAN như Singapore, Malaixia, Indonexia, Thái Lan,
Philipin, khái niệm về SMEs nhìn chung được xác định dựa vào 3 tiêu chí cơ bản là
số lượng lao động sử dụng, tổng vốn đầu tư hoặc tổng doanh thu hàng năm.
- Singapore quan niệm SMEs là những doanh nghiệp có số lượng lao động
dưới 100 người và vốn đầu tư dưới 1,2 triệu USD.
- Với Malaixia, định nghĩa SMEs được đưa ra dựa trên hai tiêu chí về tổng
doanh thu và số lao động chính thức (làm toàn thời gian) (Bảng 1.3)
Bảng 1.3 Định nghĩa SMEs theo tổng doanh thu và số lao động
Lĩnh vực
Loại hình
Sản xuất và các dịch vụ liên
quan đến sản xuất
Dịch vụ
Doanh nghiệp cực
nhỏ
-Tổng doanh thu dưới 250.000
RM hoặc
- Số lao động dưới 5 người
- Tổng doanh thu dưới 200.000
RM hoặc
- Số lao động dưới 5 người
Doanh nghiệp nhỏ
- Tổng doanh thu từ 250.000
đến 10 triệu RM hoặc
- Số lao động từ 5 đến 50 người
- Tổng doanh thu từ 200.000
đến 1 triệu RM hoặc
- Số lao động từ 5 đến 19 người
Doanh nghiệp vừa

Số lao động thường xuyên
(người)
Tổng giá trị tài sản cố định
(triệu Bath)
Doanh nghiệp
nhỏ
Doanh nghiệp
vừa
Doanh nghiệp
nhỏ
Doanh nghiệp
vừa
Sản xuất
=< 50
51- 200
=< 50
> 50-200
Dịch vụ
=< 50
51- 200
=< 50
> 50-200
Thương mại
- Bán buôn
- Bán lẻ

=< 25
=<15

26- 50

Cục quản lý kinh doanh nhỏ (SBA) Mỹ có cách xác định SME cụ thể hơn. SBA
định nghĩa kinh doanh nhỏ là một “kinh doanh có ít hơn 500 lao động”. Đây là
định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất và có thể coi là tiêu chuẩn về SME “bán
chính thức” của chính phủ Mỹ.
2.4.4 Australia
Khái niệm SMEs được đưa ra bởi Cục thống kê Australia. Theo đó, doanh
nghiệp nhỏ được định nghĩa là các doanh nghiệp có từ 1 đến 19 lao động. Doanh
nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 20 đến 199 người và doanh nghiệp
lớn là doanh nghiệp có nhiều hơn 200 lao động.
Một định nghĩa khác về SMEs liên quan đến tổng doanh thu và tổng tài sản.
Đó là: SMEs được định nghĩa là các doanh nghiệp có tổng doanh nhu hàng năm
không vượt quá 50 hoặc 100 triệu USD hoặc có tổng giá trị tài sản là dưới 200
triệu đô la Mỹ. Định nghĩa này được một số cơ quan trực thuộc Chính phủ sử
dụng với mục đích làm cơ sở đưa ra và thực hiện các chính sách liên quan đến
SMEs. Ví dụ như chương trình “Sẵn sàng cho thương mại” của Australia đã sử
dụng tiêu thức 50 triệu USD tổng doanh thu làm tiêu chí xác định một doanh
nghiệp là nhỏ và vừa.

15
3. Đặc điểm của SMEs
Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, trong suốt quá trình hình thành
và phát triển của mình, SMEs cũng có những đặc điểm riêng với những ưu thế và
hạn chế nhất định.
3.1 Về những ưu thế của SMEs
3.1.1. SMEs khởi sự dễ dàng
Nhìn chung, ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh, chỉ cần một lượng vốn nhỏ,
số lao động không nhiều, diện tích mặt bằng và quy mô nhà xưởng không lớn với
các điều kiện làm việc tương đối đơn giản, các SMEs đã có thể đi vào hoạt động.
Loại hình doanh nghiệp này gần như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay
trong giai đoạn đầu. Mặt khác, trong khi việc tạo nguồn vốn kinh doanh thường là

lớn mạnh chính nhờ lợi thế này.
3.1.4 Ngoài ra, SMEs có lợi thế về sử dụng lao động
Quan hệ lao động trong các SMEs thường có tính thân thiện, gần gũi hơn so
với các doanh nghiệp lớn. Người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động
viên và khuyến khích hơn trong công việc. Nhờ vậy mà mối quan hệ giữa công
nhân và chủ doanh nghiệp cũng gần gũi và mang tính tương trợ cao hơn. Khi doanh
nghiệp gặp khó khăn, cả công nhân và chủ doanh nghiệp đều nỗ lực hết mình, sẵn
sàng làm thêm giờ, thậm chí tự hạ thấp tiền lương để có thể phần nào hỗ trợ cho
doanh nghiệp. Rõ ràng, đây là một mối quan hệ rất đáng quý và phù hợp với văn
hoá của người châu Á nói chung và của người Việt Nam nói riêng.
3.2. Về những hạn chế của SMEs
Bên cạnh những lợi thế được chỉ ra ở trên thì các SMEs cũng có những hạn
chế nhất định như:
3.2.1 Thiếu nguồn lực để thực hiện những ý tưởng kinh doanh lớn
Do khả năng tài chính và nguồn nhân lực hạn chế, nhiều SMEs có những sáng
kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ sức tiến hành nghiên cứu- triển khai, nên
không thể biến ý tưởng của mình thành công nghệ mới hoặc phải chịu để các doanh
nghiệp lớn mua lại với giá rẻ. Các SMEs cũng thường không có đủ tiềm lực để thực
hiện những dự án lớn về đầu tư, chuyển đổi cơ cấu, tiếp thị hay đào tạo, do vậy
thường gặp khó khăn khi muốn mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh.

17
3.2.2 SMEs không có được các lợi thế của kinh tế quy mô (economy of scale)
Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thường không
đạt được những lợi ích và ưu thế đặc biệt mà chỉ từ một quy mô thích hợp (thường
là đủ lớn) mới có được. Lấy ví dụ như, khi mua nguyên vật liệu và máy móc thiết bị,
do khả năng tài chính hạn hẹp, giá trị các đơn đặt hàng nhỏ nên các SMEs thường
không được hưởng các khoản chiết khấu thanh toán hay chiết khấu thương mại như
đối với các doanh nghiệp lớn. Khi cần nhập khẩu máy móc thiết bị của nước ngoài,
cũng do thiếu thông tin và ngoại tệ, nhiều SMEs không thể đặt hàng một cách trực

4.3
3.6
3.1
2.7
3.5
3.2
4.5
6.1
4
5.6
4
3.8
3.8
0
1
2
3
4
5
6
7
1975- 78 1978-81 1981-86 19986-91 1991-96 1996-99 1999-01 2001-04
%
Tỷ lệ khởi nghiệp
Tỷ lệ phá sản

Nguồn: Hồ sơ về SMEs của các nước thành viên APEC, 2006
Ngoài những hạn chế nêu trên, trong quá trình hoạt động, một vài SMEs vì
ham lợi nhuận, muốn hạ thấp tối đa chi phí sản xuất, kinh doanh nên đã làm nảy
sinh một vài tiêu cực gây ảnh hưởng không tốt tới đời sống kinh tế- xã hội như hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status