A - Phần mở bài
I. Tình hình Việt Nam nói chung và nền kinh tế nói riêng.
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử xây dựng và bảo vệ, đất nớc ta đã có
những bớc thăng trầm trên con đờng phát triển. Gần đây nhất hai cuộc
chiến tranh chống Pháp, Mỹ và chiến tranh biên giới 1979 của dân tộc ta
diễn ra hết sức khốc liệt. Tuy đã đổi mới song hậu quả của nó để lại không
nhỏ : tái tạo cơ sở vật chất, chế độ bao cấp bất ổn, thơng binh, trình độ tri
thức Nớc ta hội nhập kinh tế là xuất phát từ mục tiêu kinh tế - xã hội
trong quá trình phát triển, bao gồm sự lựa chọn chế độ xã hội theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện bằng đờng
lối, chính sách và hệ thống pháp luật chặt chẽ, theo phơng châm : dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra hay dân giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Tình hình chính trị hiện nay khá ổn định tuy có
một vài vụ rắc rối nhỏ, nhng chúng ta không đợc chủ quan khi mà bọn phản
động cấu kết âm mu lật đổ thờng trực. Sự tồn tại của một quốc gia không
thể thiếu yếu tố kinh tế. Tình hình đất nớc ta hiện nay đã thoát khỏi chế độ
bao cấp, nền kinh tế lạc hậu và chuyển sang nền kinh tế thị trờng. Do đó nó
mang tính cạnh tranh cao, công cụ quản lý nền kinh tế của chính phủ cũng
rất đa dạng phù hợp với thời kỳ mở cửa. Thực tiễn của công cuộc đổi mới
cơ chế kinh tế và cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, cũng nh mở cửa để hội
nhập quốc tế trong gần 15 năm qua cho thấy nền tảng của độc lập, tự chủ,
an ninh xã hội và thực hiện định hớng XHCN. Có thể liệt kê : tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế khá cao, bình quân GDP hàng năm (thời kỳ 1991 - 1995) là
8,2%, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao gấp 2 - 3 lần tốc độ tăng GDP,
du lịch và dịch vụ quốc tế tăng nhanh chóng, Chúng ta đang bớc vào giai
đoạn quá độ lên XHCN từ điểm xuất phát thấp, nền kinh tế nhỏ, tự cấp tự
túc, tình trạng phổ biến của tái sản xuất giản đơn, lực lợng sản xuất lạc
hậu cản trở tới sự phát triển và tăng trởng kinh tế. Tuy nhiên chúng ta
cũng đợc sự giúp đỡ tích cực của bạn bè quốc tế về vốn, công nghệ, quản lý,
II.Tình hình thế giới.
gia tăng này đặt ra yêu cầu khách quan đòi hỏi các quốc gia phải có chiến l-
ợc hội nhập phù hợp vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Trong bối cảnh
này không thể phát triển nếu nh không mở cửa hội nhập. Tuy vậy hội nhập
cũng có mặt đợc, mặt mất : Cơ hội phát triển kinh tế cho các nớc nghèo nh-
ng cũng kéo theo hàng loạt rắc rối, khó khăn trong xu thế ấy. Việt Nam
đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Việc hội
nhập vào trào lu nền kinh tế thế giới và khu vực là một nội dung quan trọng
trong công cuộc đổi mới hiện nay. Do vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu bản
chất của toàn cầu hoá có ý nghĩa cả lý luận lẫn thực tiễn. Sự nhìn nhận,
