TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TRIỂN KHAI CÁC NGHIỆP VỤ PHÁI SINH TRÊN
THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI – KINH NGHIỆM TỪ TRUNG
QUỐC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Kim Oanh
Lớp : Anh 4 – TCNH B
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Tuyết Mai
3. Đặc điểm kinh doanh của thị trường ngoại hối 18
4. Nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường ngoại hối 19
4.1. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối cơ sở 20
4.2. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối phái sinh 20
III. NGHIỆP VỤ PHÁI SINH TRÊN THỊ TRƢỜNG NGOẠI HỐI 21
1. Nghiệp vụ kì hạn 21
1.1. Khái niệm: 21
1.2. Ngày giá trị kỳ hạn: 21
1.3. Tỷ giá kì hạn: 22
2. Nghiệp vụ tương lai 23
2.1. Khái niệm : 23
2.2. Đặc điểm: 23
3. Nghiệp vụ quyền chọn 24
3.1. Khái niệm: 24
3.2. Nghiệp vụ quyền chọn mua (Call), quyền chọn bán (Put) 25
3.3. Hình thức nghiệp vụ quyền chọn: 26
3.4. Tỷ giá quyền chọn: 26
3.5. Premium – Phí hợp đồng quyền chọn 27
4. Nghiệp vụ hoán đổi 28
4.1. Khái niệm: 28
4.2. Ngày giá trị hoán đổi: 28
4.3. Tỷ giá hoán đổi: 29
4.4. Hình thức nghiệp vụ hoán đổi: 29
5. Vai trò của các nghiệp vụ phái sinh trên thị trường ngoại hối 29
5.1. Là công cụ phòng ngừa rủi ro 29
5.2. Là công cụ đầu cơ trên thị trường 32
CHƢƠNG 2: KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ PHÁI SINH
NGOẠI HỐI TRÊN THỊ TRƢỜNG TRUNG QUỐC 35
I. CƠ SỞ PHÁP LÍ ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG 35
1. Quy định chung về giao dịch ngoại hối phái sinh tại thị trường Trung
NGHIỆP VỤ PHÁI SINH TRÊN THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM 67
I. SỰ CẦN THIẾT RA ĐỜI NGHIỆP VỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI
VIỆT NAM – CÁC NGHIỆP VỤ PHÁP LÍ CÓ LIÊN QUAN 67
1. Đối với doanh nghiệp: 67
2. Đối với nhà đầu tư (các cá nhân và tổ chức): 68
3. Đối với NHNN 69
II. THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ PHÁI SINH TẠI VIỆT
NAM TRONG THỜI GIAN QUA 70
1. Sự ra đời và vai trò của thị trường liên ngân hang 70
1.1. Mô hình trung tâm giao dịch ngoại tệ: 70
1.2. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng: 70
2. Quy định pháp luật liên quan tới hoạt động giao dịch ngoại hối phái sinh
71
2.1. Các quy định chung về giao dịch ngoại hối phái sinh tại Việt Nam 71
2.2. Các quy định cụ thể liên quan tới hoạt động ngoại hối phái sinh tại Việt
Nam 73
3. Thực trạng triển khai nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 75
3.1. Đối với giao dịch kì hạn ngoại hối: 76
3.2. Giao dịch hoán đổi kì hạn: 77
3.3. Giao dịch quyền chọn ngoại tệ: 77
4. Đánh giá chung về hoạt động giao dịch ngoại hối phái sinh tại Việt
Nam: 81
5. Nguyên nhân dẫn tới hạn chế giao dịch phái sinh tại Việt Nam: 82
5.1. Có sự biến đổi thấp về tỷ giá hối đoái chính thức: 82
5.2. Thiếu nhu cầu thực sự từ phía khách hàng. 84
5.3. Thiếu cơ sở pháp lý: 85
5.4. Thiếu kiến thức, hiểu biết về công cụ phái sinh. 86
5.5. Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng chưa cao: 86
III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI
TRÊN THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM 87
Bảng 4: Doanh số giao dịch hàng tháng của Ngân hàng Trung Hoa 1997 47
Bảng 5: Giao dịch kì hạn ngoại hối tại thị trường liên ngân hàng Trung Quốc
2006 53
Bảng 6: Giao dịch hoán đổi ngoại tệ cuối năm 2006 54
Bảng 7: Giao dịch hoán đổi ngoại tệ nửa đầu năm 2007 57
Biểu đồ 1: Hoạt động kinh doanh kì hạn và giao ngay ngoại hối tại Ngân hàng
Trung Quốc giai đoạn 1997 – 2002 48
Biểu đồ 2: Tỷ giá kì hạn USD/RMB vào năm 2006 53
Biểu đồ 3: Mức tỷ giá hoán đổi ngoại tệ qua đêm nửa đầu năm 2007 58
Biểu đồ 4: Mức tỷ giá 1 năm của hoán đổi RMB/USD vào đầu năm 2008 59
Biểu đồ 5: Tỷ giá hoán đổi ngoại tệ vào cuối năm 2008 60
Biểu đồ 6: Tỷ giá hoán đổi kì hạn 1 năm RMB/ USD trong nửa đầu năm
2009 61
Biểu đồ 7: Trị giá giao dịch hoán đổi và kì hạn trên thị trường liên ngân hàng
Trung Quốc 63
Biểu đồ 8: Số lượng thành viên tham gia thị trường ngoại hối phái sinh liên
ngân hàng Trung Quốc 64
Biểu đồ 9: Tỷ giá USD/RMB giao ngay, kì hạn và dự báo của Deutsche Bank
66
Biểu đồ 10: Tỷ giá VND/USD trong thời gian qua 81
DANH MỤC VIẾT TẮT
BOC
CBRC
CFETS
DN
FED
FOREX
KDNH
1
LỜI MỞ ĐẦU
1) Tính cấp thiết của đề tài:
Bước sang thế kỉ 21, một xu thế tất yếu không thể đảo ngược đó chính là
toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng trở lên mạnh mẽ.
Việt Nam cũng không đứng ngoài xu thế trên, đặc biệt kể từ khi chúng ta trở
thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO. Tự do hoá
thương mại, đầu tư và tài chính diễn ra với cường độ và quy mô lớn chưa từng
có. Sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế của kinh tế Việt Nam thông qua cơ
chế thị trường là một xu thế khách quan. Với vai trò là chiếc cầu nối giữa nền
kinh tế trong nước với thế giới, việc phát triển nghịêp vụ kinh doanh trên thị
trường ngoại hối theo hướng hịên đại, phù hợp chuẩn mực và trình độ thế giới
là một điều cần thiết. Điều đó không những nhằm thúc đẩy các hoạt động xuất
nhập khẩu của mọi thành phần kinh tế mà còn kích thích luân chuyển các
khoản vốn đầu tư và tín dụng quốc tế, tạo môi trường để tỷ giá xác định một
cách khách quan theo quy luật cung cầu trên thị trường, cung cấp các biện
pháp hữu hiệu để phòng ngừa sự biến động của rủi ro tỷ giá cho nhà đầu tư,
ngân hàng và nhà xuất nhập khẩu trên thị trường thông qua hợp đồng hoán
đổi, quyền chọn, kỳ hạn, tương lai.
Có thể nói nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam mới ra đời trong
chục năm trở lại đây nhưng thực sự chưa phát triển do những vướng mắc,
những hạn chế và những bất cập trong cơ chế quản lý. Xuất phát từ thực tế
đời sống, em mạnh dạn nghiên cứu về: “Triển khai các nghiệp vụ phái sinh
trên thị trường ngoại hối – Kinh nghiệm từ Trung Quốc và giải pháp phát
triển cho Việt Nam” với hy vọng sẽ góp tiếng nói vào công cuộc phát triển
công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam.
3
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn
nhiều hạn chế nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất
mong nhận được sự góp ý của thầy cô và bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nôi, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Kim Oanh 4
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ
PHÁI SINH TRÊN THỊ TRƢỜNG NGOẠI HỐI
5
Đồng tiền quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đồng
tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây
gọi là ngoại tệ);
Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối
phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
Các loại giấy tờ có giá khác ghi bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính
phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiêú và các loại giấy tờ có giá khác;
Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản nước ngoài
của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp
mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;
Đồng tiền của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong
trường hợp chuyển ra và chuyển vào khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử
dụng trong thanh toán quốc tế.
Ngoại hối là hàng hoá mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trên
thực tế, người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ, còn các giấy tờ có giá khác
ghi bằng ngoại tệ không được giao dịch trực tiếp trên thị trường ngoại hối.