đánh giá về toàn cầu hoá trên nhiều phơng diện thông tin trong những năm
gần đây cha hoàn toàn thống nhất, thậm chí trái ngợc nhau. Có rất nhiều
quan điểm khác nhau về tên gọi : thế giới hoá, quốc tế hoá, hội nhập vào
nền kinh tế toàn cầu, Điều này cho thấy những cách lý giải và thái độ
không giống nhau đối với xu thế này. Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoá
chỉ mới xuất hiện gần đây, là chính sách của Mỹ nhằm bành trớng quyền
lực và thống trị thế giới theo kiểu Mỹ. quan điểm này không chỉ tồn tại ở
các nớc đang phát triển mà còn ở chính các nớc phát triển : Nhật, Sau
chiến tranh lạnh, thế giới vận động theo trật tự đa cực với một siêu cờng là
Mỹ. Với sức mạnh của mình, Mỹ đang đóng vai trò chi phối bàn cờ thế
giới. Điều này đợc chứng minh rất rõ : suốt những thập kỷ sau chiến tranh
thế giới thứ hai Mỹ luôn chiếm 30% GDP thế giới, là một trong hai siêu c-
ờng hạt nhân thế giới hay một sự kiện điển hình : cuộc khủng hoảng kinh tế
1933 làm giảm tỷ lệ tăng trởng GDP của Mỹ mất 2% (tơng đơng với thiệt
hại 200 tỷ USD, trong đó tổng GDP của Mỹ khoảng 10.000 tỷ USD) bằng
tổng GDP của mấy chục nớc đang phát triển. Trong lĩnh vực kinh tế, Mỹ
thao túng các định chế kinh tế toàn cầu, đòi các quốc gia phải mở rộng thị
trờng. Toàn cầu hoá là chính sách của Mỹ, là Mỹ hoá bởi Mỹ đang giữ vai
trò bá chủ chi phối phần quan trọng trong các hoạt động quan hệ kinh tế
quốc tế. Toàn cầu hoá biểu hiện trớc mắt hết ở sự gia tăng của tự do hoá
trong lu chuyển các loại hàng hoá, vốn, công nghệ và lao động. Nguyên
sản - cộng đồng toàn thế giới của những ngời lao động tự do và phát triển
toàn diện
(2)
.
(1)
Tạp chí cộng sản số 22
(2)
Tạp chí Kinh tế thế giới sô 2
Bản chất của toàn cầu hoá là hệ thống kinh tế thị trờng, không bị giới
hạn bởi các đờng biên giới, ranh giới dân tộc, tôn giáo Phải chăng toàn
cầu hoá chính là phơng cách, con đờng, một giai đoạn tất yếu phải qua để đi
lên CNXH. Điều này có liên quan mật thiết đối với Việt Nam mối quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau bởi : Toàn cầu hoá là sự gia tăng mạnh mẽ các mối quan
hệ gắn kết tác động phụ thuộc lẫn nhau, là quá trình mở rộng quy mô và c-
ờng độ hoạt động giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi
toàn cầu trong sự vận động phát triển. Quốc tế hoá, toàn cầu hoá là một quá
trình, vì vậy mà khác với các vấn đề toàn cầu. Sự tham gia vào quá trình
quốc tế hoá, toàn cầu hoá chính là thực hiện hội nhập quốc tế. Toàn cầu hoá
là một xu hớng bao gồm nhiều phơng diện : kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội. Quốc tế hoá, toàn cầu hoá đó phải là phản ánh quy mô các hoạt động
liên quốc gia, song toàn cầu hoá có thực sự theo một chiều hớng tốt ? có
đảm bảo một cuộc sống mới, tốt đẹp hơn cho cộng đồng thế giới ? bởi bản
chất của các hoạt động kinh tế này ra sao, chúng ta cha hiểu rõ ?
Toàn cầu hoá (về kinh tế) là tự do hoá kinh tế và hội nhập quốc tế : th-
ơng mại, dv, Vậy thì toàn cầu hoá kinh tế là gì ? Có ý kiến nêu toàn cầu
hoá kinh tế là những mối quan hệ kinh tế vợt qua biên giới quốc gia, vơn tới
quy mô toàn thế giới, đạt trình độ và chất lợng mới. Các quốc gia dù muốn
hay không dần dần đều buộc phải hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực
và toàn cầu, phải có chiến lợc và chính sách tích ứng với quá trình toàn cầu
hoá. Vấn đề đặt ra từ quan niệm này là tự do hoá kinh tế kiểu nào, trên cơ
chóng áp dụng vào sản xuất, thúc đẩy phân công lao động phát triển lên
một bớc mới. Dới sự tác động của khoa học công nghệ các ngành kinh tế
truyền thống dần những bớc cho các ngành đại diện cho tiến bộ khoa học
kỹ thuật : mạng máy tính quốc tế Internet, truyền hình cáp, khám phá vũ
trụ, tóm lại chính sự phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật đã làm
phá vỡ hàng rào ngăn cản địa giới, thúc đẩy quốc tế hoá kinh tế lên một thời
kỳ mới. Thứ hai là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng : quá trình
quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát triển
kinh tế thị trờng. Kinh tế thị trờng càng phát triển thì phân công lao động
càng sâu sắc. Sự phát triển của kinh tế thị trờng đã mở ra điều kiện cho sự
phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá. Lợi ích đem lại của kinh tế thị trờng
: tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất và đa lại cơ chế thống
nhất cho xử lý các mối quan hệ kinh tế, đó là cơ chế thị trờng. Mô hình Đức
đợc gọi là mô hình kinh tế thị trờng xã hội, của Mỹ là nền kinh tế thị trờng
phân tán. Nhà nớc thông qua các công cụ phát triển bảo đảm cạnh tranh thị
trờng. Nhiều quốc gia vốn trớc đây từ chối nền kinh tế thị trờng đã thực
hiện mở cửa cải cách. Có thể nói ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất ở
cơ chế vận hành : cơ chế thị trờng. Đây chính là cơ sở cho sự gia tăng của
xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Sự phát triển của nền kinh tế thị trờng không
chỉ ở sự mở rộng quy mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc lẫn
nhau giữa các thị trờng mà còn thể hiện ở sự phát triển của thị trờng tài
chính gắn liền với sự xuất hiện của một loạt công cụ mới trong thanh toán
giao dịch. Nhìn chung các quốc gia trên toàn thế giới ngày nay đều dựa trên
cơ chế thị trờng, sử dụng các phơng tiện và công cụ của kinh tế thị trờng
trong hoạt động kinh doanh, đa lại một không gian rộng lớn, không gian
toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và lu chuyển các yếu tố của chính quá
trình sản xuất ấy.
Thứ ba là sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới
kết thúc chiến tranh lạnh, bớc vào thời kỳ hoà bình, hợp tác và phát triển.
kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh quốc phòng. Có nh vậy chính
phủ và toàn dân ta mới có điều kiện tiếp cận với hình thức độc quyền, đối
phó với sự bành trớng của nó. Việc gia tăng các hoạt động TNC ở các quốc
gia đang phát triển còn đóng góp quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân
lực, nâng cao trình độ quản lý và chuyển giao các công nghệ hiện đại. Đây
là những mặt rấ quan trọng để các quốc gia đang phát triển nâng cao trình
độ phát triển của mình từng bớc rút ngắn khoảng cách phát triển. Các TNC
đã dựa vào vốn, kỹ thuật, nguồn thông tin để thiết lập các chi nhánh khác
nhau ở các nơi có điều kiện thuận lợi nhất cho việc sản xuất gia công, lắp
ráp. Sự phát triển và xâm nhập ngày càngmạnh mẽ của các Công ty xuyên
quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phàan xoá bỏ sự ngăn cách,
biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân
tộc từng bớc tham gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế,
đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng của các quốc gia
bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu, làm gia tăng tính đa dạng của nó.