Muốn trở thành ngoại tệ để giao dịch trên thị trường ngoại hối, thì trước hết
phải bán và chiết khấu các giấy tờ có giá để có ngoại tệ, sau đó mới tíên hành
mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
Như vậy đối tượng mua bán trên thị trường ngoại hối thông thường chỉ
bao gồm:
Mua bán các đồng tiền khác nhau ( luôn có ngoại tệ tham gia)
Mua bán vàng tiêu chuẩn quốc tế.
Ngày nay do vai trò tiền tệ của vàng đã giảm đáng kể, chính vì vậy khi
nói tới thị trường ngoại hối thường được hiểu theo nghĩa thực tế là thị trường
mua bán ngoại tệ. 6
PGS.TS Nguyễn Văn Tiến (2008), Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối , Nhà xuất bản Thống Kê -29- Hà Nội 7
- Theo phương pháp yết tỷ giá trực tiếp: E (USD/VND) = 18000 VND,
ta hiểu 1 USD = 18000 VND
- Theo phương pháp yết tỷ giá gián tiếp: E (VND/ USD) = 1/18000
VND, ta hiểu 1 VND = 1/18000 USD
Trong thực tế, phương pháp yết tỷ giá trực tiếp được phần lớn các quốc
gia sử dụng. Hai cách yết tỷ giá trên đứng từ góc độ quốc gia, trong tỷ giá bao
giờ cũng có đồng nội tệ. Nhưng trên thực tế trong KDNH, nội tệ không nhất
thiết lúc nào cũng có mặt bên trong tỷ giá. Ví dụ, ở Việt Nam, tỷ giá
EUR/JPY sẽ không phụ thuộc vào cách yết tỷ giá trực tiếp hay gián tiếp bởi vì
cả 2 đồng tiền đều là ngoại tệ đối với Việt Nam.
Do đó, để đơn giản và thống nhất cách gọi người ta quy ước phương
pháp yết tỷ giá kiểu Châu Âu và kiểu Mỹ, như sau: Trong phương pháp yết tỷ
giá kiểu Châu Âu, đồng USD là đồng tiền yết giá, còn trong phương pháp yết
tỷ giá kiểu Mỹ, đồng USD là đồng tiền định giá.
Vì nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế số 1 của thể giới, cho nên đồng USD
có vị trí chủ yếu trong hoạt động thương mại, đầu tư và quan hệ tín dụng. Do
đó, tỷ giá của các đồng tiền quốc gia được hình thành với USD thông qua
quan hệ cung cầu trên thị trường ngân hàng và có tỷ giá gốc tại quốc gia phát
hành đồng tiền này. Còn tỷ giá của đồng tiền quốc gia được hình thành với
đồng tiền của quốc gia khác không phải là USD không được hình thành trên
quan hệ cung câù trực tiếp, mà được suy ra từ tỷ giá giữa chúng với USD, hay
nói một cách khác là ta phải tính tỷ giá chéo. Ví dụ, muốn biết tỷ giá
AUD/VND là bao nhiêu thì ta phải căn cứ vào tỷ gía USD/VND tại Việt Nam
và tỷ giá AUD/USD tại Úc.
Tóm lại:
Tại một thời điểm xác định, mỗi đồng tiền đều có một giá trị xác định
9
- Tính theo tỷ lệ phầm trăm: Spread không phải là một tỷ lệ cố định cho tất cả các giao dịch và các
đồng tiền, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố:
Số lượng ngoại tệ trong giao dịch: Số lượng giao dịch càng lớn thì
spread càng nhỏ.
Tầm cỡ cũng như sự nổi tiếng của trung tâm giao dịch tài chính.
Tính chất ổn định hoặc không ổn định của các đồng tiền tham gia
giao dịch.
Tỷ trọng của các đồng tiền tham gia giao dịch.
Phương tiện giao dịch là tiền mặt, hối phiếu, séc, kì phiếu, thẻ tín
dụng hay chuyển khoản.
Rõ ràng nếu ngân hàng vừa mua vừa bán một số lượng như nhau, thì
ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận mà không cần bỏ ra một đồng vốn nào. Nếu
ngân hàng mở rộng spread, thì lợi nhuận sẽ thu được lớn hơn trong mỗi giao
dịch. Tuy nhiên mở rộng spread không phải là việc làm tuỳ ý, bởi vì nếu mở
rộng khó thu hút được khách hàng. Do đó, trong chiến lược cạnh tranh ngân
hàng thường có xu hướng thu hẹp spread để tăng doanh số giao dịch, tạo lập
được thị trường giúp ngân hàng có được tiếng tăm tốt trong kinh doanh.