Thứ hai, là vai trò cua các định chế kinh tế toàn cầu và khu vực. Các
định chế kinh tế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế
hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Trong các tổ chức kinh tế - thơng mại - tài chính
toàn cầu và khu vực có ảnh hởng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực
hoá về kinh tế : WTO, IMF, WB, liên hợp quốc, các tổ chức khu vực : EU,
ASEAN
Ngoài những lý do chủ yếu đã nêu thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn
cầu hoá trong những thập kỷ gần đây, chúng ta có thể kể một số lý do khác :
sự phát triển về dân chủ, về văn hoá
4. Bây giờ ta xét các tác động của toàn cầu hoá đối với kinh tế -
chính trị.
Trên phơng diện kinh tế nó đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế
thế giới. Thực chất của những tác động đợc biểu hiện trên một số điểm :
Thứ nhất toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy rất nhanh, mạnh sự phát triển và xã
hội hoá lực lợng sản xuất, đa tốc độ tăng trởng của thế giới lên mức cao.
phối, giao lu,). Hai đại diện lớn Mỹ và phơng Tây luôn hô hào toàn cầu
hoá, thông thoáng thị trờng thế giới song Mỹ và một số nớc khác lại lôi kéo,
đồng loã các nớc khác rong việc sử dụng các chính sách và vũ khí kinh tế
(cấm vận,). Ví dụ, có 75 nớc dân số chiếm 52% dân số thế giới chịu sự
cấm vận của Mỹ. Do đó nhiều nhà nghiên cứu về vũ khí kinh tế rút ra kết
luận Kinh tế là một công cụ bạo lực
Quá trình quốc tế hoá mà đỉnh cao là TCH kinh tế, vậy thì các đặc trng
cơ bản của nó là gì ?
Có 6 đặc trng cơ bản, đặc trng thứ nhất là giai đoạn phát triển cao của
quốc tế hoá kinh tế. Hiện nay ta thấy CNTB đã tạo ra sự phát triển sản xuất
mà cha nền văn minh nào trớc đó đạt đợc. Các cuộc chiến tranh giành giật
thị trờng không ngừng bùng nổ : Anh mạnh trong kinh tế hàng hải,
Vào thế kỷ XIX đế quốc Anh có sự phát triển mạnh, khống chế gần
nh toàn bộ thế giới. Vào nửa sau thế kỷ XIX, mậu dịch giữa các nớc trở
thành một hệ thống nhất. Từ nửa sau thế kỷ XIX cho đến nay quá trình
quốc tế hoá đã trải qua ba thời kỳ : Làn sóng đầu tiên diễn ra trong khoảng
50 năm trớc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ này, những sự
trao đổi quốc tế và liên lục địa đã phát triển nhanh hơn cả sự sản xuất trên
toàn thế giới, những dòng tài chính tăng lên nhanh hơn nhiều trên quy mô
thế giới so với sự tăng trởng của việc trao đổi và sự sản xuất trên toàn thế
giới. Làn sóng thứ hai của quốc tế hoá diễn ra vào những năm 50,60 và 70
của thế kỷ XX. ở giai đoạn này đã có một sự tăng trởng về trao đổi quốc tế
lớn hơn nhiều so với sản xuất trên thế giới, đã có sự bùng nổ thực sự những
dòng tài chính trên phạm vi toàn cầu, đã có sự bùng nổ hoạt động của các
Công ty quốc gia. Làn sóng thứ ba bắt đầu từ cuối những năm 80 trở đi và
lúc này thuật ngữ TCH đợc sử dụng phổ biến.
Đặc trng thứ hai là trong thời kỳ TCH kinh tế hiện nay hội nhập kinh
tế quốc tế gắn liền với tự do hoá các hoạt động kinh tế. Trớc đây giai đoạn
quốc tế hoá chỉ là sự bành trớng kinh tế ra khỏi khuôn khổ biên giới, không
gắn với việc tự do hoá. Ví nh Nhật Bản mãi tới nửa sau của thập kỷ 70 Nhật
đoàn độc quyền, bọn đầu sỏ tài chính). Với sự thắng lợi của cách mạng
tháng Mời Nga và tiếp sau đó là sự ra đời của các quốc gia XHCN đã thu
hẹp phạm vi thống trị và chi phối của CNTB. Vì lý do chính trị, nhiều nớc
TBCN đã sử dụng các biện pháp hạn chế quan hệ với các nớc XHCN (nh ở
Việt Nam ta trớc đây đã từng bị cấm vận bởi Mỹ gây thiệt hại về kinh tế rất
nhiều ). Cấu trúc mô hình XHCN bị sụp đổ (điển hình là sự tan rã của Liên
Bang Nga, các quốc gia còn lại đang đẩy mạnh quá trình đổi mới, cải cách
nhằm tìm ra phơng thức mới xây dựng CNXH. Các nớc TBCN tìm mọi cách
trong quá trình TCH để loại bỏ các nớc XHCN. Rõ ràng là xét về lôgic và
lịch sử toàn cầu hoà là một xu thế tất yếu, là kết quả của sự phát triển lực l-
ợng sản xuất, của kinh tế thị trờng song cũng cần thấy toàn cầu hoá kinh tế
hiện nay không phải không có tính chất chính trị do việc tham gia vào toàn
cầu hoá xuất phát từ lợi ích khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau giữa các
chủ thể của chính quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá chính là Mỹ hoá, bởi u thế của Mỹ thể hiện trên một số
nét : Mỹ là quốc gia có nền kinh tế thị trờng và khoa học phát triển cao, sức
mạnh kinh tế và quân sự thì Mỹ đóng vai trò lãnh đạo trong khối các nớc t
bản (cụ thể là NATO), các TNC của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu hoá đã
khống chế một tỷ phần lớn mậu dịch - đầu t và tài chính quốc tế, trong
nhiều năm qua Mỹ vẫn dẫn đầu về các phát minh và triển khai chúng (đặc
biệt là công nghệ thông tin), cuối cùng đó là sự chi phối về an ninh, quân sự
đối với các cờng quốc. Tuy nhiên sự ảnh hởng và thống trị này chủ tạm thời
bởi nhân loại đang trên con đờng phát triển vũ bão của khoa học không chỉ
riêng ở Mỹ và đặc biệt là sự đoàn kết dân tộc ngày càng cao. Chính trong
TCH chủ nghĩa t bản (CNTB) sẽ phải biến đổi. Tham gia vào quá trình TCH
không chỉ có Mỹ và các nớc t bản phát triển mà còn có hàng loạt các quốc
gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do vậy quá trình TCH không phải
đơn giản là sự phổ biến các giá trị, luật chơi của CNTB, mà là quá trình đấu
tranh thoả thuận, sàng lọc, trong đó các giá trị văn minh nhân đạo của
loài ngời sẽ đợc chấp nhận. Cũng không thể xem quá trình TCH hiện nay
Thứ nhất toàn cầu hoá làm gia tăng tình trạng bất công, sự phân hoá
giàu nghèo, thứ hai là cạnh tranh gay gắt giữa các khu vực, công ty thuộc
quốc gia hay nảy sinh vấn đề phá sản, thất nghiệp. Thứ ba hạn chế khả năng
phát huy nguồn nội lực do mải tranh thủ nguồn lực bên ngoài. Thứ t là hậu
quả về môi trờng xã hội, không bền vững trong phát triển. Thứ năm nó đặt
ra những hậu quả mang tính chất phi kinh tế. Đại dịch (HIV/AIDS, văn hoá
ngoại lai (đặc biệt là mạng Internet )
Tóm lại TCH tạo cơ hội cho phát triển song cũng có nhiều thách thức
đối mặt : kinh tế, chính trị, xã hội và môi trờng.