3. Ngày giá trị trong kinh doanh ngoại hối
Trong các hợp đồng ngoại hối, ngày kí kết hợp đồng (contract date –
CD) và các ngày các bên tham gia thực sự thanh toán cho nhau thường là
khác nhau. Ngày mà các bên thanh toán thực sự cho nhau gọi là ngày giá trị
(value date – VD).
Ngày giá trị quan trọng nhất trên thị trường ngoại hối là ngày giá trị
giao ngay (spot value date – SVD). Theo thông lệ, ngày giá trị giao ngay là
11
sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ mới làm phát sinh trạng thái
ngoại tệ. Trong đó bao gồm các giao dịch sau:
Mua, bán ngoại tệ (giao ngay và kì hạn)
Thu chi trả lãi suất bằng ngoại tệ
Thu trả phí dịch vụ bằng ngoại tệ
Cho, tặng, biếu và viện trợ bằng ngoại tệ
Các khoản ngoại tệ bị rách, nát hư hỏng …không sử dụng được nữa
Tiền lương thưởng bằng ngoại tệ
Các giao dịch làm tăng quyền sở hữu về một ngoại tệ sẽ làm phát sinh
trạng thái trường (hay trạng thái dương) ngoại tệ đó (Long the Foreign
Currency – LFC) còn những giao dịch làm giảm quyền sở hữu về một ngoại
tệ sẽ làm phát sinh trạng thái đoản (hay trạng thái âm) về ngoại tệ đó (Short
the Foreign Currency – SFC).
Trạng thái ngoại tệ ròng đối với ngoại tệ (F) tại thời điểm (t) được xác
định theo các phương pháp sau:
Thứ nhất: Bằng hiệu số giữa doanh số phát sinh trạng thái trường và
trạng thái đoản đối với ngoại tệ F trong một thời kỳ nhất định. - NEF
F
(t) - Trạng thái ngoại tệ ròng đối với ngoại tệ F tại thời điểm t
- LFC
F
(t
0
-t) - Doanh số phát sinh trạng thái trường của ngoại tệ F trong
kỳ
- SFC
F
(t) - Tài sản nợ của ngoại tệ F tại thời điểm t.
4.2. Trạng thái luồng tiền:
Trong thực tế, các hoạt động mua bán ngoại tệ làm phát sinh sự chuyển
giao quyền sở hữu đối với ngoại tệ, tạo ra trạng thái ngoại tệ trong khi đó các
giao dịch trên thị trường tiền tệ (đi vay và cho vay) không làm phát sinh
chuyển giao quyền sở hữu đối với ngoại tệ nên không tạo ra trạng thái ngoại
tệ. Mặt khác, giao dịch trên thị trường FOREX (mua và bán) làm phát sinh
luồng tiền dương và âm của hai đồng tiền tại cùng một thời điểm còn giao
dịch trên thị trường tiền tệ làm phát sinh luồng tiền dương và âm của một
đồng tiền tại các thời điểm khác nhau. Trong đó:
Luồng tiền dương (positive cash flows – PCF) hay luồng tiền vào
(inflows of cash) là các khoản thu nhận tiền từ người khác được tính trong
một khoảng thời gian xác định, ví dụ: doanh số chi trong một ngày, một tuần
hay một tháng…
Luồng tiền âm (negative cash flow – NCF) hay luồng tiền ra
(outflows of cash) là các khoản tìên chi trả cho người khác được tính trong
một khoảng thời gian xác định.
13
Trạng thái luồng tiền ròng (Net Cash Flow Position – NETCF): là
chênh lệch giữa luồng tiền dương và âm tại một thời điểm, do đó nó phản ánh
số dư tại một thời điểm. Vậy nếu gọi kỳ tính toán các luồng tiền là (t
0
-t
1
),
trong đó: điểm xuất phát của kỳ tính toán là t0; điểm kết thúc (điểm cuối của
kỳ tính toán là t
1
0
-t
1
)
- NETCF(t
1
) - Trạng thái luồng tiền ròng tại thời điểm (t
1
)
Nếu:
- NETCF(t
1
) >0: gọi là trạng thái luồng tiền dòng dương (Net positive
cash flow position)
- NETCF(t
1
) <0: gọi là trạng thái luồng tiền ròng âm (Net negative
cash flow position)
- NETCF(t
1
) =0: gọi là trạng thái luồng tiền cân bằng (Square cash
flow position)
4.3. Ảnh hưởng của giao dịch kinh doanh ngoại hối đến trạng thái hối
đoái và trạng thái luồng tiền
Trong kinh doanh ngoại hối các giao dịch như mua bán ngoại tệ dẫn tới
việc chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ, từ đó làm phát sinh trạng thái
ngoại hối.