Đặc trng thứ năm là : Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình mở rộng sự hợp
tác kinh tế đồng thời với sự gia tăng cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Quá
trình toàn cầu hoá bắt buộc các quốc gia phải hợp tác, phụ thuộc lẫn nhau
sự hợp tác kinh tế quốc tế trở thành điều kiện tồn tại và phát triển. Đặc tính
mở rộng sự hợp tác sự gắn bó của nền kinh tế toàn cầu vừa là điều kiện bảo
đảm cho sự phát triển bền vững của kinh tế toàn cầu cũng nh kinh tế các
quốc gia. Sự mở rộng trong quá trình TCH đa đến sự cạnh tranh quyết liệt
cả bề rộng lẫn chiều sâu trở thành động lực cho phát triển. Sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tin học đã và đang làm thay đổi vai trò của
các nguồn lực tăng trởng, hớng vào thoả mãn tốt nhất nhu cầu con ngời.
Điểm mới trong cạnh tranh của quá trình này là cạnh tranh trong một khuôn
khổ đợc quản lý.
Đặc trng thứ sáu đó là TCH kinh tế hiện nay đang gia tăng mạnh mẽ
gắn liền với xu thế khu vực hoá diễn ra cũng không kém phần nhộn nhịp.
Nét mới trong quá trình TCH là xu thế khu vực hoá. Đó là bớc chuẩn bị cho
TCH và nó phản ánh sự co cụm nhằm bảo vệ lợi ích tơng đồng của một vài
nớc. Khu vực hoá có nhiều mức độ khác nhau , từ một vài nớc đến nhiều n-
ớc tham gia thành một tổ chức. Ví dụ Liên Minh Châu Eu, khu vực mậu
dịch tự do ASEAN (AFTA), diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình d-
ơng (APEC), khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Nh vậy có thể thấy
xu thế TCH và những đặc trng của nó hết sức phong phú, nhạy cảm. Nó là
kim ngạch xuất khẩu cao gấp 2 đến 3 lần tốc độ tăng GDP. Du lịch và dịch
vụ quốc tế đã đợc phát triển nhanh chóng, hàng năm khách sạn, nhà hàng,
trung tâm du lịch đã hình thành một mạng lới có thể thu hút hàng năm
nhiều triệu khách quốc tế. Đã thu hút đợc hơn 2400 dự án đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài với vốn đăng ký 36 tỷ USD. Nổi trội lên đó là hoạt động của các
doanh nghiệp. Nhà nớc và các ngân hàng Việt Nam Hội nhập buộc các
doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh, một cuộc đua khốc liệt trên thơng
trờng. Số lợng các doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN) tăng nhanh, chất lợng và
loại hình ngày càng đa dạng. Vốn đầu t nớc ngoài vào các doanh nghiệp
tăng dần theo mức độ mở cửa của nền kinh tế, độ thông thoáng của Luật
Đầu t nớc ngoài. Các doanh nghiệp t nhân phát triển mạnh nhng đa phần là
các doanh nghiệp nhỏ, trình độ hạn chế, sức cạnh tranh yếu. Sau nhiều năm
đổi mới số lợng đã giảm song đã chuyển biến quan trọng trong việc thích
ứng với cơ chế kinh tế mới. Cho đến nay DNNN vẫn nắm giữ những ngành,
lĩnh vực then chốt, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế theo định hớng
XHCN. Tỷ trọng GDP phần lớn nằm trong tay các DNNN (hơn 40%), các
dự án đầu t và hợp tác với nớc ngoài chiếm phần lớn số vốn đổ vào trong n-
ớc. Nh thế DNNN chẳng những có vai trò nòng cốt của nền kinh tế mà còn
giữ vai trò là lực lợng chủ yếu tham gia cạnh tranh quốc tế hiện nay . Tuy
nhiên DNNN còn nhiều hạn ché trong việc thích ứng với hội nhập thị trờng
Quốc tế. Nhiều DNNN bị lỗ, số nợ lớn, tồn đọng từ nhiều năm. Cơ cấu
ngành và sản phẩm còn dàn trải, cha tập trung vào ngành then chốt. Cha tạo
sự đổi mới mạnh mẽ trong tổ chức quản lý, phân công và hiệp tác theo cả
chiều dọc và chiều ngang. Một số cán bộ quản lý doanh nghiệp yếu kém
chuyên môn, thoái hoá, biến chất. Phần lớn các DNNN cha nhận thức đầy
đủ về yêu cầu cấp bách của hội nhập thị trờng, còn thờ ơ chờ đợi sự bảo bảo
trợ của Nhà nớc. Tình hình chung của DNNN ở Việt Nam là thế, vậy thì các
ngân hàng Việt Nam hiện nay ra sao ?
Hệ thống này đã trải qua một quá trình phát triển, bao gồm nhiều loại
quốc, IMF, WB. Sự tham gia này cho phép Việt Nam đợc sự giúp đỡ trong
nhiều lĩnh vực, đồng thời cũng giúp cho tổ chức này phát triển. Hơn 10 năm
đổi mới là quãng thời gian cha dài nhng đó là khoảng thời gian cho những
bài học kinh nghiệm.
Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển đã và đang là chủ đề chính của
thời đại ngày nay. Xu thế này giúp cho Việt Nam hội nhập, hợp tác và cạnh
tranh nhau để cùng tồn tại. Những khó khăn cũng là thách thức khá lớn đối
với quá trình hội nhập này. Biểu hiện dễ thấy đầu tiên là trình độ phát triển
kinh tế so với quốc tế còn lạc hậu. Có tới trên 70% lao động làm việc trong
nông nghiệp vì thế nớc ta thờng xếp thứ hạng cao về xuất khẩu gạo. Nhng
xét đến cùng thì gạo không phải là sản phẩm mang giá trị cao, bởi nó chỉ
phục vụ cho nhu cầu tự nhiên của con ngời.
Hệ thống thiết bị kỹ thuật ở hầu hết các doanh nghiệp lạc hậu so với
mức trung bình của thế giới hiện nay từ 2-3 thế hệ, rồi cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu không có tính cạnh tranh cao. Nền kinh tế thị trờng đã phát triển
trên toàn cầu trong khi chúng ta mới chuyển sang kinh tế thị trờng. Hy vọng
bắt kịp các nớc phát triển về trình độ, vốn không thể ngày một ngày hai
đợc. Các luật chơi chúng ta cha thông thạo, cán bộ quản lý yếu kém làm
ảnh hởng đến tiến trình chung. Kế đó là bộ máy Nhà nớc quá cồng kềnh,
thừa công chức mà không hiệu quả : nạn tham nhũng gây thất thu cho ngân
sách nhà nớc. Hệ thống luật lệ còn phức tạp, cha thống nhất và phù hợp với
thế giới : Quy định về thuế quan và phi thuế quan còn phức tạp, hay sửa đổi
bổ sung gây chán nản cho đối tác. Chiến lợc về hội nhập còn chậm, đôi lúc
lại do dự. Sự nhất trí toàn dân cha thực sự đáp ứng đợc yêu cầu hội nhập vì
có nhiều ngời cho rằng hội nhập gây ra ngoại hoá đất nớc, các tệ nạn xã
hội (đua xe, ma tuý, cờ bạc.thực sự phổ biến gây mất trật tự an ninh đất n-
ớc. Do đó nếu đẩy mạnh hội nhập mà không có cơ chế chính sách đi kèm
thì hội nhập cha hẳn đã hiệu quả và thành công.
Vì vậy cần phải quán triệt một số điểm chủ yếu khi đẩy mạnh quá
trình hội nhập :
Giải pháp một : Nhà nớc đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện
hội nhập quốc tế có hiệu quả. Một mặt, Nhà nớc cần hoàn chỉnh hệ thống
các công cụ quản lý vĩ mô, tạo môi trờng thuận lợi nhất cho hoạt động kinh
doanh và đầu t của tất cả các doanh nghiệp cá nhân, mặt khác thực hiện
quản lý Nhà nớc đối với hoạt động kinh doanh và đầu t trong khuôn khổ
một hệ thống pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trờng.