Các giao dịch mua bán ngoại tệ tạo ra trạng thái luồng tiền ròng và
trạng thái ngoại tệ ròng. Khi mua một ngoại tệ vào sẽ tạo ra luồng tiền vào và
tạo ra trạng thái ngoại hối ròng dương của ngoại tệ đó. Và ngược lại, khi bán
15
II. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG NGOẠI HỐI
1. Khái niệm và phân loại thị trƣờng ngoại hối
1.1. Khái niệm
Bằng tiếng Anh, thị trường ngoại hối là: The foreign Exchange Market,
và được viết tắt là FOREX hay FX.
Giống như thương mại, đầu tư, du lịch, quan hệ tín dụng và các quan hệ
tài chính quốc tế khác đêù làm phát sinh nhu cầu mua bán (chuyển đổi) các
đồng tiền khác nhau trên thị trường. Hoạt động mua bán các đồng tiền khác
nhau được diễn ra trên thị trường, và thị trường này gọi là thị trường ngoại
hối. Một cách tổng quát: Thị trường ngoại hối là bất cứ đâu diễn ra việc mua
bán các đồng tiền khác nhau
3
.
Trong thực tế, do hoạt động mua bán chủ yếu diễn ra giữa các ngân
hàng (chiếm khoảng 85% tổng số giao dịch), chính vì vậy theo nghĩa hẹp
(nghĩa thực tế) thị trường ngoại hối chủ yếu mua bán ngoại tê giữa các ngân
hàng, tức thị trường Interbank.
1.2. Phân loại thị trường ngoại hối:
Căn cứ vào tính chất nghịêp vụ: Thị trường giao ngay, thị trường
kì hạn, thị trường hoán đổi, thị trường tương lai và thị trường quyền chọn.
Căn cứ vào tính chất kinh doanh: Thị trường bán buôn
(Interbank), thị trường bán lẻ
Căn cứ vào địa điểm giao dịch: Giao dịch tập trung trên sở giao
dịch (Exchange), giao dịch phi tập trung
Căn cứ vào tính chất pháp lí: Thị trường chính thức (thị trường
hợp pháp) và thị trường phi chính thức (chợ đen, thị trường ngầm).
đặt bán ngoại tệ từ các ngân hàng khác nhau, trên cơ sở cung cấp cho khách
hàng giá chào mua và giá chào bán một cách nhanh, rộng khắp với giá tay
trong (inside rate). Tuy nhiên, giao dịch qua hình thức này có nhược điểm là:
ngân hàng phải trả cho các nhà môi giới một khoản phí làm cho chênh lệch tỷ
giá mua bán hẹp lại. Các nhà môi giới phải có giấy phép hành nghề và chỉ
cung cấp dịch vụ môi giới, chứ không được mua bán cho chính mình. 17
2.3. Ngân hàng thương mại:
Các NHTM tiến hành giao dịch ngoại hối nhằm mục đích:
Thứ nhất nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối đem lại lợi nhuận cho ngân
hàng. KDNH thông qua việc mua bán để hưởng chênh lệch tỷ giá hay thông
qua đầu cơ trên cơ sở dự báo biến động của tỷ giá có thể đem lại lợi nhuận
đáng kể cho ngân hàng, đồng thời ngân hàng thu khoản phí dịch vụ từ khách
hàng.
Thứ hai, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối làm tăng quy mô ngân hàng
thông qua việc thúc đẩy hoạt động thanh toán và tài trợ xuất khẩu, từ đó thu
hút thêm được nhiều khách hàng cho ngân hàng.
Thứ ba, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối còn giúp cho ngân hàng chống
rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh thông qua việc ngân hàng có những cách
thức xử lý linh động hơn trước những biến động của giá trị đồng nội tệ và có
thể cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.
2.4. NHTW:
Có nhiều cách để một NHTW có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối.
Trong trường hợp FED, điều này thường xảy ra thông qua sử dụng các ngoại
tệ để mua vào đồng USD khi đồng USD yếu, hay bán ra đồng USD để lấy
ngoại tệ khi đồng USD mạnh để tỷ giá biến động có lợi cho nền kinh tế.
Tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể của từng thị trường, NHTW có thể:
Phối hợp hoạt động của mình với các NHTW khác hay thực hiện