Giải pháp hai : Tạo lập đồng bộ nèn kinh tế thị trờng trong nớc,
khuyến khích cạnh tranh, chống độc quyền, gắn bó hữu cơ hội nhập quốc tế
với chiến lợc kinh tế xã hội của đất nớc, tạo ra các đột phá chiến lợc. Tổ
chức công tác nghiên cứu khoa học và hệ thống thông tin về thị trờng thế
giới, hình thành cơ cấu tổ chức hợp lý về kinh tế đối ngoại, chuẩn bị nguồn
nhân lực cho tơng lai.
Giải pháp ba : Nh đã nói ở trên về nguồn nhân lực đất nớc, đó là nhân
tố quyết định sự phát triển bền vững đất nớc. Cần có giải pháp thích hợp với
hệ thống giáo dục đào tạo : Giáo dục để hình thành một đội ngũ công chức,
cán bộ khoa học kỹ thuật có đủ bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn,
đội ngũ công nhân lành nghề đáp ứng đợc nhu cầu về lao động của công
cuộc cải cách đất nớc trong xu thế toàn cầu hoá.
Giải pháp thứ t có thể là : Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và
khả năng phản ứng nhanh. Đây là vấn đề có tính nhạy cảm và trình độ quản
lý của các cán bộ chuyên trách. Một trung tâm nghiên cứu khoa học chất l-
ợng có thể là cầu nối cho các ngành khoa học khác nhau. Cần hợp tác quốc
tế trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học : Toán học, vật lý, sinh học
bởi đó là cơ sở cho một nền kinh tế vững chắc. Ngày nay khi thế giới đã
phát triển mạnh mẽ các ngành khoa học : nhân bản vô tính (sinh học), công
nghệ vật liệu mới (vật lý)Hơn nữa sự phản ứng nhanh với thông tin thị tr-
ờng là một bằng chứng về trình độ khoa học của quốc gia đó. Thông tin kịp
thời giúp nhà quản lý hoạch định chính xác đờng lối phát triển đất nớc,
tránh gây tổn thất kinh tế do thiếu thông tin gây ra. Trong kinh tế thì quy
luật cung cầu là một trong những quy luật quan trọng vì thế thông tin nhạy
2. Tạp chí kinh tế thế giới số 2
3. Tạp chí cộng sản số 22
4. Xu thế TCH kinh tế và vấn đề hội nhập quốc tế của các nớc đang
phát triển
GS.TS. Đỗ Thế Tùng
5. Hội nhập kinh tế với thế giới :
Vân đề và giải pháp
Nguyễn Mại
6. Thực tiễn vĩ đại, kinh nghiệm thành công
Nhìn lại và tổng kết công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc
GS.TS. Lý Thiết ánh
7. Toàn cầu hoá và những tác động
Phạm Thị Tuý
8. Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam tr-
ớc xu thế hội nhập quốc tế
TS. Đào Minh Phúc Ngân hàng TW
9. Văn kiện đại hội
10. Các tài liệu khác
Mục lục
A - Phần mở bài 1
I. Tình hình Việt Nam nói chung và nền kinh tế nói riêng 1
II.Tình hình thế giới 1
B - Phần thân bài 3
I. Một số vấn đề lý luận về hộinhập kinh tế quốc tế 3
1. Nói đến kinh tế quốc tế phải đề cập đến vấn đề toàn cầu hoá. Vậy
toàn cầu hoá là gì ? Nó có phải là quá trình tất yếu khách quan
không ? 3
2. Chúng ta thử đi sâu phân tích cơ sở khách quan của xu thế toàn cầu
hoá 6
3. Xét vai trò của các chủ thể trong xu hớng toàn cầu hoá, ta thấy có